ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

suc_vat_thich_quang_do_tay_sai_an_cut_suc_vat_ho_chi_minh

suc_vat_thich_quang_do_tay_sai_an_cut_suc_vat_ho_chi_minh

Những Bài Học Đã Bị Chìm Vào Trong Quên Lãng (Bài 2) Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Để tiếp theo một bài trước mà tôi đã viết, nếu người xưa đã nói: “Không bài học nào giống bài học nào”; thì hôm nay, có lẽ người Việt chúng ta đều đã thấy: Không có bài học xương máu nào, bằng những bài học kể từ sau ngày 20-7-1954, cho đến ngày 30-4-1975. Đó là, bài học “nuôi ong tay áo” hay rước giặc vào nhà.

Tôi cũng xin thưa: Sở dĩ tôi viết thêm bài viết thứ hai, là bởi tôi đã đọc được bài viết tiếp theo: Nghị quyết 36 thắng lớn của nhà văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất. Tôi xin phép để được trích đoạn như sau:

“Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn phản tướng giết chết, đất nước không còn lãnh đạo. Các lãnh tụ đảng phái, những người chống đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm có cơ hội cầm cờ trong tay nhưng đã đều không biết phất. Sự thể chứng minh họ rất dở về chính trị nhưng lại muốn làm lớn. Kết quả là họ mất niềm tin của quần chúng. Khi đã hết tin vào các lãnh tụ chính trị, người dân đi tìm sự lãnh đạo ở tôn giáo. Tìm được rồi, họ biến lãnh đạo tôn giáo thành thần tượng, và chính xác hơn là taboo, ai dám đụng đến sẽ bị chụp ngay cái nón cối lên đầu …”

“ Hòa thượng Thích quảng Độ chống bọn lãnh đạo Hà Nội, thì rõ ràng rồi, nhưng nói rằng ngài chống cộng sản thì cần phải xét lại. Bởi vì, nếu HT Thích Quảng Độ chống cộng thiệt thì ngài đã không yêu cầu VGCS triệu tập và chủ sự một hội nghị gồm cả những người tỵ nạn lẫn VGCS. Đây là một hình thức Hòa hợp hòa giải với việt-gian cộng-sản”.

Nhắc lại những bài học đau thương của những ngày xưa cũ, vào đầu thập niên 1960, thì trước hết, chúng ta phải nhớ về sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức, đã bị quyết định phải bức tử, trong một cuộc họp tại chùa Già Lam, gồm có: Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Đức Nhuận, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Trí Thủ, Thích Thiện Hoa, Thích Hộ Giác,Thích Thiện Minh,Thích Thanh Từ và mấy tên sư nữa; tất cả đã chọn và ra lệnh cho những tên “đệ tử” như Trần Quang Thuận đã đích thân lái xe chở HT Thích Quảng Đức đi đốt, còn tên Nguyễn Công Hoan, từng là Dân biểu lưỡng triều, chính Nguyễn Công Hoan đã chích thuốc mê cực mạnh vào người của HT Thích Quảng Đức, và cũng chính Nguyễn Công Hoan đã giả làm một “nhà sư”, hắn đã cầm nguyên một can xăng để tưới thẳng xuống từ vai của HT Thích Quảng Đức và đã bật lửa từ chiếc zippo loại lớn, để đốt một con người đã hòan toàn hôn mê bất động, vào ngày 11- 6- 1963, (nhằm ngày 20-4 âm lịch). Thích Trí Quang và cả GHPGVNTN, đã dùng sinh mạng của HT Thích Quảng Đức làm phương tiện, để giật sập Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, cùng cái chết vô cùng đau thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nhị vị Bào đệ là Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn. Nên nhớ là Ông Ngô Đình Cẩn đã nuôi hai Con Ong Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu ở ngay trong tay áo, và cũng chính ông Ngô Đình Cẩn đã rước hai tên Giặc Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu vào trong nhà.

Và để tìm hiểu thêm về cái chết của Hòa thượng Thích Quảng Đức, tôi xin giới thiệu đến quý độc giả bằng một tiếng nói khác của một nhân chứng sống, đó là: Cựu Đại đức Thích Huệ Nhật, tức Mục sư Tin Lành Nguyễn Huệ Nhật, đang có mặt tại Đức Quốc. Ông đã viết cuốn sách: “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá”, và đã được Ông Hồ anh Nguyễn Thanh Hoàng cho đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong từ số 623, ngày 01 đến 15 tháng 01 năm 2002. Tôi xin phép được trích đoạn như sau, kính mời quý độc giả cùng theo dõi:

“Cái chết tự nguyện là gì? Những người tự thiêu cho đạo pháp:

“Tôi xin giới hạn trong phạm vi hiểu biết của cá nhân mình, và những gì tôi viết sau đây cũng là một số kinh nghiệm và nhận xét của riêng tôi, sau ba lần tưởng đã chêt nhưng nay tôi còn sống trong Ơn Cứu Rỗi của Thiên Chúa, nên xác tín hơn, rộng mở hơn.

Người tự thiêu đầu tiên đầu tiên trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống lại kỳ thị tôn giáo dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm là Hòa thượng Thích Quảng Đức. Ngài là một vị tu sĩ bán thế xuất gia, nghĩa là có vợ con trước khi đi tu. Con ruột ngài cũng là đệ tử nổi tiếng của ngài sau khi ngài hy sinh. Ngài chỉ nổi tiếng sau khi hy sinh.

Cũng như tất cả các vị thánh tăng đã nối tiếp tự thiêu cho Đạo Pháp, bản thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức không hề biết rằng kết quả tốt do sự hy sinh của ngài chỉ là nhất thời từ 1-11-1963, còn hậu quả xấu do sự hy sinh của ngài là lâu dài từ mùa hè 1966 đến nay. Vì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Phật giáo Việt Nam chỉ thắng thế nhất thời, để rồi càng bị CSVN lợi dụng sâu sắc hơn, và đưa những cuộc đấu tranh kế tiếp đến ngày 30-4-1975, cho cộng sản Việt Nam lên cướp chính quyền.

Nhìn lại quá trình, chỉ hai năm đầu sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Hội Phật Học VN đã trở thành GHPGVNTN nổi như cồn, nhưng đó là thời gian manh nha đưa GHPGVNTN đến tình trạng suy đồi và phân rẽ ngay trên đỉnh cao thế lực của họ. Năm 1966, GHPGVNTN chia rẽ thảm khốc giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Chưa bao giờ lịch sử Phật giáo Việt Nam có sự căm thù nhau, phân rẽ nhau tệ hại như thế. Vụ đem bàn thờ Phật ra đường để đấu tranh trong mùa hè 1966, là một bằng chứng suy tàn nhất của tinh thần và tổ chức Phật giáo Việt Nam. Nếu tôi kể ra những bất đồng của các vị lãnh đạo PG trong vụ Đem Phật Ra Đường, thì rất phiền. Những cuộc tranh giành đẫm máu trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự cho đến nay vẫn còn giữ kín, trừ vụ kéo sập dãy nhà do Đại đức Thích Đức Nghiệp xây lên sát lề đường Trần Quốc Toản là không thể dấu diếm được. Tôi ngẫm nghĩ Thượng tọa Thích Trí Quang chỉ là một mẹ mìn rất đắc lực của cộng sản Bắc Việt. Ông bắt cóc niềm tin của đa số Phật tử, để biến họ thành phương tiện hữu hiệu nhất cho cộng sản Bắc Việt vào xâm chiếm miền Nam, và ông đã cho cộng sản Bắc Việt vắt chanh bỏ vỏ tất cả nhân, tài, vật lực do niềm tin ấy mà có. Khi công việc bắt cóc ấy hoàn thành, mẹ mìn Thích Trí Quang ngồi im lặng rung đùi và được cộng sản Việt Nam bảo vệ kỹ, không ai dám động một sợi lông chân của ông.

Tôi tin chắc rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức đã không hình dung nổi hậu quả tang thương về sau nầy, đối với Phật giáo nói riêng, và dân tộc nói chung, qua sự hy sinh của ngài. Chính người con trai ruột của ngài, người đã trở thành một vị Thượng tọa nỗi tiếng tại ngôi chùa của ngài để lại trên đường Trương Minh Giảng, đã sống ba chìm bảy nổi mang nhiều tăm tiếng và cũng bị tù đày trong chế độ cộng sản.

Lần tự thiêu thứ nhất tại Sài Gòn là lần tôi hoàn toàn chờ đợi theo sự sắp xếp và tổ chức của Ủy Ban Liên Phái, nhưng không thực hiện được, vì tình hình sao đó.

Một người khác là thầy Lưu Bổn đệ tử của Hòa Thượng T.M.H chùa TL, Huế, cũng đã nhảy xuống giếng sâu tự tử tại chùa Phật giáo Đà Nẵng, vào mùa hè 1972, sau khi bị nghi ngờ một chuyện xấu. Mười lăm phút trước khi nhảy xuống giếng, thầy Lưu Bổn ngồi ăn trưa với tôi một cách lặng lẽ.

Một người bạn khác của tôi tên T. An, cũng đi tu ở chùa Phổ Đà tại Đà Nẵng, ông mở một trường Bồ Đề ở gần ga xe lửa Đà Nẵng, cũng đã tự thiêu vì một chuyện riêng, nhưng sau đó được dư luận báo chí cho là tự thiêu vì ý nghĩa lớn lao khác. Trong thế giới tôn giáo đã lâm lụy vào những cơ mưu chính trị thời Việt Nam Cộng Hòa, một vài trường hợp các tu sĩ tự tử bằng cách tự thiêu đã được gán cho những ý nghĩa cao cả “Ý nghĩa cao cả” ấy được áp đặt cho mục đích khác, mà người tự thiêu không đặt ra, nhưng sau cùng những người bà con của họ cũng được hưởng tiếng thơm “ Thánh Tử Đạo”. Cũng có nhiều vụ tự thiêu do ý định tự tử để giải quyết chuyện riêng, nhưng khi thực hiện, họ lại nêu lý do thiêng liêng để che đậy chuyện bậy bạ. Hoặc là người tự tử bằng cách tự thiêu xong rồi, sau đó mới được gán cho một ý nghĩa thiêng liêng. Thời đó, nhiều vụ tự thiêu đã bị lạm dụng. Người tình nguyện tự thiêu thì đông, nhưng người đáng được chấp nhận thì ít. Vì một người có đời sống không sáng sủa, nếu được chấp nhận cho tự thiêu, sẽ có nguy cơ làm mất niềm tin của nhiều người khác. Tất cả những người tình nguyện tự thiêu đều là những người không sáng giá khi còn sống. Những người sáng giá nghĩ rằng mình cần sống để làm việc có kết quả hơn.

Những người nêu trên đều quen thân với tôi, nên tôi biết một số lý do tại sao họ đã tự thiêu. Giống như những người thất tình, những thí sinh thi rớt, những đứa con giận cha mẹ, những người bị thất bại làm ăn … Họ không còn thiết sống nữa. Họ tìm đến cái chết để trốn chạy một thực tại bất đắc chí bằng cái chết tự sát”.

Trên đây, là những tiếng nói của Cựu Đại Đức Thích Huệ Nhật, đã nói về những cái chết, mà Phật giáo Ấn Quang đã phong cho cái chức “Bồ Tát” hoặc “tự thiêu để cúng dường Tam Bảo”.

Là người Phật tử, chắc ai cũng biết, chẳng có “Tam Bảo” nào lại đi nhận những cái xác chết ấy. Nhưng Phật giáo Án Quang luôn luôn “Lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên họ không từ bất kể một thủ đoạn nào, dù có tàn ác đến đâu, mà chỉ cần đạt được đến mục đích của Ấn Quang mà thôi. Và chính vì thế, mà HT Thích Quảng Đức đã bị bức tử.

Phật giáo Ấn Quang: Tàn ác – Bất nhân:

Qua những lời của cựu Đại đức Thích Huệ Nhật, thì chắc chẳng phải riêng ai, mà tất cả những người có nhân tính đều đã thấy những trò giết người để “cúng dường Tam Bảo” của GHPGVNTN ( Ấn Quang ), quả thật, là vô cùng tàn ác.

Riêng trường hợp của Hòa thượng Thích Quảng Đức, với những tài liệu mà tôi có được, thì ông đã bị bọn thầy chùa là ác quỷ lừa gạt, để rồi phải cam chịu cho bọn chúng đem ra bức tử. Nên biết, HT Thích Quảng Đức cũng có vợ và con trai ruột như bao nhiêu người khác. Như thế, mà lũ thầy chùa bất lương của Ấn Quang đã nhẫn tâm mà đem ông ra để đốt, tôi không biết lúc đó, vợ và người con trai ruột của HT Thích Quảng Đức đang ở nơi đâu, họ có thấy được hình ảnh này không? Tôi nghĩ có thể lúc đốt người thì bọn chúng đã đưa vợ và con của ông đi đến một nơi khác, để họ khỏi thấy hình ảnh người cha ruột của mình và người chồng thương yêu của họ bị đốt cháy trong ngọn “Lửa Từ Bi”!!!

Chúng ta cũng cần phải biết hành động giết người này, nếu xẩy ra tại một nước Âu- Mỹ thì chắc chắn bọn này phải chịu án tù. Nhưng tiếc rằng, vào thời đó, tại Việt Nam, đặc biệt là Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì lòng nhân từ, và vì phải đối đầu với nhiều lũ giặc, nên đã đành phải nhắm mắt làm ngơ, mà không hề động đến một sợi tóc của Phật giáo Ấn Quang. Để rồi cuối cùng chính vị Tổng Thống cùng toàn gia đã phải chịu chết dưới những bàn tay của những tên Giặc, mà do chính Vị Tổng Thống đã hết lòng thương yêu, có tên từng là “con nuôi” của Người, và cũng chính Người đã rước bọn chúng vào tận trong nhà như những tên: Dương Văn Minh, Đỗ Mậu, Nguyễn Khánh v…v…

Tôi đã nhìn hình ảnh của Vị Tổng Thống Ngô Đình Diệm nằm cong queo, hai tay bị trói chặt về phía sau, thân thể nhuộm đầy máu, gương mặt đã bị biến dạng; như thế, mà đã có một tên gian ác nào nó, mặc dù đã được che kín phần trên của cái mặt sát nhân, song tôi đã thấy cái mồm của hắn đang nhe răng cười một cách rất thỏa mãn, khi nhìn tận mắt tấm thi hài đẫm máu của vị Tổng Thống, và tôi cũng thấy hắn giống cái bản mặt của tên phản tặc Dương Văn Minh.

Ngoài tấm hình của vị Tổng Thống Ngô Đình Diệm, hôm nay, tôi lại xin đưa tấm hình của Ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn vào giây phút cuối đời, Ông đang bệnh rất nặng, nằm liệt giường tại khám Chí Hòa. Khi được một vị Linh Mục vào báo tin sẽ bị xử bắn, mặc dù người ta đã phải dìu Ông ra nơi có chôn sẵn một chiếc cột để trói ông vào trước khi xử bắn, và đến khi người ta bịt mắt, Ông đã yêu cầu không bịt mắt, mà hãy để cho Ông được nhìn thấy mọi người. Ôi! đây mới chính là tinh thần “Vô Úy”. Chẳng những vậy, mà trọn cả cuộc đời của Ông Ngô Đình Cẩn, Ông đã nêu cao một tấm gương vô cùng trong sáng, thật đúng nghĩa như cổ nhân đã dạy:

“Phú quý bất năng dâm- Bần tiện bất năng di – Uy vũ bất năng khuất”.

Xin mọi người hãy nhìn xem, tấm hình của Ông Ngô Đình Cẩn vào phút cuối của cuộc đời tại khám Chí Hòa, để còn biết đến một trong những hành vi tàn ác của bọn người đâm thuê, giết mướn.

Đây là hình ảnh Vị Linh Mục đã đến thăm Ông Ngô Đình Cẩn vào ngày 8-5-1964. Đến hôm sau, Thích Trí Quang và Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tức Ấn Quang, đã dùng những lời giao ước bịp, để áp lực buộc Nguyễn Khánh, một tên ngu đần, phải ra lệnh xử bắn Ông Ngô Đình Cẩn vào lúc 17 giờ ngày 9-5-1964, tại khám Chí Hòa. Đây là bài học rước giặc vào nhà, của Ông Ngô Đình Cẩn.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ: Đương kim Đệ ngũ Tăng thống của Giáo hội phật giáo Thống nhất, tức Ấn Quang, phải chịu trách nhiệm về tất cả những cuộc thảm sát đồng bào vô tội, kể từ sau ngày 20-7-1954 cho đến ngày 30-4-1975, do chính GHPGVNTN đã gây ra.

Căn cứ theo những lời của chính HT Thích Quảng Độ đã viết trong cuốn sách:

“Nhận Định Những Sai Lầm Tai Hại Của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đối Với Dân Tộc Và Phật Giáo Việt Nam”; mà Võ Văn Ái đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Quê Mẹ số 131& 132, tháng 1&2, năm 1995, nơi trang số 76, HT Thích Quảng Độ đã viết:

“Chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng trở nên độc tài, gia đình trị và có tính kỳ thị tôn giáo, nên ít được lòng dân. Sau khi đã tiêu diệt các giáo phái khác, như Cao Đài, Hòa Hảo, năm 1963, ông Ngô Dình Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam đã phải đứng lên chống lại để bảo vệ đạo pháp. Đến tháng 11 năm 1963, chế độ ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ”.

Còn HT Thích Đức Nhuận, nguyên Tổng thư ký Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Ấn Quang (trước 30-4-1975). Nên biết, qua Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, Thích Đức Nhuận đã được suy cử lên ngôi Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thích Đức Nhuận cũng đã có bài viết: “Bằng đôi chân của mình mời người hãy đi lên”, đã được đăng trên báo Quê Mẹ số 113, tháng 6 năm 1995, như sau:

“Năm 1963, Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, đòi tự do và bình đẳng tôn giáo và được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ. Bạo quyền mang đặc tính kỳ thị tôn giáo sụp đổ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập”.

Những lời đã trích ở trên, là của chính hai Hòa thượng đứng đầu của GHPGVNTN, đã công khai nhận trách nhiệm về cuộc đánh đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.

Kế đến, là ông Võ Văn Ái, người đã được HT Thích Quảng Độ “công cử” làm “Phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo, và là Giám đốc Văn phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” có văn thư và ấn ký rõ ràng, và Võ Văn Ái cũng đã viết hàng loạt bài trên báo Quê Mẹ để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với những lời giới thiệu như sau:

“Ông Hoành Linh Đỗ Mậu, xem loạt bài viết về ông Diệm trên báo Quê Mẹ, đã có nhã ý gởi tặng người viết tập hồi ký: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Ông có ghi những lời trân trọng, biểu lộ sự đồng tình của một người đã biết ông Diệm từ thuở còn chưa có bao nhiêu người biết đến”.

Chính những lời của cả ba người đã viết, đúng hơn là họ đã nhận trách nhiệm về những màn “ tranh đấu” có máu đổ, đầu rơi, cộng thêm với sự kiện của cuộc họp tại chùa Già Lam năm xưa, với sự hiện diện của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Đức Nhuận, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Hộ Giác, Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Minh, Thích Thanh Từ và nhiều tên sư nữa, chính trong cuộc họp này, các sư đã quyết định phải bức tử Hòa thượng Thích Quảng Đức; sau đó là việc đánh đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa, rồi đến Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ-Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, kế tiếp là Cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung, mùa hè 1966, biến nhà chùa trở thành nhà tù, để giam giữ đánh đập các vị là Quân- Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa, và cuối cùng là vào những ngày trước 30-4-1975, các sư sãi của GHPGVNTN, (Ấn Quang) đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để rước cộng quân vào các thành phố của miền Nam tự do, đồng thời cũng đã bắn giết rất nhiều người vô tội để trả thù, vì các vị này đã phản đối những cuộc bạo loạn của Phật giáo Ấn Quang trước đó.

Với những bằng chứng đã quá rõ ràng, thì không có cách nào để biện minh được cho những hành vi giết người từ những năm đầu của thập niên 1960, cho đến ngày 30-4-1975, của GHPGVNTN tức Ấn Quang. Bởi chính những lời của HT Thích Đức Nhuận và của HT Thích Quảng Độ, cả hai người đã và đang đứng đầu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã công khai nhận trách nhiệm trong việc đánh đổ nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời đã cùng nhau quyết định phải bức tử Hòa thượng Thích Quảng Đức, để làm chiếc đòn bẩy mà bật tung cả Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa; mặt khác Phật giáo Ấn Quang cũng đã dùng những lời giao ước bịp, để áp lực buộc Nguyễn Khánh phải xử bắn Ông Ngô Đình Cẩn.

Chính vì thế, mà Hòa thượng Thích Quảng Độ đương kim Đệ ngũ Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Ấn Quang, người đang kế thừa tất cả những gì của các đời Tăng thống đã để lại; thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm về tất cả những cuộc thảm sát đồng bào vô tội tại Việt Nam, mà đã do chính GHPGVNTN đã gây ra, kể từ sau ngày 20-7-1954 cho đến ngày 30-4-1975.

Tôi xin nhắc lại để mọi người cùng biết:

Vào ngày 27-6-2009. Một tòa án quân sự tại Roma đã tuyên xử tù chung thân cho các cựu quân nhân của SS, những người này từ 84 đến 90 tuổi. SS là tên gọi tắt của Schutzstaffel (đơn vị vệ binh đỏ Đức quốc xã), và theo phán quyết của tòa án, thì quốc gia Đức phải chịu trách nhiệm dân sự và được yêu cầu phải bồi thường 1.25 triệu Euros (khoảng hai triệu hai trăm ngàn Mỹ kim) cho gia đình của các nạn nhân.

Sau phiên xử Claudio, Thống đốc Tuscany đã tuyên bố:

“Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng chúng tôi không thể quên được những gì đã xảy ra”.

Còn những nạn nhân đã chết thảm khốc dưới những bàn tay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn Quang) tại Việt Nam, trong suốt thời gian kể từ sau ngày 20-7-1954 cho đến ngày 30-4-1975, thì biết đến bao giờ mới được trả lại công đạo???!!!

Nhưng HT Thích Quảng Độ đã không chịu dừng lại ở đó, mà vừa qua vào ngày 7-11-2009, thừa lệnh của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Đệ Ngũ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Ấn Quang, nên Võ Văn Ái đã cùng với “Hội chuyên gia” của đảng Việt Tân là tay sai của bọn việt-gian cộng-sản tại Đức, đã cùng nhau tổ chức ra mắt tập thơ “tù” với 400 bài thơ mà chỉ làm ở trong đầu, rồi đánh mục lục từ số 1, số 2, số 3 cho đến số 400 cũng ở trong đầu của Thích Quảng Độ.

Tôi đã nhìn thấy trên trang điện báo: vietnamexodus.org, của ông Đinh Thạch Bích, những tấm hình và tin tức về buổi ra mắt tập thơ “tù” của Thích Quảng Độ, trong đó gồm có: Võ Văn Ái, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phẩy, Tiến sĩ Hoàng Tôn Long.

Tôi vẫn nhớ cách đây tám năm, tôi đã sang Đức quốc hai lần, tôi đã gặp ông Hoàng Tôn Long và cả ông Nguyễn Văn Phẩy; ông Nguyễn Văn Phẩy, lúc đó, đang đứng đầu “Hội chuyên gia” của Mặt trận Hoàng Cơ Minh, tức băng đảng Việt Tân, tại Đức. Và tôi cũng đã gặp cả hai người trong một cuộc tranh luận rất gay gắt, mà có lẽ chính hai người này khó có thể quên được một phụ nữ yếu đuối như tôi, tôi vẫn nhớ ông Hoàng Tôn Long thì tỏ ra hòa nhã, riêng ông Nguyễn Văn phẩy, tại một phòng hội có đông người ông đã nổi nóng, vì nói tôi là đã “nặng lời” với lãnh tụ Hoàng cơ Minh của họ. Sau đó, tôi đã có bài tường thuật lại trên Văn Nghệ Tiền Phong.

Sở dĩ tôi phải nhắc lại như thế, vì tôi biết chắc ông Nguyễn Văn Phẩy lúc đó là người đứng đầu của “Hội Chuyên Gia”, và hiện nay là “Ủy viên Trung ương” của đảng Việt Tân, để cho mọi người đều biết rằng HT Thích Quảng Độ: Đệ ngũ Tăng thống GHPGVNTN (Ấn Quang) và Võ Văn Ái, người được HT Thích Quảng Độ “công cử” làm: Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, kiêm Giám đốc Phòng thông tin Phật giáo Quốc tế, cả hai người hiện đang đứng trong hàng ngũ của Mặt trận Hoàng Cơ Minh, tức băng đảng Việt Tân.

Nên biết, trên “Nội San Việt tân” số 38, tháng 7 & 8 năm 1999, nơi trang số 09, đã viết nguyên văn như sau:

“Việt Tân xác nhận tính toàn dân của cuộc cách mạng tháng 8 – 1945, và tính tự chủ của chính quyền được hình thành vào tháng 9 -1945. Hai đặc tính Cách Mạng và Dân Chủ của Đảng Việt Tân”.

Về băng đảng Việt Tân tức Mặt trận Hoàng Cơ Minh, thì trước đây, tôi có viết loạt bài: Vạch Mặt Bọn Cộng sản Gian Manh Đang Núp Bóng Người Quốc Gia Tỵ Nạn, tôi đã đưa ra những bằng chứng lừa bịp với những “trận giao tranh của Đoàn võ trang Kháng Chiến Quảng Nam- Đà Nẵng “cho đến “Kháng Chiến Sài Gòn – Cửu Long”, đã được đăng trên nhiều số báo “Kháng Chiến” và “Đài Phát thanh Kháng Chiến” cũng như những màn giết người để bịt miệng tại rừng Thái Lan và những cái chết của các vị như: Ông bà Lê Triết, Trung Tá Đỗ Trọng Nhân của Bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong, nhà báo Đạm Phong, Hoài Điệp Tử, Kỹ sư Ngô Chí Dũng, cựu Đại tá Dương Văn Tư, Bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều v…v… Hiện tất cả loạt bài này, vẫn còn lưu giữ trên trang điện báo: http://hon-viet.co.uk/. Xin quý vị hãy đọc lại để thấy được những hành vi tàn ác và lừa gạt niềm tin của đồng bào, để chớ bao giờ tin những việc làm, cũng như tất cả những lời nói băng đảng Việt Tân.

Nhà văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, cũng đã viết: “… Khi hết tin vào các lãnh tụ chính trị, người dân đi tìm sự lãnh đạo tôn giáo. Tìm được rồi, họ biến lãnh đạo tôn giáo thành thần tượng, và chính xác hơn là taboo, ai dám đụng đến sẽ bị chụp ngay cái nón cối lên đầu “.

Quả đúng như thế, vì trước đây, khi “HT” Thích Quảng Độ, mà có người đã phong là “thánh tăng”, đã phát ra “Lời kêu goị: Biểu tình tại gia – Bất tuân dân sự” vào ngày 29-3-2009; mà “HT” đã rất tinh vi khi đem trộn lẫn viên độc dược Hòa-hợp Hòa-giải với bọn việt-gian cộng-sản qua “Lời kêu gọi số 3” vào trong bản văn này, tôi xin trích lại nguyên văn:

“Yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cáp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên”.

Sau khi đọc được “Lời kêu gọi” này, tôi đã viết bài: Hòa thượng Thích Quảng Độ phát ra Lời kêu gọi “Bất Tuân Dân Sự” với dụng ý gì?! Qua bài viết này, tôi đã kết luận: Đó chính là lời kêu gọi Hòa-Hợp Hòa-Giải với đảng cộng sản Việt Nam.

Song tôi không thể ngờ được, là với những lời nói chân thật của mình lúc đó lại “ phạm phải” đến một điều taboo. Nghĩa là tôi đã dám đụng tới một điều cấm kỵ đối với “ ông thánh” Thích Quảng Độ. Để rồi sau đó, tôi đã bị cả một số người rất đông đảo, họ đã xúm nhau lên các diễn đàn, mà nói theo Nhà văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất là: “ai dám đụng đến sẽ bị chụp ngay cái nón cối trên đầu”. Chính vì thế, mà chẳng những bị chụp rất nhiều cái nón cối, mà tôi còn bị rủa sả cho tôi chết càng sớm càng tốt. Tôi cũng bị họ chụp cho cái mũ là cộng sản hồi ở Quân khu 5.

Đến cái điều này, thì tôi đã phải hỏi một ông anh kết nghĩa hồi còn trong nhà tù “cải tạo” là Quân khu 5 ở chỗ nào? Vì anh ấy là người đồng hương, anh đã xem tôi như em gái nên đã trả lời:

“Nếu ông già mầy còn sống, thì hỏi ổng chưa chắc đã biết, còn tao thì không hề biết Quân khu 5 nó ở đâu, còn mầy thì làm sao mà biết được, vì hồi đó ông già mầy chưa có cưới Mẹ của mầy. Vả lại, bọn chúng gọi mầy là cái thằng, chứ chúng đâu có biết mầy là đàn bà con gái, mà ai bảo mầy láu táu lên tiếng trước làm chi, cho chúng nó chửi, thôi lỡ rồi ráng chịu đi ”.

Nghe ông anh kết nghĩa của mình đã nói như vậy, nên tôi cứ để yên cho người ta rủa sả. Nhưng chẳng phải mọi người đều lầm tưởng tôi là một “cái thằng”, bởi vốn có một số người đã biết đến tôi là một phụ nữ, trong đó, có Võ Văn Ái. Vì vậy, Võ Văn Ái đã “lấy thịt đè người” bằng cách đưa lên các trang điện báo bằng cái “Thông Cáo Báo Chí, của Văn phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, và Cơ quan Phát ngôn của Viện Hóa Đạo GHPGVNTN”, để đánh tôi, rồi cả một số đệ tử đã dùng đến nhiều cách, rồi cũng đã buộc tôi: “phải viết một bài để chính thức xin lỗi HT Thích Quảng Độ và xin sám hối”. Nhưng tôi tự thấy, mình không hề nói hay làm một điều gì sai trái, nên cương quyết không xin lỗi, không sám hối.

Sau đó, khi đã bị khủng bố tinh thần lên đến cao độ, thì tôi bỗng không biết sợ một điều gì nữa hết, vì thế, tôi lại viết tiếp thêm mấy bài khác.

Bây giờ, đọc bài viết của Nhà Văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, thì tôi mới biết hễ nói đến “thánh tăng” là đụng chạm đến một điều taboo. Cũng may cho tôi, là tôi không phải đoán mò, vì bọn việt-gian cộng-sản chúng đã làm theo cả hai bản văn kêu gọi của HT Thích Quảng Độ: Từ “Lời kêu gọi Bất Tuân Dân Sự, cho đến “Không dùng hàng Trung quốc”.

Trở lại với bài viết “Nghị Quyết 36, thắng lớn”:

Không thắng lớn thật sao? Tôi xin thưa là có, chúng ta những con người còn chút tỉnh táo thì hãy công nhận những điều đáng buồn, và đáng trách ấy:

Trước đây, tôi đã có viết một bài: Cộng Sản, Hòa Hợp, Hòa Giải, Liên Minh, Liên Kết: Một Lũ Tội Đồ Của Dân Tộc. Bài này đã được đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, số 596, từ ngày 16 đến 30 tháng 11 năm 2000, nơi trang số 26, hôm nay tôi xin chép lại một vài đoạn như sau:

Đến bài học Hòa hợp, Hòa giải, vào trước ngày 30-4-1975, khi cộng quân tiến chiếm tỉnh nào, thì ở đó cái gọi là Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo đã thẳng tay mang súng đi lùng bắt nhiều người đem giam trong các chùa, rồi sau đó trói họ lại, dao kề cổ, súng kề lưng, áp giải họ đến các nhà tù, để giao cho Việt cộng bỏ tù hoặc xử bắn.

Bây giờ chúng lại đẻ thêm ra những tên cộng sản “phản tỉnh chống đảng” như Dương Thu Hương, Nguyễn Hộ, Bùi Tín, Vũ thư Hiên, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Văn Trấn v…v… Rồi không biết sẽ còn bao nhiêu tên nữa!

Vậy, ta hãy nghe những lời của chính lũ ấy đã viết:

“ Ý chí đấu tranh cho tự do, dân chủ, công bằng của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mãi mãi được nhân loại biểu dương và tôn vinh trong lòng tôi” (Nguyễn Thanh Giang).

“ Mỗi người đảng viên Cộng sản là một tinh hoa của dân tộc” (Bùi Tín).

“Tôi yêu chủ nghĩa Cộng sản cũng như bố tôi đã yêu, như mẹ tôi đã yêu” (Vũ Thư Hiên).

“Tôi và vợ Nguyễn Thị Xuân Quý đã gửi con gái đầu lòng mới sáu tháng tuổi cho bà con nuôi, rồi vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc và bây giờ tôi vẫn còn thiết tha với Đảng” (Bùi Minh Quốc). Vậy, hắn đã gọi những người Quốc Gia là “giặc”.

“ Hỡi những người đảng viên lương thiện của đảng cộng sản Việt Nam …” (Nguyễn Văn Trấn )

Thật đúng là cộng sản, bởi đã là đảng viên cộng sản thì làm gì có lương thiện, mà lương thiện thì không bao giờ là cộng sản.

Những dòng trên đây, là tôi đã viết vào tháng 11 năm 2000, nhưng cho đến hôm nay, thì chúng ta thấy, là đã có rất nhiều tên việt-gian cộng-sản và tay sai, chúng đã thâm nhập vào trong nhiều tổ chức của người Quốc-Gia Tỵ-Nạn. Chúng đã và đang tìm mọi cách để khống chế cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Đặc biệt, là đã có một số cơ quan truyền thông, báo chí mà đã một thời chống cộng, nhưng bây giờ, thì họ đã vì bả Lợi-Danh, hoặc đã bị sa vào những độc kế, nên đã cam tâm đi rước lũ giặc vào nhà.

Chúng ta đừng quên rằng: Ngày xưa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã rước những tên khố xanh, khố đỏ vào “căn nhà” của mình, có tên từng là “con nuôi” của Người. Cũng như Ông Ngô Đình Cẩn vì đã tin Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu, nên Ông đã từng xem những tên này là thượng khách, để rồi bọn chúng đã áp lực Nguyễn Khánh, một tên ngu đần phải hạ lệnh để xử bắn chết Ông tại khám Chí Hòa, để đổi lấy những lời giao ước bịp, trong lúc Ông Ngô Đình Cẩn bị bệnh rất nặng, đến nỗi người ta phải dìu Ông ra pháp trường để thọ án tử.

Nhà văn Duyên Lãng Hà Tiến Nhất cũng đã nhắc lại câu cách ngôn của người Pháp, thật đúng lúc:

“Hãy cho tôi biết anh giao du với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người như thế nào”.

Vậy, chúng ta hãy nhìn lại chung quanh ta, bất kể là ai, song họ thường lui tới, giao du với thành phần nào, để chúng ta sẽ sớm nhận diện ra được những tên nào là Giặc, xin chớ thờ ơ, để rồi phải rước họa vào thân, lúc đó, e rằng đã quá muộn. Và chúng ta phải có đủ can đảm để nhìn vào những sự thật, dù sự thật đó nó có như thế nào chăng nữa. Xin mọi người hãy đọc lại những lời giới thiệu của bài viết: Nghị Quyết 36, thắng lớn:

“Nếu người Việt tỵ nạn chúng ta không thừa nhận sự thật, chúng ta sẽ mất trắng về tay VGCS như chúng ta đã mất miền Nam. Chuyện này sẽ xẫy đến có lẽ chẳng bao lâu nữa. Thắng lợi Cờ Vàng lúc đó chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Bởi vì thắng lợi đó chẳng qua chỉ là những quyết định hành chánh, chứ không phải là luật của nước Mỹ. Nó chỉ có tính chính trị mà không có tính cưỡng hành, và nhất là nó không có đủ sức mạnh để ngăn nhận những đợt sóng trở cờ xô tới …”.

Chúng ta cũng đừng quên rằng: Ngày xưa Vị Tổng Thống Ngô Đình Diệm, từng được đồng minh trải thảm đỏ đón rước giữa hai hàng quân danh dự, nhưng vào trước ngày 1-11-1963, nếu “đồng minh” chỉ cần hé mở một chút lòng nhân đạo thôi, thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ, là Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã không rơi vào nanh vuốt của loài lang sói, để rồi phải bị những cực hình vô cùng ác độc, trước khi phải chịu chết một cách tức tưởi, đau thương!!! Và Ông Ngô Đình Cẩn cũng đã từng chạy vào Tòa đại sứ Mỹ để xin tỵ nạn. Nhưng thật phủ phàng thay, bởi chính Tòa Đại Sứ của đồng minh, nơi có treo một lá Cờ Vàng, và một lá cờ của Hiệp Chủng Quốc, nhưng họ đã không hề bảo vệ Ông, mà đã đem Ông nộp mạng cho những tên khố xanh, khố đỏ, để rồi Ông đã chết thảm khốc dưới những bàn tay của những tên vô lại này.

Chúng ta cũng cần phải ghi nhớ, vào những ngày trước 30-4-1975, trong lúc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ sức để chiến đấu với cộng quân, để bảo vệ miền Nam Tự Do. Lúc đó, lá Cờ Vàng của chúng ta vẫn còn treo trên các cơ quan công quyền. Nhưng “đồng minh” của chúng ta, đã làm gì? để cho kẻ thù của chúng ta đã xua quân vào cưỡng chiếm miền Nam, rồi sau đó, lá Cờ Vàng Chính Nghĩa của chúng ta đã như thế nào, thì mọi người đã thấy. Và xin hãy nhớ cho thật kỹ: Chỉ có người Việt Nam chúng ta mới yêu Quê Hương của mình. Chỉ có chúng ta mới đặt Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam lên trên hết. Còn ngoại nhân họ chỉ biết đặt Quyền và Lợi của họ lên trên hết mà thôi.

Và cuối cùng, xin mọi người trong chúng ta đừng bao giờ quên những bài học máu xương của những ngày xưa cũ. Để từ đó, chúng ta sẽ tìm ra những phương sách mới, hữu hiệu hơn, hầu chiến thắng kẻ thù chung. Chúng ta sẽ mang những lá Cờ Vàng Chính Nghĩa trở về Quê Hương, để cùng nhau dựng lại trên khắp nẽo đường Việt-Nam ngàn đời yêu dấu.

19-11-2009

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NhungBaiHocDaBiChimTrongQuenLang2.htm

November 20, 2009 Posted by | Những Bài Học Đã Bị Chìm Vào Trong Quên Lãng (Bài 2) Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, suc_vat_thich_quang_do_tay_sai_an_cut_suc_vat_ho_chi_minh | , | Leave a comment

NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(Lời nói đầu: Tiêu đề của bài viết là một câu nói khó nghe, nhưng chân thật. Nếu người Việt tỵ nạn chúng ta không thừa nhận sự thật, chúng ta lại sẽ mất trắng về tay bọn VGCS như chúng ta đã mất miền Nam . Chuyện này sẽ xẩy đến có lẽ chẳng bao lâu nữa. Thắng lợi Cờ Vàng lúc đó chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Bởi vì thắng lợi đó chẳng qua chỉ là những quyết định hành chánh, chứ không phải là luật của nước Mỹ. Nó chỉ có tính chính trị mà không có tính cưỡng hành, và nhất là nó không đủ sức mạnh để ngăn chận những đợt sóng trở cờ đón gió xô tới. Vụ đài VNHN nên coi là một tiếng chuông cảnh báo, được coi là cuối cùng thì tốt nhất. Sau đây chúng tôi xin đi vào bài viết.)

————————————————-

Bà Bút Vàng ngôn: tên Nguyễn Phương Hùng nói xấu giáo sư Vinh: ergo hắn là cộng sản. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh phán: Tôi không nói anh (Nguyễn Phương Hùng) là CS, nhưng anh có những bài viết chứng tỏ anh là Việt gian. Còn nhà văn Chu Tất Tiến điểm mặt: Nam Nhân, Việt Thường luôn luôn đánh phá tất cả mọi người chống cộng, sure bọn này là CS. Đấy là vài ba điển hình tố cộng mà chúng tôi đọc được trên internet gần đây. Cả ba là những người có máu mặt trên báo chí, các diễn đàn, và trong cộng đồng. Những nhà chống cộng khác trong đám dân trên không chằng, dưới không rễ thì loạn trên các diễn đàn, không sao kể cho xiết. Thế nhưng, chuyện ông bà Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc, giám đốc của đài VNHN mời cán bộ tòa đại sứ VGCS tại Washington tới nhà ăn nhậu với cả đám nhân viên, bạn bè thì lại là chuyện bìn h thường, chả có con ma nào théc méc. May mà hai năm sau nhà báo Hồng Phúc mới khui ra. Giả như ông Hồng Phúc không ngứa miệng phun ra thì chuyện đã đi vào quên lãng. Các ông bà Ngô Ngọc Hùng, Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc vẫn nghiễm nhiên là các nhà chống cộng đầy thành tích. Chứ có ai rỗi hơi mà bới móc ra làm chi cho mệt xác, biết đâu còn mang họa vào thân. CS đặt tòa lãnh sự tại Houston , ai ai cũng nhoi nhoi phản đối. Các ông lãnh đạo chống cộng tại địa phương kêu gọi dân biểu tình trước một cái chợ. Đại thành công! Nghe đâu những 5 ngàn người. Biểu tình xong, ai về nhà nấy, thỏa mãn. Tự ái của đồng bào đã được vuốt ve: biểu tình những 5 ngàn người lận. Các nhà chống cộng lại ghi thêm được một thành tích hiển hách giữ làm credit để dùng cho sau này. Thằng CS vẫn cứ đặt tòa lãnh sự của chúng để tiện cấp chiếu khán cho đồng bào về nạp mãi lộ và du hí. Có sao đâu. Sự việc ồn lên một dạo, nhưng êm rồi. Lại đâu vào đấy: đường ta ta cứ đi, đường nó (VGCS) nó vẫn phăng phăng bước tới. Làm gì nhau đây! Chẳng lẽ đường lối hợp tác giai đoạn của nhà chống cộng Al. Hoàng với Việt Tân ép phê (effet) lẹ thế?

Hoạt cảnh chống cộng của chúng ta hiện nay đại khái là như vậy. Trước đây không có thế. Bây giờ thay đổi rồi. Người ta cho rằng đó là kết quả của Nghị Quyết 36 của VGCS. Ai tin cứ tin. Ai không tin thây kệ. Tự do mà! Dưới con mắt loạn thị của người viết thì quả thật nghị quyết 36 có vẻ đang thắng lớn. Nó thắng thế nào, thắng làm sao, và tại sao thắng, đó là những vấn đề chúng tôi muốn đem bàn đến ở đây.

Vài nét về Nghị Quyết 36

Phần lớn chúng ta có lẽ chỉ nghe nói Nghị Quyết 36 nhưng chưa thấy cái đồ quỉ này nó mặt ngang mũi dọc ra sao. Vâng, chính xác cái văn kiện này được gọi là Nghị Quyết 36/NQ-TW (Xin vắn tắt là NQ36) được Bộ CT đảng VGCS ban hành ngày 26-3-2004. Trước khi có NQ36, VGCS đã thử thời vận nhiều cách để nhử mồi người tỵ nạn ở nước ngoài. Nhiều tên trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma CS như BS Bùi Kiện Tín ở Pháp, TS Phó Bá Long ở Canada (?) v.v. đã ra công khuyển mã giúp cho bọn VGCS, nhưng đều mang thất bại. Năm 1993, VGCS đã thử mở ra một cái gọi là Đại Hội Việt Kiều, Phó Bá Long xun xoe về tham dự có gởi kiến nghị xin VGCS bỏ chiếu khán cho Việt kiều về thăm nhà, dễ dãi việc mua nhà đất, và nhất là Long còn đề nghị VGCS ban lệnh đại xá cho tất cả mọi người bỏ nước ra đi tỵ nạn CS. Tội vạ gì mà đại xá đây, GS Long?

Cha đẻ của NQ36 là Phan Diễn. Phan Diễn đứng hàng thứ 15 trong Bộ CT đảng CS, bí thư thành ủy Đà Nẵng, một tên tham nhũng có hạng. Diễn là con Phan Thanh, cháu nội Phan Khôi. Cụ Phan Khôi là một nhà văn hóa lớn chủ trương Nhân Văn Giai Phẩm chống đảng nên bị thanh trừng và bị cô lập cho đến chết. Nếu Trường Chinh đấu tố bố mẹ đẻ ra hắn không làm chúng ta ngạc nhiên, thì chúng ta cũng chẳng nên lấy làm lạ chuyện Phan Diễn hoàn toàn vô cảm đối với việc người ông của hắn bị bạc đãi và bị đầy ải cho đến khi xuống lỗ. Đó là kết quả trăm năm trồng người của tên cáo già Hồ Chí Minh. Phan Diễn không những đã dửng dưng trước việc đảng đầy đọa ông nội hắn mà còn cúc cung tận tụy phục vụ CS bằng cách cuối đời đẻ ra cái NQ36 bất nhân mà chúng tôi đang nói đây.

NQ36 gồm có 4 phần. Phần cuối cùng phân công các cơ quan có trách nhiệm thi hành nghị quyết. Các phần 1 và 2 dành tâng bốc, vuốt ve, khuyến dụ, và hứa hẹn đủ điều với cộng đồng người tỵ nạn. Qua nghị quyết, VGCS công nhận người tỵ nạn, mà chúng đổi danh xưng gọi là người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, thành công về nhiều mặt, có tiềm lực kinh tế lớn, có tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương. Chúng xác nhận có một số đã trở về đầu hàng VGCS và đóng góp cho chúng. Nhưng đồng thời chúng cũng không quên cảnh cáo rằng nhiều người vẫn còn ra sức chống phá CS. Tuy thế chúng lại nói đảng và Nhà nước luôn luôn coi cộng đồng người tỵ nạn là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, nên cần phải được săn sóc và giúp đỡ, nhất là trong các lãnh vực phát thanh, truyền hình và các nhu cầu về văn hóa. Chúng kêu gọi xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp tạo ra, xây dựng tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Chúng hứa hẹn nhà nước sẽ thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng ngưới tỵ nạn theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế. Chúng khuyến khích người tỵ nạn mau chóng hội nhập để làm ăn, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa bà con sinh sống với trong nước, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người, góp phần xây dựng quê hương đất nước, đặc biệt nhấn mạnh là chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung cuả dân tộc, nghĩa đúng của lối nói này là chống lại VGCS.

Phần 3 mới là chủ yếu của nghị quyết, gồm có các điểm sau đây:

1. VGCS sẽ tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích của người tỵ nạn, giải quyết các yêu cầu của người tỵ nạn liên quan đến vấn đề quốc tịch. Hứa tạo điều kiện để đồng bào tỵ nạn về thăm quê hương, thân nhân. Cụ thể hóa và hoàn thiện các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người tỵ nạn, thông thoáng và đơn giản hóa các thủ tục. Giải quyết nhanh chóng thủ tục cho người tỵ nạn hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước. Tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi … liên quan đến người tỵ nạn. Dành cho người tỵ nạn giá dịch vụ như công dân trong nước.

2. Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức hải ngoại vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ đối với chuyên gia, trí thức hải ngoại có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật trong nước. Mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức hải ngoại tham gia các công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

3. Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người tỵ nạn hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người tỵ nạn làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng phong trào tiêu thụ hàng hóa của VN.

4. Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích khuyến khích những hoạt động hướng về quê hương của người tỵ nạn, nhất là của thế hệ trẻ. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người tỵ nạn, kể cả với những người mà VGCS coi là còn có định kiến, mặc cảm với chúng.

5. Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người tỵ nạn, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho người tỵ nạn, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên tỵ nạn. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ tỵ nạn về nước biểu diễn và tham gia các đoàn VN đi biểu diễn quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn, tức là về phục vụ cho VGCS.

6. Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền để bịt mắt người tỵ nạn về tình hình đất nước và chính sách của đảng CS. Đầu tư cho các chương trình dành cho người tỵ nạn của các đài phát thanh, truyền hình và Internet. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ người tỵ nạn. Hỗ trợ tiền bạc để vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra hải ngoại để phục vụ cộng đồng tỵ nạn.

7. Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người tỵ nạn có công đối với CS. Đồng thời có biện pháp đấu tranh phù hợp (tức là tiêu diệt) với những người có biểu hiện cố tình đi ngược lại với VGCS.

8. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người tỵ nạn. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người tỵ nạn là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Chủ động tăng cường tiếp xúc, vận động, truyền bá và phổ biến chủ trương, chính sách của đảng VGCS.

9. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người tỵ nạn tại cơ quan đại diện ngoại giao của VGCS ở những nơi có đông người tỵ nạn sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người tỵ nạn cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người tỵ nạn. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

Xét về mặt thực hành, các chính sách nêu trên có tác dụng hai mặt. Một là nó tạo ra con đường cho CS xâm nhập và trà trộn vào cộng đồng hầu lũng đoạn, chinh phục, và nhuộm đỏ khối người tỵ nạn chúng ta. Và hai là nó cung cấp cho người tỵ nạn một thứ vũ khí rất lợi hại để chúng ta tự đánh đấm, chém giết nhau không cần đến bàn tay của bọn VGCS. Tác dụng gây lũng đoạn này báo chí quen gọi là “chụp mũ” hay là “đội nón cối”. Sống trong một cộng đồng chống cộng mạnh, kẻ bị đội nón cối rất khó được tín cẩn. Hậu quả thê thảm của việc đội nón cối lên đầu nhau là người ta coi nhau là kẻ thù cần phải tiêu diệt còn hơn là CS. Rất nhiều người nhân danh chống cộng để đội nón cối lên đầu người khác, mặc dầu thời đại này đối với VGCS, dép râu, nón cối là thứ trang bị cá nhân cho các cán bộ CS đã hoàn toàn lỗi thời rồi. Có thể nói đa số những người tố cáo và chụp mũ kẻ khác đều mang tinh thần phe phái và định kiến: kẻ không theo chúng tôi và hành động khác chúng tôi tất nhiên là CS. Hà mỗ này cũng đã từng là nạn nhân của việc bị úp chụp cái nón cối lên đầu, nên bây giờ cứ như con chim bị ná vậy. Ngay cái tựa đề của bài viết này chưa biết chừng cũng có thể có kẻ vin vào đó la toáng lên rằng chúng tôi ca tụng CS hoặc làm lợi cho CS. Nhưng bất chấp, chúng tôi viết trong tinh thần tự kiểm để biết mình, biết người. Thế thôi. Chúng tôi không viết theo lối xảo ngôn của một số nhà chống cộng hiện nay để lừa bịp và ru ngủ quần chúng. Có kẻ viết rằng CS đang dẫy chết. Người khác lại bảo Hànội đang hoảng lên vì đảng đang tan rã. Chừng nào thì VGCS mới dẫy chết? Nó dẫy chết nhưng nó đang sắp nuốt sống cộng đồng tỵ nạn rồi đấy. Mở banh mắt ra mà nhìn. Nó tan rã ư? Một năm có được mấy đứa phải trả thẻ đảng vì bị đào thải, so với hàng ngàn hàng vạn đứa khác đạp lên nhau để mong được vào đảng. Đó là sự thực. Hãy lương thiện với đồng bào. Hãy nói lên sự thật cho đồng bào nghe. Đừng phỉnh gạt, dấu giếm, lừa bịp, tội nghiệp đồng bào. Với một cái nhìn lương thiện thì NQ36 đang thành công lớn cả về hậu quả xâm nhập lẫn tác dụng gây phân hóa trong cộng đồng.

Hậu quả của xâm nhập

Có ai trong chúng ta còn nghi ngờ việc VGCS len lỏi xâm nhập vào hàng ngũ người tỵ nạn không? Chắc chắn là không, mặc dầu chúng ta chưa bao giờ bắt được tại trận một tên VGCS nào hết. Nhưng chúng ta tin và điều tin tưởng của chúng ta là thật, chỉ đơn giản dựa trên sự thật lịch sử là ngày xưa chúng ta có cả một chế độ vững chắc, một quân đội hùng mạnh, cùng với nhiều cơ quan an ninh dầy đặc mà còn có những tên VGCS trà trộn vào ở hẳn trong dinh Độc Lập được, thì bây giờ trong một cộng đồng phân hóa như hiện nay, VGCS đi vào sống giữa chúng ta là chuyện quá dễ dàng. Chúng có thể là du học sinh, là cán bộ đi tu nghiệp, là thương gia đi khảo sát thị trường, là người di tản buồn, là thuyền nhân, là diện ODP, diện con lai, diện bảo lãnh, thậm chí cả diện HO (lao) nữa. Nói tắt một câu, cán bộ CS len lỏi vào sống trong cộng đồng là điều không còn gì phải thắc mắc. Chúng ta không căn cứ vào đâu được để xác định tên A, tên B là VGCS. Nhưng nhìn vào một số lãnh vực sinh hoạt hàng ngày trong cộng đồng thì thấy rõ là có VGCS hiện diện giữa chúng ta thật, và ảnh hưởng của chúng đang mỗi ngày mỗi lớn dần. Sau đây chúng tôi xin nêu lên một số hiện tượng trong các lãnh vực sinh hoạt trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta để mọi người thấy rằng VGCS đã xâm nhập vào trong cộng đồng đến mức nào rồi.

1. Làm ăn thương mại

Trước kia không người tỵ nạn nào dám hở miệng nói ra là họ có dính líu làm ăn buôn bán với CS. Nhưng bây giờ, nhiều con buôn tỵ nạn công khai giao dịch với cán bộ CS không cần giấu diếm. Chúng ngang nhiên đến dự tiệc chiêu đãi của Nguyễn Minh Triết, của Nguyễn Tấn Dũng. Chúng mời cán bộ CS về nhà ăn nhậu mà chẳng thèm sợ ai đàm tiếu. Còn hơn thế nữa, bọn cán bộ trong nước dám công khai tạo mãi các khu thương mại trên đất Mỹ ngay tại khu vực đông người tỵ nạn để chúng ta làm giầu cho chúng. Chẳng còn ai nghi ngờ về chuyện bọn mafia CS mua những cơ sở thương mại và dịch vụ tại hải ngoại để kinh doanh, hoặc do con cái của chúng đang ở ngoại quốc đứng tên, hoặc do người tỵ nạn là bà con đứng tên dùm. Có trường hợp được được nhận diện, nhưng nhiều trường hợp khác còn được giấu kín. Người tỵ nạn đem tiền về VN tiêu xài hay gởi tiền về trong nước dưới nhiều hình thức. Tiền này chui vào túi các cán bộ CS. Đồng tiền đó lại được bọn tư bản đỏ đem ra nước ngoài kinh doanh buôn bán. Đây là một chuyến đi khứ hồi của đồng dollar Mỹ. Thử hỏi xem có ai trong chúng ta coi đó là một thách đố không? VGCS kêu gọi người tỵ nạn đem tiền về đầu tư, nhưng chính chúng lại đi đầu tư ở ngước ngoài. Sự thể cho thấy là một mặt bọn VGCS không còn tin tưởng vào tương lai của chế độ, nhưng mặt khác chúng đạt được thành công trong việc biến khối người tỵ nạn thành những kẻ làm giầu cho chúng. Người tỵ nạn tự nhiên trở thành những con bò cho bọn mafia CS vắt sữa ngay trong những cái chuồng mà đồng bào tạo dựng nên. Lợi nhuận do việc đầu tư này VGCS dùng để tài trợ cho các hoạt động đánh phá người tỵ nạn, một phần chúng nuôi bọn chống cộng cò mồi ở hải ngoại. Mối nhục lớn cho cộng đồng là các nhà chống cộng của chúng ta cứ mỗi khi hoạt động lại phải ngửa tay xin tiền từ các tên VGCS hoặc những kẻ làm ăn với chúng. Nếu bỏ chút ít tiền bạc ra mướn lũ cò mồi chống cộng cho vui thì tại sao chúng không làm. Chúng có thiệt hại gì đâu. Cuộc đấu tranh chống cộng vì có lũ cò mồi đã trở thành trò hề lố bịch. Lãnh tiền của CS để chống cộng. Tiếu lâm thật, nhưng lại là thực tại muôn thuở.

2. Văn hóa, văn học

Sách báo tuyên truyền của VGCS bầy công khai trong các tiệm sách, thư viện, những nơi có đông người tỵ nạn. Các cuộc trao đổi giáo sư, sinh viên diễn ra hầu như thường xuyên giữa các đại học trong và ngoài nước. Con em người tỵ nạn về trong nước học hỏi được cái gì từ đỉnh cao trí tuệ VGCS? Hiện tượng giao lưu văn hóa qua cái gọi là hội thảo chuyên đề của các nhà trí thức trong và ngoài nước cũng đã thấy lai rai xẩy ra. Điều đáng ngạc nhiên là các nhà trí thức tại hải ngoại lại không hề nghĩ là mình đang tự chui vào cái tròng hoà hợp hòa giải của VGCS. Bằng cấp cao nhưng trí đoản của bọn school smart (mọt sách) là như thế. Thực tế đang diễn ra, đám khoa bảng thường lại là những kẻ có tinh thần chủ bại và đầu hàng trước nhất. Người bình dân về VN thăm nhà nhưng tinh thần chống cộng vẫn quyết liệt. Trái lại bọn trí thức sẵn sàng HHHG với VGCS dưới các chiêu bài mầu mè. Ai là người chịu trách nhiệm để cho các loại văn hóa phẩm và tài liệu tuyên truyền xâm nhập. Người bình dân bận làm ăn rất ít đọc sách. Tuổi trẻ trình độ Việt ngữ đủ đâu vào đâu mà đọc tiếng Việt. Vậy thì ai vào đây, ai thích đọc và ai cần đọc sách của CS?

3. Tổ chức, đoàn thể

Cán bộ CS xâm nhập để lũng đoạn, làm ung thối, và phân hóa các đoàn thể, tổ chức của người quốc gia là chuyện xưa như trái đất rồi. Trước năm 1975, CS len lỏi trà trộn vào quân đội, cảnh sát, đảng phái, báo chí, cả đến các tôn giáo bằng đủ mọi hình thức. Ngày nay cũng sách đó thôi. Không đoàn thể nào, tổ chức nào, cộng đồng nào không bị chia năm sẻ bẩy do CS và tay sai xâm nhập phá hoại. Lạ lùng thay, nhóm nào cũng có người theo, người ủng hộ. Rõ ràng là đồng bào không có khả năng phân biệt được ai là CS, ai quốc gia, ai chống cộng thiệt, ai chống cộng cuội, mà chỉ a dua theo cảm tính. Ai là kẻ đứng sau lưng để phá nát các cộng đồng, đoàn thể? Không ai cả, mà chỉ toàn thấy rặt là những nhà chống cộng rất hăng say và to tiếng. Nếu cứ tính công sức những nhà chống cộng này đổ ra cho công cuộc chống cộng thì chắc chắn bọn CS nằm vùng đã không còn đất sống, thậm chí cái chế độ của chúng ở trong nước cũng đã bị tiêu ma lâu rồi. Nhưng kết quả ngược lại, CS càng ngày càng xâm nhập sâu hơn vào các cộng đồng đủ mọi ngành nghề, mọi sinh hoạt, và càng ngày chúng càng tung hoành trắng trợn hơn, mọi người đều thấy nhưng không làm gì được, bởi vì có nhiều người theo chúng. Người nặng đầu óc mê tín thì cho rằng NQ36 là một thứ bùa ngải rất linh. Nó có sức trấn áp mọi phương pháp chống lại nó. Nhưng người không tin vào bùa ngải quyết đoán rằng không có bùa ngải gì cả, chẳng qua là tại bọn VGCS học mót cái bí quyết quốc truyền của tổ phụ Washington của nước Mỹ thôi. Bí quyết này đã được chứng minh là cực kỳ hiệu nghiệm. Nó có thể đạp đổ những thần tượng cao ngạo nhất. Nó ngồi một chỗ mà với tay ra tận ngàn dặm giết chết lãnh tụ của một nước khác dễ như chơi. Nó còn có khả năng như một nhà ảo thuật đại tài, làm biến mất một quốc gia khỏi bản đồ thế giới. VGCS có tiền rừng bạc bể lại nắm được bí quyết này trong tay, hèn chi mà cộng đồng tỵ nạn không rã như vôi vữa gặp mưa.

4. Từ thiện, bác ái

Đây là mặt NQ36 xâm nhập mà người tỵ nạn khó đối phó nhất. Trước những thiên tai bão lụt và những khó khăn thiếu thốn của đồng bào trong nước, nếu chúng ta bỏ mặc thì chính chúng ta tự cảm thấy nhẫn tâm. Nhưng đã có quá nhiều kinh nghiệm cho thấy lòng bác ái của người tỵ nạn đã bị lợi dụng quá đáng. Có thể nói không có đồng tiền nào của chúng ta bỏ ra cứu giúp đồng bào nghèo trong nước mà không bị chia năm sẻ bẩy, đến được tay đồng bào thì ít, chui vào túi bọn cán bộ thì nhiều. Đấy là chưa kể gặp phải bọn lưu manh lấy công việc từ thiện như một nghề sinh sống. Tình trạng này vô tình biến nhiều người vốn có lòng hảo tâm trở thành ích kỷ, và bọn tay sai CS đội lốt làm từ thiện mặc sức lộng hành.

5. Văn nghệ và truyền thông

Phải nói tác hại lớn nhất mà NQ36 đưa đến là việc san bằng lằn ranh quốc cộng trong lãnh vực văn nghệ và truyền thông. Về văn nghệ, như chúng ta thấy hiện nay, ca sĩ trong nước hoàn toàn thoải mái khi ra hát tại hải ngoại, nếu không muốn nói là còn được nâng niu chiều chuộng rất mực nữa là khác. Đổi lại, ca sĩ hải ngoại về trình diễn trong nước cũng được đón tiếp niềm nở. Sự khác biệt ở chỗ là ca sĩ hải ngoại trở về hầu như không em nào không nói vài cầu bợ đỡ CS để lấy lòng. Hèn và đê tiện. Xướng ca vô loài, người xưa đánh giá không sai. Trong khi đó bọn con hát trong nước ra lại thường kênh kiệu lên mặt. Có đứa còn lớn lối đe dọa chôn sống cộng đồng tỵ nạn. Vô giáo dục. Cũng lại là xướng ca vô loài nữa. Một đứa hèn vì sợ bóng sợ gió, một đứa mất dậy với tâm lý đắc thắng cho thấy sự hiệu lực của tác dụng đồng hóa trong lãnh vực ca nhạc tới mức nào.

Đồng hóa là bước kế tiếp chủ yếu sau bước xâm nhập. Đồng hóa cũng có nghĩa là hòa hợp hòa giải (HHHG), nhưng nó gỡ bỏ được cái rào cản ý thức hệ của người Việt hải ngoại một cách tự nhiên và êm thấm hơn. Ban đầu người tỵ nạn còn chống các con hát từ trong nước ra, nhưng dần dần nhiều người đã không còn muốn chống vì ghiền giọng rên của bọn con hát trong nước đến nỗi không nghe nhớ chịu không nổi. Các trung tâm băng nhạc và các tay cai thầu văn nghệ biết rất rõ tâm lý đó nên đã mặc tình thao túng. Bọn này rất hăng hái vinh danh QLVNCH nhưng lại âm thầm làm công cụ của NQ36. VGCS không đứng ra làm công việc hòa hợp này mà để cho người tỵ nạn tự làm lấy qua trung gian các trung tâm băng nhạc và bọn cai thầu văn nghệ. Chính sách dùng người của địch để thôn tính và cai trị địch đã có từ thời Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc của Thục An Dương Vương, được gọi là “Dĩ di công di”. Hiện nay bọn Tầu cộng cũng áp dụng chính sách Dĩ di công di để xâm lăng nước ta.

Chính sách Dĩ di công di càng trở nên hiệu nghiệm khi VGCS dùng văn nghệ tỵ nạn, nói chung là nền ca nhạc thời chinh chiến để hội nhập người tỵ nạn với CS một cách rất tài tình mà ít người nhìn ra. Thật vậy, cuộc chiến đấu tự vệ của nhân dân miền Nam sở dĩ còn được lưu hương cho đến ngày nay ngoài việc nó có chính nghĩa, mà còn đặc biệt nhờ tính chất vừa bi hùng vừa lãng mạn của nó nữa. Nói chiến tranh mà lãng mạn thì có lẽ là nghịch lý. Nhưng đúng chứ không sai. Bóng dáng người lính chiến đậm nét phong sương nhưng kiêu hùng đã một thời là mơ ước của các cô gái miền Nam . Người lính chiến trở thành một thứ thần tượng trong trái tim của phần lớn thiếu nữ trẻ. Thật vậy, không có gì đẹp bằng hình ảnh một chàng trai lãng tử vừa ôm súng gác vừa làm thơ, giết địch xong là ngồi xuống viết thư tình, trong giao thông hào vẫn kể chuyện tình sử cho nhau nghe, về đến doanh trại là ba chân bốn cẳng dọt đi thăm người yêu … Trên thế gian này không có thứ lính tráng nào kiêu hùng và lãng mạn đến như thế. Và tất nhiên cũng không có cuộc chiến nào tàn khốc nhưng lại đẹp và nên thơ như thế. Nét đẹp đó chỉ tìm thấy trong cuộc chiến đấu chống CS xâm lược của nhân dân miền Nam được diễn tả qua hàng ngàn ca khúc rất mê hoặc. Những giá trị văn học nghệ thuật này đã trở thành bất tử, và sẽ còn tồn tại và lưu truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời nọ qua đời kia, thời gian chắc chắn không thể nào bôi xóa được. VGCS biết rất rõ điều đó. Chúng muốn xóa đi nhưng không xóa nổi nên đành phải thả lỏng cái thứ văn nghệ “phản động” này với ý đồ tương kế tựu kế để chinh phục người tỵ nạn. Đó là lý do tại sao có chuyện ca sĩ vẹm cũng hát nhạc lính trên những sân khấu hải ngoại, chỉ trừ những ca khúc mang tính chiến đấu cao và quá rõ rệt. Ngày nay, những ca khúc thời chinh chiến bị trộn lẫn với loại nhạc “mì ăn liền” đang thịnh hành tại hải ngoại và được biết trong nước cũng thế. Nó vừa trở thành cái cần câu cơm cho bọn con buôn văn nghệ (và cả cho lũ VGCS nữa), đồng thời còn là phương sách rất tự nhiên và hữu hiệu để đồng hóa người tỵ nạn. Hát nhạc lính để vinh danh QLVNCH thì ai bắt bẻ và chống đối được. Nhưng điều trớ trêu là người ca sĩ mới về nước hát ca tụng CS, vừa trở ra lại hát vinh danh người lính VNCH. Người quân nhân QLVNCH cần bọn thợ hát vô luân này vinh danh sao? Điều bất nhân không thể tha thứ được là có trung tâm băng nhạc của người tỵ nạn hoặc cai thầu văn nghệ đã tự ý sửa lời của một số ca khúc để được VGCS chấp nhận cho hát.

Truyền thông cũng giống như văn nghệ. Có thể nói truyền thông cũng là lãnh vực xâm nhập thành công nhất của NQ36. Rất nhiều người cho rằng VGCS đã mua được hầu hết các cơ quan truyền thông của người Việt tỵ nạn. Cũng không sai lắm. Một số chương trình phát thanh và báo chí lấy lý do chống Tầu cộng, công khai kêu gọi người tỵ nạn hòa hợp hòa giải với VGCS. Điều lo ngại này có cơ sở dựa trên hai lý do. Thứ nhất là vì cái bụng. Thực tế là rất ít có tờ báo nào hoặc đài phát thanh nào tự trang trải được chi phí nhờ vào quảng cáo. Ở Mỹ, tiền mướn đài tính theo giá Mỹ, trong khi quảng cáo tính theo giá VN. Nhân viên, biên tập viên, xướng ngôn viên thường phải sinh sống bằng nghề khác. Nhiều người làm truyền thông không lương vì yêu nghề. Thực trạng đó bắt buộc người chủ đài phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền bằng cách khác để nuôi sống đài, và nhất là nuôi sống bản thân và gia đình. Việc họ sa vào tay bọn VGCS hay những thế lực đen tối khác là điều dễ hiểu. Người Mỹ nói đúng, kẻ nắm túi tiền, người đó điều khiển. Lý tưởng này, lý tưởng nọ đành phải gác qua một bên. Thứ hai là ỷ vào cái lá chắn tự do. Ở các nước phương Tây, nhất là tại Hoa Kỳ, tự do ngôn luận và tự do thông tin thường được coi là vô giới hạn, được luật pháp bảo vệ. Sự lạm dụng tự do quá trớn là cánh cửa lớn cho CS xâm nhập và những con buôn trong ngành truyền thông ruớc CS vào. Chúng ta thấy rất rõ nhưng đành chịu bất lực, không làm gì được.

Trên đây chỉ là một số khía cạnh trong đời sống hàng ngày của người tỵ nạn mà bọn VGCS đã thọc bàn tay vào một cách rõ rệt qua NQ36. Còn rất nhiều mặt khác chưa dám quyết đoán, nhưng đã có những dấu hiệu đáng nghi ngờ. Chắc chắn thời gian sẽ trả lời.

(còn tiếp)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_NghiQuyet36ThangLon.htm

November 15, 2009 Posted by | NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất | | Leave a comment

NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN (tiếp theo và hết) – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN (tiếp theo và hết) – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(Lời nói đầu: Tiêu đề của bài viết là một câu nói khó nghe, nhưng chân thật. Nếu người Việt tỵ nạn chúng ta không thừa nhận sự thật, chúng ta lại sẽ mất trắng về tay bọn VGCS như chúng ta đã mất miền Nam. Chuyện này sẽ xẩy đến có lẽ chẳng bao lâu nữa. Thắng lợi Cờ Vàng lúc đó chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Bởi vì thắng lợi đó chẳng qua chỉ là những quyết định hành chánh, chứ không phải là luật của nước Mỹ. Nó chỉ có tính chính trị mà không có tính cưỡng hành, và nhất là nó không đủ sức mạnh để ngăn chận những đợt sóng trở cờ đón gió xô tới. Vụ đài VNHN nên coi là một tiếng chuông cảnh báo, được coi là cuối cùng thì tốt nhất. Sau đây chúng tôi xin tiếp tục phần sau của bài viết.)

Tác dụng gây phân hóa

Điều đáng lo ngại nhất cho công cuộc chống cộng là cái nón cối, biểu tương của NQ36, đã trở thành một thứ vũ khí giết người rất nguy hiểm trong cộng đồng chúng ta. Một người nào đó không phải là CS bị đội cái nón cối lên đầu là chết bỏ mẹ rồi. Dư luận thiếu hiểu biết cứ thế mà đâm, chém, bắn, giết cách nào tùy ý. Sự thật không phủ nhận được là nạn chụp nón cối lên đầu nhau đã trở thành loạn. Tình trạng này càng ngày càng làm phân hóa cộng đồng, làm chán nản tất cả mọi người có thiện chí, và tất nhiên chỉ có VGCS được hưởng lợi. Có trường hợp kẻ bị đội nón cối là CS thiệt. Nhưng cũng chắc chắn có trường hợp sai. Sai không ít. Có người than đây là cuộc chiến phe mình đánh phe ta. Cũng có phần đúng. VGCS giống như kẻ đứng ngoài, thản nhiên. Chúng không trực tiếp nhúng tay vào mà chỉ khoanh tay đứng nhìn chúng ta đấu đá nhau như người La Mã xưa xem giác đấu tại hí trường Colosseum. Thật sự là như thế.

Tác dụng của NQ36 xem ra đã định hướng được đường lối chống cộng của không ít các thành phần trong cộng đồng tỵ nạn tại hải ngoại. Kể từ khi có NQ36, cộng đồng tỵ nạn đã hết còn thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất lập trường và đường lối. Hiệu lực của Nghị Quyết là nó biến đổi khuynh hướng chống cộng thành chống đối lẫn nhau trong cộng đồng. Về điểm này hiện thấy có 3 khuynh hướng khá rõ rệt: chống theo cảm tính, chống theo phe cánh, và chống vì cảm thấy bất lực.

1. Chống theo cảm tính

Khuynh hướng chống cộng theo cảm tính làm phát sinh ra tinh thần suy tôn lãnh tụ. Sau khi TT Ngô Đình Diệm bị bọn phản tướng giết chết, đất nước không còn lãnh đạo. Các lãnh tụ đảng phái, những người chống đối TT Diệm đã có cơ hội cầm cờ trong tay nhưng đều đã không biết phất. Sự thể chứng minh họ rất dở về chính trị nhưng lại muốn làm lớn. Kết quả là họ mất niềm tin của quần chúng. Khi đã hết tin vào các lãnh tụ chính trị, người dân đi tìm sự lãnh đạo chính trị ở tôn giáo. Tìm được rồi, họ biến lãnh đạo tôn giáo thành thần tượng, và chính xác hơn là taboo, ai dám đụng đến sẽ bị chụp ngay cái nón cối lên đầu.

Việc đi tìm minh chủ là điều tốt. Nhưng về mặt chính trị, nâng con người lên hàng thần tượng và biến thành taboo thì không nên. Một khi thần tượng chỉ là một khúc gỗ rỗng ruột thì bàn thờ hương hoa bánh trái sẽ trở thành nơi cho dán chuột đến tung hoành. Thực trạng đất nước cho thấy tôn giáo lãnh đạo chính trị đã làm đất nước khốn đốn thêm. Sự thật khách quan sờ sờ chẳng mấy ai tin mà chỉ nhắm mắt tin chết vào những gì họ cảm nhận là đúng. Dân chúng và cả bọn chính khách xôi thịt chạy theo cha, sư, không cần biết lập trường và đường lối ra sao, thí dụ như:

* HT Thích Quảng Độ – HT Thích Quảng Độ chống bọn lãnh đạo Hànội thì rõ ràng rồi, nhưng nói rằng ngài chống cộng sản thì cần phải xét lại. Bởi vì, nếu HT Quảng Độ chống CS thiệt thì ngài đã không yêu cầu VGCS triệu tập và chủ sự một hội nghị gồm cả người tỵ nạn lẫn bọn VGCS. Đây là một hình thức HHHG với VGCS. Sự thể có thể hiểu là HT Quảng Độ đã mặc nhiên thừa nhận cái cơ chế gọi là đảng và nhà nước VGCS. Như thế sao bảo là HT Quảng Độ chống cộng. Việc xưa kia cũng thế. Chế độ Cộng Hòa tại miền Nam dù thế nào cũng là bước khởi đầu tốt thực thi các quyền tự do dân chủ cho người dân VN. Nếu các Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu có phạm sai lầm thì cũng chỉ nên truất phế đi thôi, tại sao HT lại tiếp tay cho VGCS triệt hạ đi cả chế độ. HT Thích Quảng Độ đã dấn thân vào việc dẹp bỏ chế độ của miền Nam. Vậy thì thật là vô lý nếu cho rằng bây giờ ngài lại tranh đấu đòi phục sinh cho cái chế độ đó. Những việc như thế làm người ta không hiểu được mục tiêu “chống” của HT Thích Quảng Độ là gì? Ngài có thực sự chống cộng không?

* Lm Phan Văn Lợi – Lm Lợi hiện nay trở thành một chính trị gia ở trong nước nhưng chạy show ăn khách tại hải ngoại, và là thần tượng chống cộng của nhiều người. Chính vì cái hào quang sáng quá nên không ai thấy bên cạnh ông linh mục lại có hai vị đại pháp sư nổi tiếng kèm hai bên. Cả hai đều xuất thân là cháu ngoan bác Hồ. Đại pháp sư Đỗ Nam Hải được VT đặc phái tả phù cho cha Lợi. Hữu bật là đại pháp sư Trần Anh Kim, nguyên trung tá chính ủy do đảng Dân Chủ cuội của Hoàng Minh Chính đặt để. Lm Nguyễn Văn Lý dốc tâm huyết gầy dựng nên khối 8406. Nay Lm Phan Văn Lợi đặt khối vào tay hai nhà phù thủy làm thành một bộ ba lãnh đạo để vô hiệu hóa hoạt động của khối và chích thuốc trợ tử cho tổ chức đấu tranh này. Đỗ Nam Hải đẩy Nguyễn Chánh Kết qua Mỹ cho bọn VT đưa lên giàn hỏa. Trần Anh Kim ký bổ nhiệm GS Nguyễn Xuân Vinh làm đại diện Khối 8406 tại Mỹ cùng với một lô thành phần bát nháo khác. GS Vinh là người thế nào và bọn bát nháo chống cộng ra làm sao thì người ta đã biết. Thực tế cho thấy, Lm Phan Văn Lợi cho dù thần thông đến đâu cũng không địch lại pháp thuật của yêu quái.

* Thứ ba, Lm Nguyễn Hữu Lễ – Cha Lễ cũng vậy. Khi ngài ngả vào bàn tay của VT thì việc đầu tiên là ngài dùng quyền năng và uy tín của một linh mục để rửa tội cho tên cáo già Hồ Chí Minh, xóa sạch đi cái đại tội Việt gian bán nước của hắn. Tên tội đồ chỉ còn trơ lại là một con người trần tục bình thường với những đam mê của nó. Sau khi xem DVD của cha Lễ, người tỵ nạn đã tối mắt rồi, còn phải bù đầu cầy cuốc nữa nên không có thì giờ đọc những tên dân chủ cuội trong nước ca tụng Hồ. Ít khi được nghe một bản hợp xướng nhịp nhàng như thế. Cuối cùng làm nổi bật lên Hồ là người có công lớn đối với đất nước. Tội của “bác” chỉ là sự thể hiện tính tự nhiên nơi con người. Luận điệu rập khuôn như VT công bố trên báo chí: Hồ Chí Minh là người có công với đất nước và đảng CS là một thành phần của dân tộc.

2. Chống theo phe cánh

Tinh thần bè phái hình như đã trở thành đặc tính của người Việt tỵ nạn hiện nay. Kết bè để chống cộng thì hết thuốc chữa. Chẳng hạn như chuyện vợ chồng ông Dương Văn Liêm, Lưu Lệ Ngọc quan hệ với VGCS đã là một sự thật hiển nhiên, được chính đương sự xác nhận trên đài VNHN. Thế mà các ông Nguyễn Tường Thược, Nguyễn Đăng Tuấn vẫn cứ gân cổ lên bênh cho bằng được. Ông Nguyễn Đăng Tuấn lại là đương kim chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại đấy nhá. Không bè phái là gì? Sự kết bè kéo cánh của đám dân chủ cuội và bọn chống cộng bịp diễn ra khá lộ liễu.

Hiện tượng hết sức tiếu lâm mà ai cũng thấy rõ là hễ bất cứ ai đụng đến Nguyễn Chí Thiện là bà Bút Vàng nhẩy đông đổng lên bênh và chửi người ta là CS. Nhưng Nguyễn Chí Thiện là ai thì bây giờ mặt nạ của hắn đã rớt rồi. Thiện có đi diễn thuyết nhiều nơi. Đôi khi Thiện có tham gia biểu tình chống cộng. Thiện giấu đầu nhưng lại hở đuôi. Hắn lén lút theo Hoàng Minh Chính, Bùi Tín v.v. vào rừng giàn dựng ra màn kịch Tiểu Diên Hồng để HHHG với CS thì người ta đã nhìn thấy cái đuôi chồn của hắn. Chưa nói đến vụ Nguyễn Chí Thiện lý lịch bất minh, Nguyễn Chí Thiện hành động quanh co mờ ám chung quanh tập thơ Vô Đề.

Một điển hình khác về kiểu chống theo phe nhóm là trường hợp một số nhân vật vây quanh Bùi Tín tỷ như Phan Nhật Nam, Chu Tất Tiến, Trần Phong Vũ v.v.. Nhóm này bảo vệ Bùi Tín và bọn phản tỉnh cuội đỡ ồn ào hơn nhưng cũng quyết liệt lắm. Trần Phong Vũ nhất quyết rằng Bùi Tín đã hoàn toàn phản tỉnh. Thế nhưng Bùi Tín có phản tỉnh thật không thì xin xem đây. Mới ra khỏi nước Bùi Tín tuyên bố: “Tôi có vị thế của tôi, tôi có liên hệ với trong nước. Thức tỉnh trong nước là điều quan trọng. Cộng sản có những thành tích, cộng sản có những giá trị. Tôi là người cộng sản đến nay đã 45 năm. Chủ nghĩa Marx là phát minh khoa học, là một giá trị. Thuyết giá trị thặng dư của Marx là một giá trị.Duy vật biện chứng pháp là giá trị đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân loại.” (Báo Khỏe Đẹp, mục Sinh Hoạt Cộng Đồng, số 355 ngày 13-12-1991). Cho đến nay, lập trường Bùi Tín vẫn không thay đổi. Hắn vẫn từ chối chào lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ, vẫn giao du thân mật với đám dân chủ cuội như Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, Hà Sĩ Phu v.v., vẫn chẳng bao giờ tham dự các cuộc biểu tình chống cộng của người tỵ nạn. Bùi Tín phản tỉnh ở chỗ nào. Bọn chống cộng bịp ở hải ngoại không chịu hiểu rằng Bùi Tín chỉ chống những tên CS đang cầm quyền vì khác phe phái và vì tranh ăn. Bản thân Bùi Tín vẫn là một tên CS từ bản chất. Bùi Tín vẫn luôn luôn tôn thờ và bảo vệ tên tội đồ bán nước và đảng ngụy quyền tay sai của hắn.

Trong nhóm chống cộng bịp, người to tiếng là ông nhà văn Chu Tất Tiến. Ông viết cho tờ báo Người Việt. Ông tấn công CS ở tận bên VN, nhưng tên chủ báo của ông ở ngay trước mắt ông là CS thì ông lại không thấy. Ông viễn thị nặng hay là tinh thần bè phái? Chuyện ông làm dân vận bọn trẻ trong nước mới thật là lố bịch. Ông trưng dẫn lịch sử sai tùm lum. Nhà báo Nam Nhân sửa sai cho ông thì ông chụp nón cối lên đầu người ta. Ông viết Hai Bà Trưng xuất thân từ giai cấp nông dân đứng lên làm cách mạng thì bọn trẻ ở trong nước nín cười hết nổi, mà chắc nín thở luôn. Hai Bà Trưng là con gái quan Lạc Tướng ở Mê Linh, giai cấp quí tộc chứ đâu phải con nông dân. Ông Chu Tất Tiến muốn bắt chước sử gia Phạm Văn Sơn viết Hai Bà làm cách mạng. Sử gia Phạm Văn Sơn dùng chữ cách mạng theo nghĩa Hai Bà dành lại được quyền tự chủ từ chế độ Hán thuộc. Thế nhưng ông Chu Tất Tiến muốn phịa ra rằng Hai Bà là thành phần bần cố nông đứng lên làm cuộc cách mạng vô sản như “Bác Hồ” của bọn trẻ trong nước. Dân vận bọn trẻ quàng khăn đỏ như thế thì hết sẩy rồi. Sự thực Hai Bà chỉ thiết lập một nhà nước phong kiến thô sơ ở nước ta sau khi đánh đuổi quân Hán, thu phục 60 thành trì, chứ đâu phải cách mạng vô sản, hữu sản gì.

3. Chống vì cảm thấy bất lực

Phải thừa nhận một sự thật là tinh thần chống cộng của cộng đồng tỵ nạn càng ngày càng yếu đi trong khi CS càng ngày càng thắng thế mặc dầu cuộc đấu tranh diễn ra ngay tại Mỹ. Như chúng tôi đã phân tích trong phần Hậu Quả Của Xâm Nhập trên đây, trong cộng đồng, một số không nhỏ đã đầu hàng VGCS vì nhiều lý do: tiền bạc, danh vọng, cảm tình gia đình, bị bắt bí v.v. Đa số chán nản buông xuôi và trùm chăn. Chỉ còn lại một thiểu số có tâm huyết vẫn kiên trì chiến đấu nhưng cảm thấy bất lực. Chiến đấu với tình trạng tâm lý như thế thật khó giữ được bình tĩnh. Rất nhiều bài viết phê phán gay gắt những khuynh hướng ngả theo CS xuất hiện trong lúc gần đây biểu lộ khuynh hướng đó. Tác giả thường bị bọn chống cộng bịp bắt bẻ là bạ cái gì cũng chửi, bạ ai cũng chống. Thử công minh một chút xem. Hoàng Minh Chính định lùa người Việt tỵ nạn vào cái tròng HHHG qua đề nghi cái bàn tròn Tiểu Diên Hồng. Chống có đúng không? Phê bình ông Nguyễn Bá Cẩn xì xụp vái lậy trước bàn thờ tên dân chủ cuội HMC. Sai ở chỗ nào? Vậy thì vấn đề không phải ai cũng chủi, cái gì cũng chống, mà là ở chỗ chửi có đúng và chống có đúng không. Dùng từ “chửi” và từ “đánh phá” để buộc tội những bài viết trung thực đã là điều bất công. Kết tội là CS lại càng bất nhân và bất công hơn nữa. Đành rằng có văn nô hoặc bồi bút len lỏi đánh phá trên các diễn đàn đàn. Nhưng tuyệt đối không phải bài phê bình nào cũng là của CS cả. Để xác định một bài viết có do CS tung ra hay không, chỉ cần đọc nội dung của nó, phê bình đúng hay sai, có ý hướng xây dựng hay chỉ cố ý đả phá. Tiếng nói của người chính trực thường là những lời cảnh tỉnh. Mặc dù họ không phải là tiên tri, nhưng lời của họ giống như của các tiên tri Do Thái ngày xưa: thẳng thắn, mạnh bạo, và rất chói tai. Việc họ làm là cảnh giác dân chúng trước những nguy vong của đất nước.

Nếu đã nhìn nhận tình hình chống cộng và tình trạng chống nhau trong cộng đồng hiện nay đáng bi quan thì những tiếng nói phê phán trung thực nhất định là cần thiết. Thế nhưng điều hết sức bi quan là, những tên CS hoặc tay sai bị tố cáo có bằng chứng, có cơ sở thì lại không mấy người tin. Trái lại, những lời tố cáo hoặc chụp mũ nhau không dựa trên một bằng chứng nào hoặc một căn bản lý luận nào thì lại lắm người nghe theo. Lối chống cộng theo cảm tính hoặc nặng tinh thần phe phái đã trở thành khuynh hướng hành động theo định huớng đúng như CS mong muốn. Định hướng cuộc chống cộng của người tỵ nạn theo chiều hướng có lợi cho CS về lâu về dài là sách lược quan trọng của NQ36.

4. Để lật tẩy cộng sản

Để chận đứng tình trạng tai hại này, người quốc gia trước hết cần xác tín rằng có VGCS xâm nhập để cảnh giác. Vấn đề sau đó cần đặt ra là làm thế nào để có thể nhận diện chính xác được các tên VGCS và tay sai của chúng. Khó khăn của chúng ta là chẳng có tên CS nằm vùng nào mang giấy tờ tùy thân. Chúng ta cũng không có quyền hạch hỏi công chứng thư của chúng. Như vậy thì chỉ còn cách là phải căn cứ vào lập trưòng mà thẩm định. Nếu cần nữa thì phải nhờ đến túi khôn của người xưa để lại, tức là cách luận việc để biết người.

4.1 Căn cứ trên lập trường

Quốc Gia và CS là hai thực tế đối kháng lẫn nhau cả về lý thuyết lẫn hành động. Về mặt lý thuyết, xin nhấn mạnh chữ đối kháng mà không phải là đối lập. Đối kháng mang ý nghĩa phủ định và triệt tiêu lẫn nhau, trong khi đối lập chấp nhận nhau để cùng cạnh tranh sinh tồn. Lập trường của người tỵ nạn là lập trường dân tộc (quốc gia). Cộng sản là một khái niệm quốc tế, nó phủ nhận dân tộc tính nơi mỗi con người. Do đó, quốc gia và cộng sản không thể nào đứng chung và không thể nào cùng tồn tại, trái lại, luôn loại trừ nhau. Đó là khái niệm cơ bản về lằn ranh quốc gia và cộng sản.

Trong tình trạng vàng thau lẫn lộn hiện nay, căn cứ vào lập trường chính trị, tạm có thể xác định một người nào đó là ai: CS hay quốc gia, hoặc thành phần thứ ba. Thành phần nửa nạc nửa mỡ thứ ba thường tự nhận là những người đứng giữa, bao gồm những kẻ chủ trương đa nguyên đa đảng, những kẻ đấu tranh đòi bỏ điều 4 Hiến pháp, nhũng kẻ thừa nhận Hồ Chí Minh có công đối với Dân Tộc v.v. Những thành phần này không hẳn là CS nhưng chắc chắn không phải quốc gia căn cứ vào khái niệm lập trường quốc, cộng vừa nói. Trên thực tế họ đã chấp nhận đầu hàng CS rồi. Họ chỉ đấu tranh đòi chia quyền và chia tiền với CS. Chủ trương của người quốc gia là phải xóa bỏ hẳn chế độ CS, nhổ tận gốc những ảnh hưởng gian ác của chúng để xây dựng một đất nước VN mới, tự do và dân chủ thực sự, hùng mạnh về kinh tế, còn phải đạo đức trong lối sống. Trong chính thể tương lai, nếu vẫn còn sự hiện diện của đảng CS thì chỉ với sức mạnh kinh tế của chúng, CS vẫn thừa sức thao túng nền chính trị quốc gia. Hiện nay, tất cả guồng máy kinh tế của đất nước đều đã nằm gọn trong tay bọn đảng viên CS rồi. Nói thế không phải để buông xuôi, mà là để biết mình, biết người hầu tìm ra cách đối phó hữu hiệu hơn. Phải tự tin vì người quốc gia có một lợi thế rất lớn, hơn CS rất nhiều. Đó là lòng dân:

Đắc cương thổ nhi thất nhân tâm, tất bại.

Thất cương thổ nhi đắc nhân tâm, tất thắng.

(được đất đai nhưng mất lòng người, tất bại. Trái lại, mất đất đai nhưng được lòng người tất thắng). Hiện nay VGCS chiếm được nước nhưng chúng đã hoàn toàn mất lòng dân. Ngược lại, người quốc gia phải lưu vong tỵ nạn nhưng vẫn được người dân trong nưóc yêu mến, hướng về. Như vậy thì tại sao chúng ta lại phải đầu hàng CS?

Sự khác biệt hệ ý thức quốc/cộng đã đưa đến cuộc chiến tranh VN trong suốt 3 chục năm và hậu quả còn kéo dài cho đến ngày nay. Thực tế chiến tranh VN cho thấy trên lý thuyết tuy đối kháng lẫn nhau, nhưng suốt 2/3 thế kỷ nay, không phải người Quốc Gia, mà chỉ có CS luôn truy lùng, đàn áp, bắt bớ, bỏ tù, và xâm lấn người quốc gia không ngừng nghỉ. Ngưòi quốc gia chạy ra nước ngoài rồi vẫn còn bị CS theo đuổi để chinh phục. Như thế, người quốc gia chống lại CS là chuyện bắt buộc. Về thực hành, cách thực tế nhất để phân biệt quốc gia với CS là căn cứ vào việc có chấp nhận lá Cờ Vàng hay không. Người quốc công nhận lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ của chế độ VNCH. Từ lập trường này, chúng ta xác định công cuộc chiến đấu chống lại chế độ VGCS là để khôi phục lại chế độ Cộng Hoà đã bị CS tiêu diệt. Mục tiêu này tồn tại ít nữa là trong giai đoạn hiện nay, khi chế độ CS không còn nữa sẽ tính sau. Đây là vấn đề đặt lằn ranh rõ ràng giữa Quốc gia và những kẻ không phải là quốc gia, nhất là CS.

4.2 Từ cái khôn của người xưa

Như đã nói, không dễ dàng xác định chắc chắn được kẻ nào là CS nằm vùng, kẻ nào là tay sai của chúng nếu chỉ căn cứ vào lập trường không thôi. Không thiếu bọn chống cộng bịp cũng phất cờ vàng, cũng hô đả đảo CS. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn bất lực. Ngoài việc căn cứ trên lập trường, còn có một cách khác giúp chúng ta là làm theo sự chỉ dậy khôn ngoan của người xưa, chẳng hạn:

– châm ngôn Pháp: Cho tôi biết anh thường lui tới với những ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai. (Dis moi qui tu frequentes, et je te dirai qui tu es), hoặc

– tục ngữ: Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, hay như

– lời cố TT Nguyễn Văn Thiệu: Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm.

Việc truy tìm CS căn cứ trên lập trường và dựa vào các tiêu chí trên có thể tin là chính xác. Lấy thí dụ trường hợp Nguyễn Chí Thiện. Nếu chỉ nghe Nguyễn Chí Thiện nói thì ai cũng cho ràng hắn là một người chống cộng thiệt. Hắn chửi CS hay, chào Cờ Vàng nghiêm chỉnh, đôi khi còn tham gia biểu tình nữa. Nhưng bởi vì Nguyễn Chí Thiện luôn cặp kè với bọn VT và nhất là còn theo Hoàng Minh Chính vô núi để bàn kế hoạch Tiểu Diên Hồng thì chắc chắn hắn là một tên chống cộng bịp, nếu không muốn nói là một điệp viên nằm vùng của VGCS.

NQ36 và vai trò của Việt Tân

Nói đến NQ36 mà bỏ quên vai trò của đảng Việt Tân thì thật là một thiếu sót không thể chấp nhận được. Nếu không có đảng VT, chắc chắn VGCS không thể luồn sâu vào trong các cộng đồng tỵ nạn như hiện nay. Nói cách khác, VT chính là công cụ VGCS sử dụng để thi hành NQ36.

Không ai không biết các sách lược đấu tranh của VT đã được quảng bá rộng rãi là:

1- Đối đầu bất bạo động để tháo gỡ độc tài,

2- Xây dựng xã hội dân sự để đặt nền tảng dân chủ, và

3- Vận động toàn dân để canh tân đất nước.

Thoạt nghe, cứ tưởng như là VT chống cộng có sách lược lắm, vì đó là sách lược mà. Nhưng cái đuôi HHHG đã lại lòi ra ngay: “Do đó, ngay từ bây giờ phải tập trung nỗ lực để gầy dựng tư thế và uy tín cho Việt Tân, để trong tương lai, khi áp lực đấu tranh buộc đảng cộng sản Việt Nam phải chấp nhận mở ra bối cảnh sinh hoạt đa nguyên, Việt Tân đã trong tư thế sẵn sàng để đối đầu với đảng CSVN trong trận thế đấu tranh chính trị công khai (phỏng vấn BS Trần Xuân Ninh). Thì ra sách lược của VT là dọn đường về nước để đấu tranh chính trị. Nói trắng ra là bắt tay hòa hợp với VGCS. Sách lược này, nếu do một đảng phái quốc gia lương thiện có một quá trình tranh đấu già dặn kinh nghiệm thì có thể tin tưởng được phần nào, mặc dầu vẫn biết nó đáng nghi ngờ. Nhưng nó lại được quảng bá từ một tổ chức thảo khấu bất lương để bịp bợm thì không ai tin được. Điều hết sức phi lý là tổ chức này, những con người này không những đã không bị pháp luật trừng trị, mà trái lại nó vẫn mặc sức tung hoành và có vẻ còn có thế giá đối với chính quyền Mỹ.

Câu hỏi là tại sao? Và đây là câu trả lời: vì VT là tay sai, là công cụ. Tổ chức này từ bước đầu mới thành lập, hồi còn có tên là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng VN, gọi tắt là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, nó đã bị khuynh loát và thao túng bởi phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, một con người tham tiền và bịp bợm. Từ đầu thập niên 1980 đến nay (năm 2009), về danh xưng tổ chức này đã thay đổi từ Mặt Trận thành Đảng. Về mặt sinh hoạt, nó đã biến thái qua ba giai đoạn từ một tổ chức kháng chiến bịp đến hình thức mafia chuyên gây tội ác, và hiện nay là công cụ cho các thế lực chính trị sử dụng để mưu giàn dựng ra cái gọi là hòa hợp hòa giải hầu thiết lập cho VN một thể chế dân chủ cuội sau này.

1. Giai đoạn kháng chiến bịp

Giai đoạn ngắn ngủi này là lúc ông HCM còn sống. Dán cái nhãn hiệu “bịp” vào tên tuổi của một tổ chức chống cộng giải phóng quê hương thứ thiệt là phạm đại tội. Nhưng ịn lên tên MT Hoàng cơ Minh chữ “bịp” thì đúng lắm. Báo chí gọi thế. Người dân tỵ nạn gọi thế. Không phải người viết gọi thế với ý xấu, bởi vì ông HCM dựng lên Mặt Trận để bịp thiệt. Khu chiến là khu chiến giả. Kháng chiến là kháng chiến bịp. Báo kháng chiến toàn phịa tin không có. Kháng chiến quân hơn một trăm người thì khoảng một trăm là thanh niên Miên, Lào được ông HCM thuê mướn để đóng phim. Thế nhưng ông HCM đã nhân con số lên thành 10.000 tay súng. Phịa để làm gì? Câu trả lời là lời ông Minh nói với đại tá Phạm Văn Liễu như sau: “Phải tuyên bố như vậy thì đồng bào mới cho tiền.” Theo nhiều nguồn tin khác nhau, số tiền đồng bào ủng hộ MT được ước lượng không dưới 10 triệu dollars. Số tiền lớn này ông HCM trao cả cho người em ruột của ông là ông Hoàng Cơ Định. Ông Định có gởi sang Thái Lan cho ông Minh 160.000 dollars để dùng cho kháng chiến, nhưng ông Minh gởi trả lại ông Định bảo cứ giữ lại tại Mỹ.

Ông HCM còn đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng khác nữa do người Mỹ thuê mướn là xâm nhập các nước Việt, Miên, Lào để tìm lính Mỹ mất tích bị nghi là vẫn còn sống. Vấn đề này báo chí có nói qua, nhưng vì là việc của CIA nên chẳng bao giờ tìm ra dấu vết. Chứng cứ là câu nói của BS Lê Văn Trực được cụ Phạm Ngọc Lũy ghi lai: “…việc anh Minh (HCM) đi Thái Lan có bàn tay Mỹ chi phối, trước sau rồi cũng làm tay sai.” (Phạm Ngọc Lũy: Hồi Ký Một Đời Người, tập II, trang 10).

Những chuyện về MT và về người chủ sự của nó là phó đề đốc HCM kể thì nhiều lắm. Tài liệu chất cao bằng đầu. Tất cả đi đến kết luận ông HCM là một con người mưu mô, xảo quyệt, phản bội đồng chí, tàn ác với đồng đội, thiếu tư cách lãnh đạo nên không làm được việc lớn, tham quyền và nhất là tham tiền. Do đó không thể có chuyện gọi là “giải phóng đất nước”. Tất cả được gói gọn trong một chữ “Bịp”.

2. Giai đoạn trở thành Mafia

Sau khi ông HCM chết, MT biến thành tổ chức mafia người Việt tại hải ngoại. Tổ chức này về mặt nổi do Nguyễn Kim Huờn túc Nguyễn Kim, một người rất ít được biết đến trước đó, lãnh đạo, nhưng mọi chuyện đều bí mật nằm dưới sự chỉ đạo của Hoàng Cơ Định, người em cùng cha khác mẹ vói HCM. Định là người trước năm 1975 đã bị sa thải khỏi trường Cao Đẳng Hóa Học, Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, Saigon vì lý do tham nhũng. Ls Hoàng Duy Hùng đã trích dẫn báo cáo của cơ quan FBI nhận định về MT như sau: MT và CS nằm vùng đã xâm nhập vào mọi lãnh vực cộng đồng, vào các nhóm du đãng, trẻ em Mỹ lai, và vị thành niên để dụ dỗ và khống chế các em gia nhập các băng đảng tội ác như làm đĩ, buôn bán ma túy và vũ khí, chuyển ngân lậu v.v. Ngoài ra MT còn bị tố cáo tội giết người như các nhà báo Đạm Phong, Lê Triết. Điều cần nhấn mạnh là ông Hoàng Duy Hùng là một luật sư tốt nghiệp và hành nghề tại Mỹ nên những tài liệu ông trưng dẫn nói rằng của cơ qua FBI phải tuyệt đối tin là đúng. Chắc chắn ông Ls Hùng không dám ăn nói bạt mạng, đùa dỡn với FBI. Lại nữa trong phiên tòa gọi là MT kiện báo chí diễn ra tại quận hạt Santa Clara ngày 12-12-1994, ông trung sĩ cảnh sát Douglas Zwemke cũng đã xác nhận rằng cảnh sát có đủ bằng chứng MT lem nhem tiền bạc, oa trữ vũ khí để uy hiếp và hăm dọa, gian lận thuế má và sổ sách.

MT bị tố cáo tất cả gồm 39 tội danh mà hầu như đều là tội đại hình. Điều không hiểu nổi là cho đến nay luật pháp nước Mỹ vẫn không điều tra và truy tố bất cứ một ai. Pháp bất vị thân. Luật pháp quốc gia có trách nhiệm phải điều tra và truy tố các kẻ phạm pháp ra tòa để buộc chúng phải đền tội. Cảnh sát nói đã có bằng chứng MT vi phạm luật. MT đông như thế, chẳng lẽ mấy chục năm qua cảnh sát không tìm ra được lấy một tên tội phạm trong đó. Chuyện như giỡn chơi, thật sự không thể nào lý giải được trừ khi chúng ta đặt nó vào cái thế của bàn cờ chính trị của VN hiện nay.

3. Giai đoạn làm công cụ

Theo lý thì MT đã phải bị giải tán và những kẻ vi phạm luật pháp đã phải bị trừng trị. Thế nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra. Thái độ mắt nhắm mắt mở của cơ quan an ninh Mỹ đã mở ra con đường biến MT thành công cụ để sử dụng. Phương pháp dùng người kiểu này rất thường thấy trong lãnh vực tình báo. Nó cũng không khác mấy chuyện công an CS dùng bọn côn đồ tội phạm để dẹp biểu tình của giáo dân.

Sau khi được tha bổng và được sử dung, MT mới bắt đầu lột xác biến thành đảng chính trị với cái tên là Việt Tân, công khai ra mắt tại Đức ngày 19-9-2004. Thực ra đảng VT đã được thành lập từ tháng 9-1982 gần đồng thời vói MT. Đảng và MT tuy hai nhưng chỉ là một. Chủ tịch đảng Đỗ Hoàng Điềm của VT hiện nay là một người trước đây ít có ai biết tiếng. Lý Thái Hùng, tổng bí thư, đuợc nhận diện là Bùi Minh Đoàn, và bị tố cáo là CS. Hoàng Cơ Định vẫn là người nắm giữ tiền bạc của đảng. Nhưng dư luận lại tin Nguyễn Xuân Nghĩa cháu tên cựu TBT đảng CSVN Nguyễn Văn Linh mới thực sự là linh hồn của đảng VT.

Chính phủ Mỹ sử dụng một đảng chính trị chủ trương chung sống hòa bình với CS, lại được lãnh đạo bởi các cán bộ CS thì cầm chắc là VGCS sẽ rất hài lòng. Luật pháp Mỹ không cho phép bất cứ một tổ chức nào ở Mỹ chủ trương đấu tranh lật đổ một chính phủ ngoại quốc bằng vũ lực mà nước Mỹ có thiết lập bang giao. MT chủ trương lật đổ nhà nước VGCS bằng vũ lực, do đó bắt buộc phải đổi thành đảng VT với chủ trương bắt tay hòa hơp với VGCS. Đó là lý do bắt buộc MT phải biến thành đảng VT để được phép hoạt động trên đất Mỹ. Vấn đề quan trọng ở đây là tại sao lại nói VT thực hiện NQ36 của VGCS. Để có câu trả lời, chúng ta cần trở về thời gian khoảng hơn mười năm về trước. Một lần sau khi ông Dennis Harter, Phó Đại Sứ Mỹ tại VN nói chuyện với cộng đồng người tỵ nạn tại Houston, Texas, hai nhà báo Trọng Kim và Nguyễn Quốc Cường viết bài tường thuật trên báo Ngày Nay nhận định rằng: nếu chúng ta đừng nghe những gì CS và HK nói, mà hãy nhìn vào những gì CS và HK làm, thì qua phần đối đáp của ông Harter, người ta có thể kết luận mà ít sợ sai lầm là hiện nay HK và VN quả thật đang cùng dắt tay nhau đi dưới những tấm bảng chỉ đường của một lộ trình Diễn Biến Hòa Bình. Kể như đã rõ ràng. Mỹ và CS bắt tay tiền chế một chế độ hòa hợp đa đảng tại VN mà VT là nhóm người được chọn lựa để làm đối lập với CS. Từ đó cho tới nay VT đã rất tích cực thi hành nhiệm vụ làm công cụ của mình. Những việc VT làm báo chí đề cập đến hàng ngày, vậy xin được miễn nhắc lại. Nói một cách tổng quát thì là một đàng ở trong nước, VT cấu kết với những thành phần dân chủ cuội trương chiêu bài tranh đấu đòi Dân Chủ. Một đàng tại hải ngoại, VT dựa vào sự yểm trợ ngầm của Mỹ, thi hành NQ36 trong cộng đồng tỵ nạn để xâm nhập, lũng đoạn, và lèo lái cộng đồng đi đến quên quá khứ, xóa hận thù hầu chấp nhận sống chung với VGCS. Đã có những chỉ dấu cho thấy các nhân vật tranh đấu trong và ngoài nước liên kết thành những tập thể đối lập giả hiệu do VT điều hợp dưới sự chỉ đạo ngầm của cả Mỹ lẫn VGCS. Đó là diễn biến hòa bình mà các ký giả Trọng Kim và Nguyễn Quốc Cuờng đã nói tới.

Nên biết rằng trở ngại lớn nhất của diễn biến hòa bình là sự chống đối của người Việt tỵ nạn. VGCS coi khối người tỵ nạn là trở ngại đã đành, nhưng ngay cả chính quyền Mỹ cũng vậy. Chính quyền Mỹ sợ dư luận. Điểm đặc biệt và quan trọng nhất của nền dân chủ Mỹ là dư luận của quần chúng. Cả hành pháp lẫn lập pháp đều sợ dư luận, vì dư luận nói cụ thể ra là lá phiếu của cử tri. Hành pháp Mỹ dám giết tổng thống của một quốc gia, dám đem quân bắt tổng thống của nước khác đem về nhốt tại Mỹ, dám tống cổ một nước bạn thâm tình ra khỏi tòa nhà Liên Hiệp Quốc, dám xóa tên một nước có chủ quyền trên bản đồ thế giới, nhưng họ lại không dám đi ngược lại ý muốn của dân chúng Mỹ. Chính giới Mỹ sẵn sàng tạo ra dư luận để hoàn thành một mục tiêu nào đó cho mình. Phong trào phản chiến trước 1975 nếu không được thúc đẩy bới bàn tay lông lá thì khó lên cao được như đã thấy. Cho nên để thực hiện diễn biến hòa bình với VGCS, Chính phủ Mỹ trước tiên phải dẹp đi sức đấu tranh của khối người tỵ nạn. Kẻ đứng ra làm công cụ là VT. Phương pháp thông thường như đã nói trên vẫn là “Dĩ di công di”, tức là lấy tỵ nạn diệt tỵ nạn.

4. Một vấn đề ngoài lề

Bài viết đã dài. Đến đây coi như đã có thể kết thúc, chỉ còn phần kết luận. Ngưòi viết muốn nhân cơ hội đặt vấn đề với các quí vị tướng tá, quân nhân QLVNCH đang là thành viên của đảng VT nên mới có vấn đề ngoài lề như thế này. Ý thức rằng QLVNCH trước kia và bây giờ vẫn là lưc lượng chủ lực chống cộng hữu hiệu nhất. Sự mất mát lớn lao nhất cho hàng ngũ người quốc gia yêu nước là việc một số không nhỏ quí vị quân nhân chạy theo băng đảng VT. Sự phản phúc của băng đảng VT thì đã rõ ràng, không còn gì phải nói. Vấn đề chúng tôi muốn đặt ra là với tư cách là thành viên của đảng VT, việc đấu tranh của quí vị sẽ đem lại lợi ích gì cho đất nước. Quí vị đã dâng hiến cho Tổ Quốc nửa cuộc đời thanh xuân, coi như đã trả xong nợ sông núi. Không lẽ nửa quãng đời còn lại quí vị lại quay đầu lại với Tổ Quốc. Quí vị gia nhập đảng VT chính là hành vi đối đầu với Tổ Quốc, phản bội đồng đội và phản bội chính mình rồi vậy.

Trước hết, quí vị đối đầu với Tổ Quốc với ảo tưởng rằng theo VT được Mỹ ủng hộ là quí vị đấu tranh cho tự do dân chủ tại VN. Quí vị lầm rồi. Bao nhiêu chuyện VGCS đàn áp nhân dân ta ở trong nước, Bộ Ngoại Giao và tòa Đại Sứ Mỹ ỏ Hànội có bao giờ có biện pháp gì cụ thể giúp đâu, hay là chỉ ẫm ờ cho qua chuyện. Nhìn về quá khứ các năm 63, 75, lúc đó dù không có chuyện, chính quyền Mỹ cũng tạo ra cho có, chuyện nhỏ họ thổi lên thành chuyện lớn. Để làm gì thì mọi người đã thấy và lịch sử đã ghi chép đầy đủ. Đấy là cách thức chính quyền Mỹ giúp đỡ người quốc gia chúng ta. Người Việt tỵ nạn, nhất là các quân nhân QLVNVH cần nhìn và hiểu thấu đáo cái THẾ chính trị này. TT George W. Bush tiếp Đỗ Hoàng Điềm tại tòa Bạch Ốc được coi là một hình thức thừa nhận (endorse) VT cho người Việt tỵ nạn nhìn thấy mà theo. Nhưng đối với người tỵ nạn, hành động của Bush chẳng qua chỉ là để tưởng thưởng VT cũng giống như một ông chủ vuốt ve con chó trung thành và biết giữ nhà. Đừng có cho chuyện đó là quan trọng. Mỹ trở lại VN, đó là vì nhu cầu của nước Mỹ. VN cần Mỹ giúp, đó là một lợi ích thiết thực. Nhưng vấn đề là quan hệ và sư hợp tác hai bên đặt trên căn bản nào. Kinh nghiệm và lịch sử dậy chúng ta rằng, nếu chúng ta mạnh, người Mỹ sẽ giúp chúng ta trong tư thế bạn bè. Còn nếu chúng ta yếu, họ sẽ giúp chúng ta trên tư thế của một ông chủ đối với đầy tớ. VT làm công cụ cho một chính quyền đã bức tử chế độ VNCH tức là họ đã đối đầu với Tổ Quốc. Tin rằng Mỹ thừa nhận đảng VT tức là Mỹ giúp người quốc gia tiêu diệt CS? Xin đừng mơ ngủ nữa. Mở mắt ra mà nhìn đi.

Thứ nữa là quí vị đã phản bội đồng đội và phản bội chính mình khi quí vị chạy theo VT mà quí vị không thấy. Xin hỏi VT ca ngợi VGCS là ái quốc có phải là họ gián tiếp kết án QLVNCH phản quốc không? Câu trả lời nhất định phải là đúng. Như vậy người quân nhân QLVNCH chạy theo VT là họ đã phản bội đồng đội và phản bội chính mình rồi vậy. VT chối bỏ tư cách tỵ nạn với việc biến ngày Quốc Hận 30-4 thành ngày Tự Do cho VN. VT phỉ báng chính nghĩa quốc gia, ca tụng VGCS qua sụ kiện cho tên CS Hà Dương Đực lên đài phát thanh hạ nhục QLVNCH, đề cao quân cướp VGCS. VT công nhận Hồ Chí Minh có công đối với đất nước và đảng VGCS là một thành phần dân tộc v.v. Cứ cho rằng những việc động trời đó là những sai lầm không đáng kể do đảng viên cấp dưới không ý thức đúng lập trường và đường lối của đảng. Nhưng thử hỏi khi trung ương đảng VT công khai ca tụng VGCS là ái quốc thì sao đây? Đây không phải chuyện nhỏ nhặt mà là vấn đề quan điểm, quan điểm về lòng yêu nước. Chỉ cần đặt ra một câu hỏi với VT: “thế nào là yêu nước” thì đã đủ để lột mặt nạ của VT xuống rồi. Nêu trường hợp cụ thể xem VT có cãi được không. Cách đây không lâu khi Nguyễn Hộ, một tên CS cực kỳ hung ác và khát máu chết, trung ương đảng VT tức tốc gởi đi khắp thế giới lời phân ưu với gia đình Nguyễn Hộ, ca tụng hắn là một nhà ái quốc. Nguyễn Hộ là ai thì hẳn người quốc gia ở miền Nam, nhất là vùng Saigon, Cholon không ai không biết. Hắn là kẻ giết người không run tay. Hắn công khai tuyên bố chính sách đối xử với quân, cán, chính VNCH khi hắn vào Saigon năm 1975 như sau: Nhà chúng, ta ở, vợ chúng, ta lấy, con cái chúng, ta bắt làm nô lệ, còn chúng, ta cho đi cải tạo không có ngày về. Một tên CS ác ôn như vậy mà đảng VT ca ngợi là một nhà ái quốc. Nếu Nguyễn Hộ ái quốc thì các vị tướng, tá QLVNCH như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn v.v. là thế nào? Nhất định là phản quốc chứ gì, có đúng không? Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn Hộ, hai người bắn giết nhau ngoài mặt trận vì vấn đề đất nước. Nếu Nguyễn Hộ được kể là yêu nước thì Nguyễn Khoa Nam nhất định phải là phản quốc. Đấy là logic của lý luận. Lại nữa, nếu TT Nguyễn Khoa Nam, ĐT Hồ Ngọc Cẩn v.v. là phản quốc thì cả tập thể QLVNCH cũng kể là phản quốc luôn. Đây cũng là logic của lý luận. Quí vị tướng tá, quân nhân QLVNCH đầu quân theo VT nghĩ sao đây, xin quí vị hãy lựa chọn chỗ đứng: là người “yêu nước” như tên CS ác ôn Nguyễn Hộ, hay là kẻ phản quốc như Nguyễn Khoa Nam, như Hồ Ngọc Cẩn? Nếu quí vị chọn chỗ đứng bên cạnh Nguyễn Hộ thì đích thực quí vị đã phản bội lại QLVNCH, phản bội đồng đội, và phản bội chính quí vị rồi vậy.

Kết Luận

Bài viết này chấm dứt đúng vào lúc phong trào tố giác bọn đón gió trở cờ lên cao. Người viết tự tin rằng mình làm đúng và còn có rất nhiều đồng minh. Vô hiệu hóa hay chống lại NQ36 của VGCS là vấn đề sinh tử của người VN tỵ nạn CS. Đây là trận chiến cuối cùng. Nếu chúng ta thua, về danh nghĩa, chúng ta sẽ bị VGCS coi là kiều bào của chúng sinh sống tại hải ngoại. Khó còn cơ hội để phục quốc. Còn như nếu thắng, chúng ta còn có cơ hội đấu lại ván cờ. Như trên chúng tôi đã nói, VGCS đang áp dụng phương pháp “Dĩ di công di” để chinh phục đồng bào tỵ nạn chúng ta. Để dành được thắng lợi trong trận chiến sinh tử này, trước hết và trên hết, chúng ta phải tiêu diệt hết những kẻ núp vào cái vỏ bọc tỵ nạn để đánh phá chúng ta. Đây là con đường duy nhất, không có sự lựa chọn nào khác. Đánh Việt gian, diệt VC, đuổi xâm lược là tiến trình hợp lý nhất để cứu đất nước.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_NghiQuyet36ThangLon_2.htm

November 15, 2009 Posted by | NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN (tiếp theo và hết) - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất | | Leave a comment

ĐẠI HỘI VIỆT CỘNG- VIỆT GIAN ” FOR SALE” TẠI HÀ LỘI !- TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net)

ĐẠI HỘI VIỆT CỘNG- VIỆT GIAN ” FOR SALE” TẠI HÀ LỘI !- TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net)

Sau nhiều ngày chuẩn bị đại hội” Việt Cộng và Việt gian” tại Hà Lội, được dự trù khai mạc vào hạ tuần tháng 11 năm 2009. Tuy nhiên, các con khỉ trong trung ương đảng Cộng Khỉ hay khỉ sứ quán, khỉ cao cấp, hoặc” đỉnh cao trí tệ loài vượn” đã vô tình hay cố ý, có thể là trong một sự” tình cờ lịch sử” mà mở đại hội đúng vào tháng” đại bại mùa xuân” của chủ nghĩa Cộng Sản toàn cầu, đó là ngày 9 tháng 11, đánh dấu 20 năm bức tường Bá Linh bị giựt sập và sau đó không lâu, tháng 8 năm 1991, đế chế số một, cái nôi Cộng Sản quốc tế đã” thoái trào cách mạng vĩnh viễn và toàn bộ khối Cộng Đảng Đông Âu cũng đi vào nghĩa địa. Đúng là:” Thời buồn, đại hội có vui bao giờ?’

Một điều mà tất cả những cán khỉ từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc không bao giờ” hồ hởi phấn khởi” là cái tin BÍ MẬT về đại hội Việt Cộng và Việt gian sắp triệu tập, lại bị BẬT MÍ một cách” không người lái” trên tinparis.net và từ đó” âm mưu diễn biến hòa bình” cứ lan nhanh khắp nơi trên địa cầu, nên có một số Việt gia hải ngoại cảm thấy lo sợ mà không tham dự; lý do là những điều bí mật, tuyệt mật ấy lại lọt ra ngoài, không biết từ đâu, do ai, ” sự cố nào?”…mà tiết lộ quá sớm, cũng như phụ nữ mang thai mà” bị đẻ non” nên không thể nuôi, hoặc nuôi cũng èo uột và tốn kém rất nhiều. Do đó, từ nay, hệ thống nằm vùng, đón gió, những người có” quan hệ hữu cơ” với đảng Cộng Khỉ cảm thấy không an toàn, không thể tin tổ chức có kế hoạch” phòng gian bảo mật” nên đôi khi công tác chưa” phát pháo khai thành” thì người ta đã biết hết cả đường tiến lẫn thoái, thì làm ăn gì nổi phải không?.

Đó là sự thất bại” cơ bản” khó tránh khỏi, nên đảng Cộng Khỉ khó mà thực hiện con số 650 việt kiều, mà đối tượng đang nhắm tới là ở Hoa Kỳ, canada, Úc, Âu Châu….nên khi những thành phần nằm vùng trong các vùng đất quan trọng mà bỏ giò lái chạy, không thèm tham dự vì đã bị bể từ mấy tháng nay. Tuy nhiên, thành phần mà đãng Cộng Khỉ ít kỳ vọng là: đã trở về ở luôn như Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy….hay những người có thường trú ở các nước Đông Âu, là không phải là đối tượng được chiếu cố, thế mà họ lại có khả năng” trám vào chỗ trống cho đủ số” mới là thất bại, thất bại, đại thất bại đấy!. Cũng như đi chợ, muốn mua đồ tốt mà không có, cuối cùng phải mang rác về nhà vậy. Nhìn cái” tình huống” tiền đại hội, người bàng quang cũng nhận thấy khả năng qui tụ thành phần tay to, mặt theo ở hải ngoai, vốn có mối quan hệ với đảng khỉ, là mối thất vọng, khi mặt hàng” đại hội” bày ra, mà gặp phải:

” Khách được mời, ngày nay hờ hững quá.
Chỉ lai rai, một số kẻ chẳng tiếng tăm”.

Đáng lẽ ra, nếu tin tức bí mật nằm yên trong sứ quán ở Pháp thì may ra còn có một số kẻ ” một thoáng quay về” như là người tình cờ về quê và âm thầm ra đi như người” khách lạ chiều đông”. Tuy nhiên, tin tức, dự đoán, phương án….tất cả những gì mà đảng khỉ” động não” để biến thành kế hoạch:” dựa vào khoa bảng, liên hiệp đón gió, đoàn kết trở cờ, đánh phá hải ngoại” hầu nhuộm đỏ cộng đồng, tiếp thu hải ngoại đã bị phổ biến rộng rải hơn cả” báo cáo khí tượng thủy văn” thì làm ăn sao khá.

Cho nên, đại hội chưa mở là có vài tay như Trần Nam Bình, một người Úc gốc Việt, trèo cao trong hệ thống giáo dục hải ngoại, thuộc một trường đại học ở N.S.W, nại lý do” đại hội nầy ta không về” là vì bận họp hành và chăm lo cho các sinh viên, thật là nhà giáo có lương tâm đấy, nhưng ai cũng biết là sinh viên ở Úc hay các nước dân chủ, cũng có nhiều quyền” tự do”, trong đó có quyền tụ do đến trường và cũng tự do không đi học, thì việc chăm lo sinh viên cũng chỉ là lý do, nhưng không mấy chính đáng. Tuy nhiên đây cũng là” phản ánh” cái tâm trạng hoang mang về một đại hội” cực kỳ quan trọng” mà là lần đầu tiên kể từ sau 1975 đến nay, thế mà tin tức và toàn bộ kế hoạch đã bị biết hết từ nhiều tháng nay. Một người khác là Lê Thiết Hùng, có” cơ ngơi thường trú” ở Ba Lan cũng” nhất trí” không về lần đại hội” cực kỳ quan trọng và mang tính cách chiến lược” nầy, dù đương sự đã về nơi” quê hương là chùm khế mọt” nhiều lần và đương nhiên là có mối” quan hệ hữu cơ” với những” đỉnh cao trí tệ” trong cái gọi là:” Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: đập lột-tự lo-hạnh phét”

Do cái đại hội ế như chợ chiều dông nầy, khi mà những khách” chất lượng” cao từ càng nước” càng tư bản phản động, càng trân quí” không thấy được” mặt trời chân lý rọi trong tim” nên làm ngơ, cuối cùng thì đảng Cộng Khỉ phải đành làm cái lề lối thương nghiệp là FOR SALE, để thu hút, nên thành phần Việt kiều ở các nước cựu Cộng Sản Đông Âu lại được” nâng cấp” thành khách quí vậy.

Nghe đâu, vì quá ế nên ngoài chuyện” đại hội For Sale”, đảng và nhà nước khỉ còn dùng hình thức ban thưởng để” động viên”, nhằm nâng cao vai trò của đảng: cũng có thớ lắm, nên mới ban thưởng huân chương cho những Việt kiều nào đóng góp công lao” ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản” tích cực tại nước ngoài, đem tài giúp đảng, nói sảng lập công, nhưng đụng chuyện là dông tuốt.

Nói về” thủ tục ban thưởng” của đảng Cộng Khỉ, thì có nhiều cấp, thông thường là hình thức BIỂU DƯƠNG, là những tờ giấy lộn, được cán khỉ từ cấp” cơ sở” cũng có quyền làm giấy biểu dương cho bất cứ ai nằm trong vòng sanh sát. Cũng như ở trường học, thầy cô cũng hay làm giấy khen để khuyến khích học trò trao dồi chữ nghĩa; do đó, khi giấy biểu dương quá nhiều mà không có cái gì” duy vật” để nhét vào miệng, nên:

” Biểu dương nhiều mà quyền lợi chẳng có chi.
Khi nhà nước vẫn biểu dương các cấp”.

Tình trạng cấp biểu dương lạm phát phi mả: làm lao động giỏi, học giỏi và ngay cả trong trại tù, quản giáo cũng hay cấp biểu dương cho những tù nào được” báo cáo” là lao động tốt, học tập tốt…nhưng ngày trở về thì” xa lắc, lê thê, trót nghe theo lời u mê”. Cao cấp hơn là biểu dương là” các danh hiệu anh hùng” trong cái” Chủ nghĩa UNG HÀNH cách miệng”, nên trong cái” thiên đàng Cộng Sản” xuất hiện lắm anh hùng, như anh hùng lao động, anh hùng đánh Tây, anh hùng chống Mỹ. Riêng thời” đánh Mỹ phá nước” còn có thêm: dũng sĩ diệt Mỹ ( tiêu chuẩn giết 5 lính Mỹ), dũng sĩ quyết thắng ( tiêu chuẩn phái giết từ 5 quân nhân VNCH). Còn huân chương thì cũng có nhiều loại, phổ biến và” bình dân cá kèo” là loại huân chương mang tên” Chiến Công” để ban thưởng cho những cán khỉ, du kích khỉ nào” khủng bố giỏi”, giết người không gớm tay và nhan nhản trong nhà của những gia đình có người” theo cách mạng vùng lên để hại đời” có những tấm giấy, được lộng kiếng, có cờ đỏ sao vàng, với hàng chữ lớn như: huân chương chiến công hạng nhất, huân chương chiến công hạng nhì, hạng ba, loại nầy thì cấp Ủy có quyền đề bạt, cấp giấy có một đỏ, chữ ký như cua bò trên bãi sình của thẩm quyền.

Tuy nhiên cái huân chương cao quí nhất vẫn là” HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH”. người có thẩm quyền cấp là chủ tặc nhà nước, chớ đám khỉ thường là không cấp được. Trong cuộc chiến Việt Nam, nữ tài tử điện ảnh Hoa Kỳ là Jane Fonda, thuộc loại” ăn bánh mì tự do, đội mo Cộng Sản” đã hăng hái yểm hộ cho đảng khủng bố, siêu cướp” Cộng Khỉ Việt Nam”, từng ra Bắc để” tham quan hữu nghị”, trong khi những ân nhân bảo vệ tự do, chống khủng bố đang nằm trong Hỏa Lò, Jane Fonda, từng chụp hình lưu niệm với một đơn vị” quân hại nhân dân” ở bắc, nên công hổ trợ khủng bố nầy được đảng khỉ ghi nhận và mụ ta được ban cấp huân chương Hồ Chí Minh, nên sau nầy có hổn danh là” HANOI JANE”. Huân chương Hồ Chí Minh cũng có ba hạng: ba sao, hai sao và một sao; cũng giống như trong y học, bịnh phong tình giang mai được đánh giá bằng SAO trong từng giai đoạn, nên có nhiều người, dù không đi lính ngày nào, suốt ngày chỉ biết tham gia trong chiến trường” với gái mãi dâm mà không tiếc ngày xanh”, sau khi đến phòng mạch bác sĩ, thử máu và được bác sĩ trịnh trọng” phong quân hàm tướng”, nhất là đại tướng thì điểu trị hơi lâu và không chừng mang quân hàm” tướng ba sao” về trình diện đơn vị mới ở bên kia thế giới.

Tuy nhiên, huân chương cao quí vẫn là huân chương Lenin, nên huân chương Hồ Chí Minh chỉ là hạng nhì mà thôi. Được biết, khi còn sống, con khỉ chúa Hồ Chí Minh rất mê ” huân chương Lenin”, nhưng bì hắn dốt mà không được. Số là ngày 21 tháng 9 năm 1924, Hồ mò sang Nga để tìm đưởng học cách khủng bố; xớn xác, khi vừa mới đến là xin được gặp Lenin, tuy nhiên vai trò lãnh đạo đã nằm trong tay Stalin từ ngày 3 tháng 4 năm 1922, xui xẻo cho tên Hồ là Lenin đã đi xuống địa ngục trước khi Hồ tới vài giờ, nên không toại nguyện. Tư cách xỏ lá, láo cá , bộp chộp, ăn không coi nồi, ngồi không coi hướng của Hồ, làm cho Stalin khinh miệt, nên không cho gặp mặt, đến khi Stalin chết, Hồ Chí Minh còn không được cho dự đám ma, nhưng hắn cũng sai tên ” Thi Khỉ” Tố Hữu làm thơ nịnh:” thương mình thương một, thương ông thương mười”. Hồ sang Nga học, nhưng kém trình độ nên không tiếp thu bao nhiêu, ngoại trừ học khá trong việc khủng bố, nên sau nầy về nước, chui trong hang Pác pó, Hồ mang tài liệu dạy khủng bố là” tỉnh ủy bí mật” để dạy cho những thằng dốt, hầu giết hại dân lành và những người nào không chấp nhận Cộng Sản.

Hồ Chí Minh” nịnh” mà không kết quả, nên hắn ghét, ganh tỵ bất cứ ai được” quan thầy ở Điện Cẩm Linh” ban thưởng. Đó là những Đồng Chí cật ruột” dư” bị Hồ ĐÌ CHỐNG, điển hình như:

-Trần Văn Giàu: là dân miền Nam, đã bị kỳ thị, nhưng lại được quan thầy khoái; số là Trần Văn Giàu sang Nga học sau Hồ vài khóa, Giàu học rất giỏi, đậu cao và Stalin chấm 3 người, có ba luận án hay nhất, mà Giàu đứng đấu. Ba người đó là; Trần Văn Giàu, Tito ( sau làm chủ tịch Nam Tư) và Thoreze ( sau làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Pháp). Ba người giỏi nhất nầy được Stalin tặng mỗi người một tấm ảnh, có chữ ký và được mời về dùng cơm tối thân mật tại điện Cẩm Linh. Do đó Giàu bị Hồ triệu ra bắc, ngồi chơi xơi nước, không dám hó hé, chỉ ngồi viết” tự kiểm” từ năm nầy qua tháng nọ. Trong khi bạn thân là Dương Bạch Mai, trong Ủy Ban Kháng Chiến hành chánh Nam Bộ, vì hay nói thật mà bị Hồ sai Trần Quốc Hoàn đầu độc bằng nước trà, chết ngay tại chỗ trong một lần đại hội (đây cũng là một trong những cách thanh toán nhau, nên những người nào được mời về tham dự đại hội tháng 11 năm 2009, coi chùng bị đầu độc, nếu không đi đúng theo những gì đảng muốn).

-Tôn Đức Thắng: là dân nam bộ, tốt nghiệp trường Viễn Đông ở Saigon lúc mới 22 tuổi ( năm 1910), ra trường làm thợ máy cho hãng Ba Son. Đệ nhất thế chiến, động viên, đi lính Tây, binh chủng hải quân, vào tháng 4 năm 1919, khi chiến hạm Pháp đến gần hải cảng Sevastopol của Nga ở vùng biển Hắc Hải, Tôn Đức Thắng cùng với một đồng chí người Pháp ( thuộc đảng Cộng Sản Pháp) tên là André Marty, trèo lên cột cờ, treo lá cờ bùa liềm, Nga khoái lắm, nhưng Pháp không hài lòng. Thế là Tôn Đức Thăng bị cho giải ngũ. Sau nầy, sau 1954, Tôn Đức Thắng bị đì, vì là dân nam bộ và hình như cũng có mó máy gì đó người vợ của Hồ, nên trong dân chúng mới có hai câu ca dao:

” Bác Hồ cùng với bác Tôn.
Hai ông đều muốn sở L….Minh Khai”.

Hồ tức thêm khi Tôn Đức Thắng được Nga tặng Huân chương Lenin, nên đì tối đa, nhưng không dám giết, vì sợ Nga không chi viện vũ khí nữa. Do đó, trò gắng huân chương cũng đủ thấy là Việt Cộng nằm trong vòng nô thuộc của Nga trước đây và nay là nằm trong vòng” bắc thuộc thời đại” của Trung Cộng.

Trò hề huân chương được trình diễn như” vở kịch lói” vô duyên, nên chiều ngày 27 tháng 5, sứ quán Việt Cộng tại Mát Cơ Va cử hành lễ ban thưởng huân chương Hồ Chí Minh cho những” chuyên gia” đã có công ướp xác con khỉ chúa Hồ Chí Minh và giữ cho xác khỉ:” mãi mãi khô khan, đời đời không thúi”. Tuy nhiên, gắng huân chương Hồ Chí Minh vẫn chưa” phát huy” đúng mức, những người có công” làm hồ sơ ướp xác Hồ” từ năm 1965 là đại sứ Võ Thúc Đồng, tham vụ ngoại giao Nguyễn Tu và nhất là thông dịch viên Phan Hữu Lạc ( người nắm trong tay bí mật hồ sơ ướp xác Hồ chủ tặc). Sau nầy, tên Lạc làm giám đốc công ty quốc doanh dầu khí Petachim, năm 1993 đã vớt đẹp 5 triệu Mỹ Kim, mà các cơ quan giám sát, thanh tra, công an…không dám động tới, được biết Phan Hữu Lạc có trương mục ngoại quốc, với số tiền lên đến hơn 12 triệu Mỹ kim.

Như vậy, theo như thông lệ, những ngưởi tham dự đại hội” Việt Cộng- Việt gian” cũng nên yên tâm hưởng” chế độ đãi ngộ” ăn ở miễn phí tại những khách sạn” cao cấp”, nếu muốn thì đảng cũng sẵn sàng cung cấp đội ngũ HỘ LÝ và có thể kèm theo các loai thuốc Viagra, Cialis….hoặc uống rượu thai nhi ngâm với mật ong Hà Tây và rượu trắng…để cùng nhau hát bài” bác cùng chúng cháu hành quân” trong phần điệp khúc khác qua bài” tiếng chày trên sóc Bam Bo” là: giã gạo ban đêm ” ( vì ban ngày bận họp với các đồng chí NÃNH ĐẠO tài ba NỔI NẠC HẬU trong nước).

Sau khi họp xong, nếu công ít thì được biểu dương và công to là được huân chương Hồ Chí Minh. Tuy nhiên huân chương Lenin thì không còn ai có thẩm quyền cấp nữa, ở Nga bây giờ, dân còn muốn đem cái xác khỉ khô đó đốt bỏ, nên có ai cấp huân chương cao quí bậc nhất thời đế quốc Cộng Sản nầy./.

Trương Minh Hòa
11.11.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

November 11, 2009 Posted by | ĐẠI HỘI VIỆT CỘNG- VIỆT GIAN " FOR SALE" TẠI HÀ LỘI !- TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) | | Leave a comment

Đằng Sau Vụ Cảnh Sát Sanjose Hành Hung Du Sinh Hồ Phương – Trọng Tín (Kyoto)

Đằng Sau Vụ Cảnh Sát Sanjose Hành Hung Du Sinh Hồ Phương – Trọng Tín (Kyoto)

Kính thưa qúy vị độc giả,

Nhẽ ra tôi không muốn làm mất thì giờ quý báu của qúy vị về chuyên tên du sinh Hồ Phương nào đó bởi đã có quá nhiều bàn luận về vấn đề này, tuy nhiên những phản ứng xung quanh sự kiện này không khỏi làm chúng ta suy nghĩ. Bài viết này không nhằm mục đích khai thác chuyện phân tích xem bên nào đúng, bên nào sai, hoặc bàn về khía cạnh tôn trọng nhân quyền hay không trong quá trình thi hành và bảo vệ pháp luật tại Hoa Kỳ, mà nhắm vào những phản ứng kỳ lạ của những người được gọi là “cộng đồng người Việt tại San Jose” và tụi VGCS.

Như quý vị đã biết, du sinh Hồ Phương bị cảnh sát San Jose bắt vì tội đe dọa tính mạng đến bạn của hắn, nhưng hắn lại tỏ thái độ bất hợp tác với cảnh sát bằng kiểu lăn ra ăn vạ, la lối um sùm (xin mời xem lại kỹ đoạn video trên youtube), tất nhiên là với cách hành xử như vậy thì tất nhiên là phải nhận vài cái bạt tai, hay dùi cui (baton), hay ăn roi điện (taser) vv… đó cũng là lẽ thường trong hành xử của cảnh sát khi những đối tượng bị tình nghi là tội phạm không chịu tuân theo yêu cầu chấp hành hành pháp luật, nói cách khác là chống lại người thi hành công vụ. Tuy nhiên, sự việc có thể coi là “nhỏ như con thỏ” (ngôn ngữ của người trong nước) này lại được làm rùm beng như thể một chuyện “động trời”. Không những chỉ báo chí hải ngoại đưa tin, báo chí trong nước đưa tin, rồi còn thái độ phản ứng dữ dội của cái gọi là “cộng đồng người Việt tại San Jose”, và phát ngôn chính thức của Bộ Ngoại Giao của ngụy quyền VGCS. Hồ Phương chỉ là 1 du sinh nhỏ nhoi, từ trong nước qua San Jose du học, vậy mà dành được nhiều ưu ái quan tâm của ngụy quyền VGCS đến vậy sao? tại sao cái gọi là “cộng đồng người Việt tại San Jose” lại lớn tiếng bênh vực cho Hồ Phương đến vậy? Tất nhiên mọi chuyện đều phải có nguyên nhân của nó, người Việt hay nói “không có lửa, làm sao có khói” là vậy.

Trước hết xin có vài lời nhận xét về bản thân du sinh Hồ Phương. Tôi không biết Hồ Phương là con cái nhà ai? qua Hoa Kỳ du học ở dạng gì (tư phí? học bổng của ngụy quyền VGCS?) tuy nhiên việc Hồ Phương có mặt được ở Hoa Kỳ cho thấy Hồ Phương phải là con cái của những loại có “máu mặt” nói theo ngôn ngữ trong nước là thành phần 5C nghĩa là “con cháu các chó (cụ) cả”. Tất nhiên Hồ Phương không thể là sinh viên nhận học bổng trực tiếp từ chính phủ Hoa Kỳ hay các quỹ học bổng của Hoa Kỳ được vì chính Hồ Phương tự thú là không rành tiếng anh.

Hồ Phương cũng có những phản ứng rất “cậu tú” của những gia đình được coi là có quyền chức hay có tiền dưới chế độ cai trị của ngụy quyền VGCS. Khi bạn của Hồ Phương chỉ đùa bằng cách bỏ bánh xà bông lên miếng thịt bò, Hồ Phương đã cầm dao chỉ vào mặt bạn và nói “ở nước nhà, là tao giết mày rồi” (nhiều tờ báo dịch tiếng Anh ra Việt rằng “ở nước tôi, thì tôi giết anh” – nghe thối không thể chịu được, có người Việt nào nói như vậy không?). Cái kiểu coi trời bằng vung, và sống trên tiền là hành xử của đám “cậu tú”, “cô chiêu” dưới chế độ VGCS. Chỉ có chúng mới có kiểu khinh thường mạng sống của kẻ khác đến như vậy, nói rõ hơn đây là sản phẩm tiêu biểu của kiểu đào tạo “trồng người” kiểu Hồ quốc tặc. Hành động của Hồ Phương cũng rất dễ hiểu nếu quý vị so sánh những chuyện ví dụ như con trai thằng VG Phan Văn Khải rút súng bắn con trai thằng VG Phạm Thế Duyệt vì tranh gái, hoặc đám con gái 16 tuổi lái chiếc BMW 400 ngàn USD gây tại nạn tan tành chiếc xe rồi ung dung bỏ đi, hay khi đi đua xe máy bị bắt và tịch thu xe thì các “người hùng” (mà “anh hùng” Lý Tống rất kỳ vọng trong công cuộc đấu tranh dân chủ cho đất nước) nhơn nhơn không chút hối hận và thêm nữa còn được các bà mẹ cỗ vũ bằng cách an ủi “thôi về đi, mẹ sẽ mua cho con xe khác đẹp hơn” chưa kể là tất nhiên trước đó đã được các ông bố phone đi khắp nơi nhờ quen biết để xin bảo lãnh cho người và xe được an toàn trở về.

Với thói quen sống được nuông chiều và cứ mỗi lần mắc lỗi là lại được thỏa mãn yêu cầu lớn hơn, nên phản ứng dọa giết bạn cùng phòng vì 1 trò đùa cũng là điều dễ hiểu. Hơn nữa tôi dám chắc rằng Hồ Phương dám làm thật nếu như người bạn kia dám làm thế khi ở Việt Nam, bởi vì tại sao phải nói “nếu ở nước nhà”? nghĩa là hiện nay đang ở Mỹ, luật pháp Mỹ rất nghiêm và “ông bô”, “bà bô” (ngôn nhữ của các “cậu ấm”, “cô chiêu” VGCS) của tao không ở đây nên tao không thể giết mày, chứ ở Việt Nam tao làm được, và làm được mà tao không sao hết. Thêm 1 điều nữa do thói quen “làm luật” với “ông bô”, “bà bô” bằng cách lăn kềnh ra, dẫy đành đạch, rồi la khóc ra chiều đau đớn lắm, nên cũng là dễ hiểu cho hành động của Hồ Phương khi bị cảnh sát đến bắt, và chính vì hành động kiểu này đã bị cảnh sát buộc phải khống chế bằng vũ lực. Tóm lại Hồ Phương thuộc loại con nhà có uy quyền hoặc có nhiều tiền do đi làm Việt Gian và được nuông chiều đến mức hư hỏng, mất dạy, và côn đồ. Tôi dám chắc đến 90% rằng hắn được cho sang Hoa Kỳ du học là 1 hình thức giáo dục khi “ông bô”, “bà bô” hắn bất lực trong việc dạy dỗ hắn. Những thành phần kiểu như Hồ Phương vẫn đang được rất nhiều kẻ kỳ vọng , kiểu như đám chống cộng xôi thịt ở Hải Ngoại lý luận rằng “được ra nước ngoài học tập, mở mang đầu óc, thấy được dân chủ trên đất nước Hoa Kỳ, thì sau này sẽ bớt mọi rợ đi”. Hoặc như GS cò mồi Hoàng Tụy vừa rồi với ý kiến thay đổi cơ bản nền giáo dục trong nước để làm sống lại nguồn nhân lực quốc gia bằng cách tìm ra những người lãnh đạo có thực tài và tâm huyết, Hồ Phương chắc cũng là một kiểu mẫu mà Hoàng Tụy đang chờ đợi vì hắn được đào tạo tại Hoa Kỳ.

Chuyện chỉ có vậy, một chuyện rất nhỏ, vài cái bạt tai, vài cú đánh vì không tuân lệnh cảnh sát thôi, nhưng đã có những người “Việt tại San Jose” đánh hơi thấy được rất nhanh và 1 luật sư nào đó tên Nguyễn Hoàng Duyên đã mua lại đoạn video để tung lên báo chí, để rồi sau đó báo chí tại Hải Ngoại tạo ra thành “làn sóng phẫn nộ” và Bộ Ngoại Giao của NQVGCS (ngụy quyền việt gian cộng sản) quan tâm chú ý đặc biệt với sự phát ngôn chính thức của vẹm mái Nguyễn Phương Nga. Tại sao hàng ngàn cô dâu tại Hàn Quốc, Đài Loan đang bị ngược đãi, có người phải nhảy lầu tự tử, hàng ngàn người đang lao động tại Malaysia bị cưỡng bức lao động quá sức, các ngư phủ bị Tàu Cộng bắt cóc đánh đập, phá thuyền bè, rồi những người đi làm thuê giúp việc tại Lebanon cần bảo vệ di chuyển khi có chiến tranh thì Bộ Ngoại Giao NQVGCS không chú ý? Câu trả lời là những chuyện dân đen đó không có lợi cho tập đoàn VGCS, nhưng chuyện Hồ Phương thì có lợi cho chúng.

Nên nhớ rằng dưới chế độ VGCS chuyện phát ngôn của Bộ Ngoại Giao không phải chỉ đơn giản là do Bộ Ngoại Giao quyết định, nghĩa là những lời từ miệng con VG mái Nguyễn Phương Nga không phải chỉ là do tối cao quyết định của VG Phạm Gia Khiêm, mà là do sự thống nhất của Bộ Chính Trị, hoặc chí ít là có sự thảo luận của Ban Bí Thư. Hồ Phương nếu có là con cái cấp bự thì cũng như trường hợp của VG Phạm Thế Duyệt, bố của hắn đành ngậm tăm chịu dựng chứ không dám lên tác động để Bộ Ngoại Giao có sự can thiệp. Dưới chế độ VGCS mọi quyết định đều có sự làm việc tập thể, như vậy cũng là để không có ai phải chịu trách nhiệm trước hậu quả của việc làm và đồng thời là cơ hội để các VG “đồng chí” (đấu tranh) với nhau. Trường hợp của Lê Khả Phiêu là 1 ví dụ, hoàn thành chuyện dâng đất cho Tàu Cộng ở biên giới phía Bắc hắn bị các “đồng chí” của hắn lôi ra làm thịt tại Đại Hội Trù Bị IX, nhưng do quyết định đó đã được thông quan tại Bộ Chính Trị nên hắn công khai nói “việc này tôi thực hiện quyết định của BCT chứ đâu mình tôi” làm cho phe Anh-Mười phải cứng lưỡi đành chuyển hướng sang chuyện “Thanh Hóa hóa” của hắn. Điều này thêm 1 lần chứng minh cho chúng ta thấy tính chất VG của tập đoàn VGCS, không chỉ vài thằng chóp bu trong BCT như con chim mồi Bùi Tín vẫn hót.

Đối với những tên VG có quyền chức càng cao bao nhiêu thì sự yên bình của cái ghế ngồi càng quan trọng với chúng bấy nhiêu. Đã có nhiều thằng VG gộc, vì muốn leo cao hơn trong hệ thống quyền lực của tập đoàn VGCS bèn ra vẻ liêm khiết trong sạch bằng cách đưa con cái của chúng ra vung sâu, vùng xa làm việc để tạo credit cho chúng… giữ ghế. Nhưng ngờ đâu với cái thói nuông chiều, sống trên tiền của các “cậu ấm”, “cô chiêu” chúng nhanh chóng hư hỏng hơn, tỷ dụ như sa vào hút sách, chích choác, thành ra sau khi bố được thăng chức thì con bị nghiện xì ke vô phương cứu chữa. Đưa đến trại cai nghiện thì bỉ mặt bố, mà giữ ở nhà thì ngày một nghiện nặng hơn. Chính vì sự đấu đá khốc liệt trong bộ máy quyền lực của tập đoàn VGCS như vậy mà không it những thằng đại VG chấp nhận hy sinh ngay cả vợ con của chúng. Nếu Hồ Phương có vì là 1 con cái của thằng đại VG nào đó thì chúng cũng không vì thế mà ra tay con trai của chúng. VGCS lên tiếng cho Hồ Phương vì lý do hoàn toàn khác.

Sở dĩ VGCS chộp ngay lấy sự kiện Hồ Phương là vì tháng 9 vừa rồi sau báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chúng đã la ó phản đối rằng đó là một báo cáo sai sự thật rằng chưa khách quan vv… và vv… Mặc dù không bị đưa ngược trở lại danh sách CPC tuy nhiên, chúng cũng không khỏi ấm ức. Tất nhiên là như vậy, bởi lẽ chúng quen nghe những cụm từ ngoại giao như “đánh giá cao sự phát triển của Việt Nam”, “tiến tới hợp tác toàn diện”, “đối tác chiến lược”, “hợp tác lâu dài”, hay “tôn trọng chủ quyền của nhau” vv… Tất nhiên, những màn phản ứng của VGCS và Hoa Kỳ cũng chỉ là màn kịch để bịp dân đen VN mà thôi, như kiểu “bà đưa chân giò thì ông thò chai rượu”. Muốn chơi với Hoa Kỳ, nhưng trên danh nghĩa thực tế vẫn là 1 đám mọi rợ với cách xử sự bị coi là rừng rú, vì không biết đến nhân quyền, nên VGCS cần và rất cần đến những vụ như Hồ Phương để làm khó dễ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong suy nghĩ của chúng chỉ vài hành động là đã có thể chứng minh được bản chất, thực tế chúng không hiểu được rằng chuyện của cảnh sát không liên quan gì đến ngoại giao cả, pháp luật hay sự công bằng thuộc về sự phán xử tại Tòa Án và cho dù có hiểu hay không thì việc la lối lên như vậy theo chúng cũng là có một lợi thế nhất định nào đó. Biết bao nhiêu, sinh viên bị cảnh sát Nga đánh đập tới chết mà tụi nó cũng làm thinh đó thôi. Nếu nhìn những hành động của chúng mà quên đi bản chất VG của chúng thì không thể hiểu được việc làm của tập đoàn VGCS.

Hành động của bọn VGCS thì đã rõ, vậy còn cái gọi là “cộng đồng người Việt tại San Jose”? Thực chất nếu hiểu cụm tự “cộng đồng người Việt tai San Jose” có thể hiểu theo 3 cách. Cách thứ nhất là cộng đồng người Việt tỵ nạn CS cách đây hơn 30 năm đã bất chấp mạng sống vượt biển để đi tìm tự do nay đã chuyển hướng, trở cờ bằng việc “đấu tranh chính trị” với VGCS qua chiêu bài dân chủ hóa để canh tân đất nước. Cách hiểu thứ 2 là cộng đồng của những thành phần đã ra đi theo nhiều cách thức khác nhau với mục đích làm công tác chiêu dụ đầu tư, ngoại vận, tuyên truyền văn hóa để làm vững mạnh “Đảng”. Cách hiểu thứ 3 là cộng đồng người Việt tỵ nạn CS nhưng đã bị thâm nhập trở thành 1 thứ hổ lốn vàng thau lẫn lộn. Nếu theo 2 cách hiểu thứ nhất và thứ 2, thì qua việc Hồ Phương cho thấy cái gọi là “cộng đồng người Việt tại San Jose” đã hoàn thành xuất sắc công việc của chó săn trung thành bảo vệ tính mạng cho “cháu ngoan bac Hồ” và góp phần xây dựng “Đảng” để ngày thêm vững mạnh, chống chọi hữu hiệu với các “thế lực thù địch”. Hành động của cái gọi là “cộng đồng” ấy là chuyện không quá khó hiểu vì lẽ dĩ nhiên chúng đã tự đầu hàng, khuất phục VGCS, hoặc lý do tồn tại của nó là 1 trong những tổ chức của VGCS ở hải ngoại, nhằm phục vụ tập đoàn VGCS với chiến lược đối ngoại của VGCS ở hải ngoại.

Nếu là cách hiểu thứ 3 thì đây thực sự là một sự nguy hiểm, đặc biệt sau sự kiện của Hồ Phương, điều đó cho thấy toàn bộ cái gọi là cộng đồng người Việt ty. nạn cộng sản chân chính đã bị xâm nhập, cô lập hóa để điều khiển theo hướng trở thành các cộng đồng “Việt Kiều” ở hải ngoại, và tụi VGCS đang xử dụng những danh nghĩa như vậy để phục vụ cho lợi ích làm VG của chúng. Đây không phải là một dự báo hoặc chỉ là một phản ánh thực tế mà đã trở thành 1 sự thật cay đắng rằng, người Việt tỵ nạn CS đang dần quên đi mình là ai? mục đích của sự tồn tại bản thân? ý nghĩa của sự tồn tại đó, nói một cách dễ hiểu hơn là người Việt tỵ nạn CS đang thua VGCS ngay tại ngôi nhà của mình. Nếu là những người Việt tỵ nạn CS chân chính chúng ta không có lý do gì để bênh vực cho 1 thằng mất dạy, côn đồ như thằng Hồ Phương, trái lại chúng ta nhận diện rõ những kẻ đang ủng hộ nó là ai? đấu tranh với chúng. Không những thế cần phải ủng hộ cảnh sát San Jose để loại những kẻ “cháu ngoan bác Hồ” như thằng Hồ Phương ra khỏi cộng đồng, cô lập bọn chó săn VGCS tại hải ngoại. Nói ra lúc này đã là muộn, nhưng nếu không hành động thì sự bành trướng của chó săn VGCS sẽ lan rộng nhanh chóng và thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tỵ nạn CS cũng giống như triệu chứng di căn của căn bệnh ung thư vậy.

Trọng Tín (Kyoto).

http://www.hon-viet.co.uk/TrongTin_DangSauVuCanhSatSanJoseHanhHungDuSinhHoPhuong.htm

November 4, 2009 Posted by | Đằng Sau Vụ Cảnh Sát Sanjose Hành Hung Du Sinh Hồ Phương - Trọng Tín (Kyoto) | | Leave a comment