ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

phat-giao-an-quang-toi-bat-dung-tu

Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

« Tội bất dung tử », đó là lời của cổ nhân đã dạy, thì quả đúng, chẳng hề sai, đối với những tên mà đôi tay đã nhuộm đầy máu của đồng bào vô tội, thì bất kể là ai, và cho dù có bị xử chết, cũng không hề xóa hết được những tội ác mà chúng đã gây ra.

Lịch sử đã chứng minh: Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, đã cho mọi người trên quả địa cầu này thấy một cách rất rõ ràng: đã có biết bao nhiêu tên tội phạm, đã từng giết nhiều người vô tội, dù cho có bị bêu đầu, treo cổ, nhưng mãi mãi vẫn còn bị người đời nguyền rủa.

Riêng tại Việt Nam, kể từ khi tôi đã đủ trí nhớ, vào một thuở thanh bình, của những năm đầu tiên của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Thời kỳ ấy, đối với tôi là những tháng năm êm đềm nhất, tôi đã được sống giữa những tiếng cười, câu hát vang vọng giữa ngàn dâu. Thế nhưng, kể từ khi cái « Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam » đã ra đời vào ngày 20-12-1960. Và đó, cũng là lúc những người dân hiền hòa của quê hương tôi, đã phải sống và chứng kiến với những cảnh lữa khói ngút Trời, những tiếng khóc thay cho tiếng cười. Riêng tôi, không bao giờ quên được trong một lần chạy giặc, vào mùa hè 1972, lúc đó quận Tiên Phước đã bị Việt cộng đánh chiếm và kiểm soát hoàn toàn, nên mọi người phải cùng nhau chạy xuống thị xã Tam Kỳ, có người đã chạy ra Đà Nẵng, thì tại Núi Sấu, thuộc xã Phước Tiên, quận Tiên Phước, Quảng Nam; tôi đã nhìn thấy một người lính Nghĩa Quân, là một người chồng đang quỳ bên thân xác của người vợ đã bị trọng hương sắp chết, người vợ trẻ đã thì thào nói với chồng:

« Anh hãy mau mau bồng con chạy trốn đi, vì em biết rằng mình không sống được nữa, nếu anh cứ bịn rịn, thì cả vợ chồng và con cái phải đều chết hết, anh phải sống vì hai đứa con của mình ».

Trước cảnh tượng thương tâm ấy, thì những người cùng chạy giặc, cũng đều thúc hối anh phải nghe theo lời của vợ, vì anh và mọi người không ai có thể làm gì được khi chị ấy đã sắp chết. Vì thế, người lính Nghĩa Quân đã phải quỳ xuống đất bên xác vợ, và đã chắp hai tay mà cứ cắm đầu, cúi cổ lạy người vợ trẻ, lúc đó đã hôn mê, rồi anh được bà con dìu anh đứng dậy và đã tay bế, tay dắt hai đứa con thơ, đứa lớn là một bé trai chừng bốn tuổi, còn đứa nhỏ là một bé gái chưa biết đi. Anh đã bước đi trong nước mắt của anh hòa cùng tiếng khóc cảm thương của đồng bào. Tôi không biết, rồi sau đó, anh có còn tìm lại được nắm xương tàn của người vợ trẻ hay không, tôi cũng không biết giờ này anh đang ở nơi đâu? song hình ảnh ấy, nó đã khắc sâu trong tôi cho đến bây giờ, và mãi mãi.

Vậy, « Đoạn trường ai có qua cầu mới hay », nên tôi thiết tha xin những ai chưa hề nếm trải những đau thương, chưa hề là nạn nhân của những thảm cảnh tử biệt, sinh ly, và không chứng kiến với những màn đánh, giết người, dập đầu, treo cổ, còn ác độc hơn cả loài lang sói, thì xin hãy lặng thinh, trước những đớn đau của những người khác, hãy để cho những người đã từng sống từng đau khổ, họ được nói lên những điều mà nhiều người chưa biết.

Và chính tôi, tôi là một phụ nữ yếu đuối, song đã từng nếm trải hết những mùi tân khổ, đã sống qua những tháng năm dài trong đớn đau và đầy nước mắt. Chính vì thế, nên tôi đã thấu hiểu được những nỗi đau của những người đồng cảnh ngộ, thì giờ đây, tôi phải được nói, nói lên tất cả những tang thương của những đồng bào ruột thịt của tôi, tôi phải nói thay cho những người đã chết một cách tức tưởi, và những người còn sống với vô số những oan khiên, nhưng họ không thể cầm bút để viết lên được những nỗi đớn đau của chính mình. Tôi xin thành tâm để được nói, xin mọi người, trong đó có những người thân của tôi, nếu không muốn nói, thì cứ xem tôi là người xa lạ, chứ đừng nên trách móc gì tôi.

Tại sao tôi đã gọi: Tội ác của Võ Văn Ái: « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều Hải ngoại » và Thích Nhất Hạnh, qua ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa? »

Tôi xin thưa: Như mọi người đã thấy, tất cả các tòa án ở những quốc gia dân chủ- văn minh trên thế giới, một khi đã đem một phạm nhân ra để xét xử, họ đều phải truy nguyên từ nguồn gốc của tội ác, cùng mức độ gây ra trọng tội. Nhưng, tại Việt Nam, đã mấy chục năm qua, nhưng những kẻ đã từng xuống tay sát hại dân lánh, từng dập đầu, treo cổ trẻ thơ, từng đốt nhà hàng loạt, mà vẫn không hề đối đầu với luật pháp, và những nạn nhân có đi đến kêu cầu công lý, thì cũng chỉ được nghe những lời « chia xẻ » mà thôi.

Cũng vậy, ta thử truy nguyên về những tội ác của Phật giáo Án Quang đã gây ra, đã giáng xuống cho hàng vạn người dân lành vô tội không phân biệt nam, phụ, lão ấu!!!

Ở đây, tôi sẽ bắt đầu từ cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa », vì đó là thời gian tôi đã trưởng thành. Với cuốn « sách » này đã có bàn tay của Võ Văn Ái, lúc đó là đệ tử của Thích Nhất Hạnh, Y đã viết lời « Tựa », trong lúc giữ chức: « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều Hải ngoại, tức là một đảng bộ của « Phật giáo Xã hội đảng » đã được thành lập tại hải ngoại và đã «đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu » với « Trung ương Phật giáo Xã hội đảng » ở trong nước. Một cuốn sách đã được viết ra với tất cả những điều láo khoét, từ chiếc xe bò với người thiếu phụ cùng đứa con thơ và bà mẹ già, cho đến chuyện máy bay của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh đã bắn giết, đốt nhà của đồng bào, tất cả đều hoàn toàn là bịa đặt.

Nhưng, cuốn ngụy thư này, lúc đó đã được thầy trò của Thích Nhất Hạnh là những tên phản chiến, đã đem dịch ra nhiều ngoại ngữ, và đem phổ biến khắp nơi, để rồi giới chính khách ngoại quốc, cũng như ngoại nhân vì không biết gì về cuộc chiến tại Việt Nam, nên tất cả họ chỉ biết những điều qua cái lời « TỰA » của Võ Văn Ái và của Thích Nhất Hạnh. Chính vì thế, mà họ đã đứng về phe phản chiến, họ đã mất đi thiện cảm với Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa và cả những người chiến sĩ đang chiến đấu để bảo vệ Miền Nam Tự Do, trong khi cộng sản Bắc Việt đã ồ ạt xua quân vào miền Nam và giữa lúc những người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương gối súng ở những nơi rừng sâu, núi thẳm; có những lúc đơn vị của họ đã bị rơi vào vòng vây của địch, họ đã phải chịu đói, khát, có khi giữa sự sống -chết họ đã phải mở đường máu để vượt khỏi vòng vây; và vì thế đã có không biết bao nhiêu người chiến sĩ đã phải vĩnh viễn bỏ mình nơi chiến địa!!!

Và đó, chính cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa » đã được phát hành rộng rãi tại hải ngoại, là một nhát dao chí mạng mà Võ Văn Ái và Thích Nhất Hạnh, đã đâm đằng sau lưng của tất cả quân -dân Miền Nam Tự Do. Còn hiện nay, về câu chuyện của « Tăng thân Bát Nhã », thì tôi muốn nói rằng: một lần nữa Thích Nhất Hạnh hãy dừng ngay những việc làm bất nhân thất đức, là đừng lấy những « tăng thân » để làm « phương tiện cho cứu cánh … ».

Trở lại với thời kỳ trước 30-4-1975, thì tại quốc nội, từ những tên cầm đầu của « Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất » tức Ấn Quang như: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Trí Thủ, Thích Quảng Độ, Thích Thiện Minh, Thích Đức Nhuận, Thích Thiện Hoa v…v… tất cả cũng đã đều liên thủ với Việt cộng kể từ những năm đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, cho đến sau này, Phật giáo Ấn Quang đã gây ra vô số tội ác, mà cho dù có chết đi rồi, thì vẫn không bao giờ được dung thứ.

Và để chứng minh cho những hành vi làm giặc của Phật giáo Ấn Quang, thì tôi xin trích lại những lời của Thích Quảng Độ đã viết trong cuốn ngụy thư thứ thứ hai: « Nhận định những sai lầm tai hại của đảng cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam Thống nhất», cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và phát hành, trong đó có những điều nó chẳng hề có liên quan gì đến cái tựa đề của cuốn sách như sau:

« Chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng trở nên độc tài, gia đình trị và có tính kỳ thị tôn giáo, nên ít được lòng dân. Sau khi đã tiêu diệt các tôn giáo khác, như Cao Đài, Hòa Hảo, năm 1963, ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam đã phải đứng lên chống lại để bảo vệ đạo pháp. Đến tháng 11-1963, chế độ ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ ».

Và rồi đến ngụy thư thứ ba lại cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và đã đăng trên báo « Quê Mẹ » số 113, trang 06, tháng 06 năm 1995, với cái tựa đề:

« Bằng đôi chân của mình mời người hãy đi lên », của Thích Đức Nhuận « nguyên Tổng thư ký Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất » tức Ấn Quang.

Mở đầu Thích Đức Nhuận đã viết:

« Tôi viết những dòng chữ dưới đây thân gửi những tâm hồn luôn luôn thao thức đến tiền đồ Dân tộc và Đạo pháp, dù bạn hiện ở trong nước hay ở ngoài nước, xin hãy hướng lên Đức Phật từ bi cao cả nguyện cầu cho Tổ quốc và đồng bào thân yêu của chúng ta: sớm chấm dứt mọi hận thù, biết tha thứ và yêu thương nhau để cùng chung sức chung lòng góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Quang Vinh ». (sao nghe nó sặc mùi cộng sản, lúc nào và cái gì cũng dùng hai chữ « quang vinh ».)

Những lời nói trên của Thích Đức Nhuận, cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và phổ biến, từ tháng 6 năm 1995; đây đích thực là lời kêu gọi mọi người hãy xóa bỏ hận thù mà Hòa hợp- Hòa giải vô điều kiện với Việt cộng, mời quý độc giả hãy đọc thêm một lần nữa: « …dù bạn hiện ở trong nước hay ngoài nước, hãy sớm chấm dứt mọi hận thù, biết tha thứ và yêu thương nhau để cùng chung sức chung lòng góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Quang Vinh ».

Đến trang số 09, Thích Đức Nhuận viết tiếp:

« Năm 1963, Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, đòi tự do và bình đẳng tôn giáo và được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ. Bạo quyền mang đặc tính kỳ thị tôn giáo sụp đổ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập ».

Nên ghi nhớ, vào đại hội thống nhất Phật giáo năm 1981, Thích Đức Nhuận đã được bầu lên ngôi « Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cộng sản ».

Qua những lời của chính Thích Đức Nhuận đã viết. Thì rõ ràng là Thích Đức Nhuận đã công khai nhận trách nhiệm của Phật giáo Ấn Quang với câu nói: « Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ… » là để đánh đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Điều quan trọng hơn cả là: « đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Như thế, đã quá rõ ràng, đã quá sáng tỏ, để cho mọi người hiểu được rằng: Phật giáo Án Quang « phát khởi cuộc vận động chống chế độ và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Nghĩa là gồm cả cộng sản Bắc Việt.

Tôi cũng biết trước, sẽ có những tên ngu đần, láo khoét, gian manh, lừa bịp chúng sẽ biện minh một cách ngu xuẩn rằng: « Từ Bắc chí Nam là gồm những người Bắc di cư và đồng bào miền Nam ». Nên biết, sau ngày 30-4-1975, khi người Việt Nam vượt biển đến HongKong; thì chính Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã xếp những đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam và đồng bào miền Nam là một, vì tất cả đều là những công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và họ đã ở chung một trại; còn những người vượt biển từ miền Bắc họ phải ở riêng một trại khác. Trừ một vài trường hợp đặc biệt mà thôi.

Trên đây, là những điều mà tôi muốn phân tích cho lũ lưu manh, để chúng đừng có ngu đần mà có thể ngụy biện cho những lời của Thích Đức Nhuận đã được Võ Văn Ái giới thiệu trên báo « Quê Mẹ ». Chúng ta phải biết, vào thời điểm 1963, mà Thích Đức Nhuận đã nói: Phật giáo Việt Nam (chứ không phải là GHPGVNTN) đã phát khởi cuộc vận động chống chế độ… và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ », là Thích Đức Nhuận đã nói đến địa dư của cả nước. Vậy, ta hãy nghe Thích Đức Nhuận nói thêm một lần nữa: « Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm… và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ », thì ta phải biết trong đó có cả cộng sản Bắc Việt. Điều này, tôi chắc chắn, cho dù có đến cả ngàn « ông » Luật Sai Đinh Thạch Bích, cũng không làm sao có thể biện minh nổi cho những lời của Thích Đức Nhuận đã được Võ Văn Ái giới thiệu trên báo Quê Mẹ.

Phật giáo Ấn Quang: Tội Bất Khả Nguyên.

Tội bất khả nguyên: Nghĩa là tội không đáng hay không thể nguyên lượng được. Bởi những tội ác của Ấn Quang quá lớn, trong đó có những tên đã cầm gạch, đá, gậy gộc và cầm đao, cầm súng để sát hại dân lành. Ngoài ra còn có những tên « cư sĩ » như: Lê Văn Hảo, Nguyễn Đan Quế, (tôi sẽ có bài viết những việc làm của Nguyễn Đan Quế lúc có mặt tại Pháp) ) Đoàn Viết Hoạt v…v… Riêng Lê Văn Hảo đã từng ở trong cái « Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam » của Võ Văn Ái, cũng đã từng đi trong « phái đoàn » của Võ Văn Ái đến Trụ sở của Liên Hiệp Quốc tại Thụy Sĩ để « tranh đấu ». Tôi vẫn còn lưu giữ những số báo Quê Mẹ, trong đó, có bài « tường trình » về chuyện đi « tranh đấu » của Lê Văn Hảo và Võ Văn Ái. Vì vậy, Võ Văn Ái cũng là một trong những tên đã nhúng tay vào tội ác. Tội ác không phải chỉ có riêng cho những tên đao phủ, mà kể cả những kẻ đã đứng đằng sau của những tên đao phủ, và Võ Văn Ái đã từng đứng đằng sau của những tên đao phủ ấy, Võ Văn Ái đã đâm sau lưng các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong lúc họ đang đem máu xương để bảo vệ đồng bào và Miền Nam Tự Do. Nên nhớ, Võ Văn Ái chưa hề và không hề làm một việc nhỏ nào để góp phần vào công cuộc « Bảo Quốc An Dân » suốt trong cả chiều dài của cuộc chiến Quốc-Cộng tại Việt Nam, mà Võ Văn Ái đã tìm cách để ra hải ngoại từ thời Đệ Nhất VNCH, để chỉ cùng Thích Nhất Hạnh thành lập ra tổ chức « Phật giáo Việt kiều hải ngoại », mà Võ Văn Ái đã giữ chức « Tổng thư ký Ban chấp hành Trung ương Phật giáo Việt kiều hải ngoại » và để viết cuốn ngụy thư « Hoa Sen Trong Biển Lửa » để hô hào phản chiến, đòi Mỹ rút quân và không ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa, để rồi kết quả là Miền Nam Tự Do đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội. Như thế, không phải là một tội ác là cái gì nữa chứ???

Ngoài ra, ta cũng phải biết, trong suốt chiều dài của cuộc chiến Quốc – Cộng, thì tất cả những tên thầy chùa, những tên « cư sĩ » ở trong và ngoài nước, một lần nữa tôi nhắc lại: chúng đều « đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ». Cả lũ Ấn Quang đã từng liên thủ với cộng sản Hà Nội, để đánh đổ cả hai Nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, cho đến trước những ngày 30-4-1975, bọn Ấn Quang đã đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước cộng quân vào các thành phố của Miền Nam, rồi chúng cũng đã tổ chức « Lễ mừng chiến thắng của cách mạng » ngay tại chùa, đồng thời cũng đã tổ chức « Lễ mừng sinh nhật tên đại việt-gian Hồ Chí Minh » cũng ngay tại các chùa. Để rồi sau đó, có một số vị là Dân-Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa, họ đã bị Phật giáo Ấn Quang giết chết, trước khi Việt cộng tiếp thu chính quyền của miền Nam, mà tôi đã viết qua bài: 30-4-1975: Máu và Nước Mắt. Và người dân của miền Nam họ cũng đã bị đày đọa ở trong và ngoài nhà tù của cộng sản cho đến cùng cực của nỗi đớn đau.

Chính vì thế, nên đã có không biết bao nhiêu vị đã bỏ mình trong các nhà tù « cải tạo » của Việt cộng, có nhiều vị khi ra khỏi nhà tù đã trở thành những tấm thân tàn phế!

Rồi đến thảm cảnh vượt biên, vượt biển cũng đã có không biết bao nhiêu người, kể cả trẻ thơ đã chết trên con đường vượt thoát nhà tù Việt cộng. Họ đã chết ở những nơi nào? nắm xương tàn của họ đã vương vãi đâu đó trên bìa rừng của biên giới Thái- Miên, hoặc đã làm mồi cho cá dưới đáy biển, và đau thương nhất vẫn là những cái chết hãi hùng của những em bé gái, các em đã chết bởi những bàn tay của hải tặc, rồi thân xác của các em đã bị ném xuống biển khơi. Những thảm cảnh, bi thương ấy, thử hỏi giấy mực nào, ngôn từ nào của nhân loại để kể cho hết tội của Phật giáo Ấn Quang. Chúng ta phải biết rằng, bọn việt gian cộng sản giết hại dân lành là việc làm bình thường của chúng, kể từ những cuộc « cách mạng » có máu đổ đầu rơi, từ « Cải cách ruộng đất » đến « Nhân Văn Giai Phẩm » v …v…, cả thế giới này đều biết. Nhưng, Phật giáo Ấn Quang đã nhân danh là « tôn giáo » mà đã xuống tay một cách tàn ác, dã man để giết hại những người dân lương thiện, trong đó có một thiếu niên Lê Quang San đã bị «Quân Đoàn Vạn Hạnh » đánh đập đến mềm xương, rồi bắn em gục chết ngay trước cổng chùa Pháp Lâm, tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Quảng Nam-Đà Nẵng, tức Ấn Quang, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

Chính vì thế, nên giờ đây, tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính, họ phải nói, phải viết lại tất cả những gì mà họ đã chứng kiến, và đó là tiếng nói của lương tri của một con người. Những điều này hoàn toàn không có một chút gì gọi là đánh phá tôn giáo hay Phật giáo, vì chẳng có ai động tới « Phật- pháp » cả, mà chỉ vì Phật giáo Ấn Quang đã từng liên thủ với cộng sản Hà Nội trong suốt mấy chục năm qua, để rồi đã đưa đến những thảm cảnh, những cái chết vô cùng đau thương của người dân Việt. Như vậy, còn gì để nói, để trách tôi và khuyên tôi nên thế này, thế khác? vì tôi chỉ là một phụ nữ yếu đuối, và chỉ là một người chỉ biết cầm bút để viết lên những gì mà mình đã chứng kiến. Tôi đã ghi rõ họ, tên, chánh trú quán của từng nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của Phật giáo Ấn Quang, chứ tôi không hề thêm bớt một điều gì cả.

Vậy, cũng nhân đây, tôi muốn nói với cả lũ gian manh kia, là ta đây, chưa bao giờ và không bao giờ biết sợ những cái thứ nhảm nhí như: Thư, ếm, bùa, ngải, đặc biệt là những trò giả phù thủy, với những tiếng kêu réo « gọi hồn », mỗi lần kêu tên người ta ra mà rủa sả và « nộp hồn » nghe giống như những tiếng tru của những con Chó Sói đang ngửa mõm để sủa trăng. Nói thật nhé, ta đây, đã từng đi đến từng chiếc giường bố của nhà binh, để vuốt mặt cho rất nhiều vị là những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã bị tử trận, khi họ đã được trực thăng đưa thân xác của họ trở về đơn vị. Nói tóm lại, là ta không biết sợ ma, và không bao giờ tin, và không bao giờ sợ những tên phù thủy bịp.

Và để trả lời một lần cho rõ là tại sao tôi đã viết là TỘI ÁC ở trong một bài trước:

Vì chính những tội ác mà bè lũ Ấn Quang, trong đó có những tên « cư sĩ » như Lê Văn Hảo,Võ Văn Ái, Nguyễn Đan Quế v…v..; đã gây ra, trên khắp nẻo đường của đất nước, mà cho dù có lấy hết nước của đại dương cũng không bao giờ rửa cho hết tội. Vì thế, nên tôi mới cả quyết: Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_PhatGiaoAnQuangToiBatDungTu.htm

September 30, 2009 Posted by | Phật Giáo Ấn Quang: Tội Bất Dung Tử - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền | | Leave a comment

súc vật thích nhất hạnh phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh trong phật giáo ấn quang súc vật

suc-vat-thich-nhat-hanh-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh
súc vật thích nhất hạnh phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh trong phật giáo ấn quang súc vật


ĐÔ LA TRONG BIỂN LỬA ! – TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net)

” BẢ NHÁT Chân không, lừa BÁT NHẢ.
GIÀ ĐI Nhất Hạnh, phỉnh DI ĐÀ”

Một người trong lớp áo tu sĩ, núp bóng Phật Giáo, thuộc khối Ấn Quang là Nguyễn Xuân Bảo, hay có tài liệu gọi là Nguyễn Đình Bảo, sinh năm 1926 tại làng Minh Hương, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, tuy nhiên chánh quán thì ở Thanh Hóa, và bên ngoại thuộc làng Lệ Lộc, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Từ năm 1942, không biết có giác ngộ thật sự hay là những lý do thầm kín nào, mà chàng thanh niên nầy” cạo đầu” mặc áo cà sa, nhưng chưa hẳn là” cầu đạo” như một số người muốn tim đường giải thoát khỏi kiếp luân hồi. Chàng tu sĩ trẻ ở nhiều chùa tu học, đầu tiên là chùa Bảo Quốc, rồi Từ Đàm, Từ Hiếu… đó là tu sĩ Thích Nhất Hạnh, có hiệu là Trừng Quang, học đạo và học chữ tại chùa, nhờ tiền” cung dưỡng” của Phật tử, biến thành” cúng dường” cho có vẻ là linh thiêng nên trở thành mối lợi lớn giúp giới thầy tụng, thấy cúng trở thành tư bản Phật Giáo, là do Phật tử đầy lòng” trọng Phật kính tăng” một cách máy móc” đãnh lễ” trường kỳ.

Đến năm 1959, đổ bằng cử nhân văn khoa tại Sàigòn và năm 1961 được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp học bổng du học tại tiểu bang New Jersey, với môn” Tôn Giáo Đối Chiếu” tại đại học Princeton. Tuy nhiên, tu sĩ trẻ nầy chỉ được giới Phật tử biết đến sau khi xuất bản quyển sách mang tựa là:” Đạo Phật Ngày nay”, nên sư trẻ được” bưng bợ” khá kỷ, không biết do các thế lực đen, thế lực đỏ nào” trèo cao, lặn sâu” trong hàng chức sắc cao cấp lãnh đạo như Thích Trí Quang, Thích Minh Châu…nên được” đặt cách” cho vào ngồi trong” chiếu chiếu manh tự biên tự diễn” một cách” không người lái” trong nhóm Thiền Vi được Phật tử thời đó tôn sùng phong trào” trí thức Phật Giáo” cùng với Phạm Công Thiện (được tâng bốc là triết gia, nghe đâu đi tu không phải vì giác ngộ mà là không muốn tham dự vào công cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc? Nay hoàn tục), Tuệ Sĩ, Phạm Thiên Thư, Trụ Vũ…..

Sư trẻ đã sớm giác ngộ chân lý” triết học Marx Lenin bách chiến bách thắng, vô địt, ra địt, sáng địt, chiều địt, địt tứ thời mãi, bất kể mùa nào của chủ địt Hồ Chí Mén dạy đĩ” nên nghe đâu từng vào rừng Tây Ninh để” tầm đảng học Bác” sau trở thành” tu sĩ nói sảng” mà lòng tự mãn là” cao tu” lẫn” tu cao” theo cái thiền định theo” định hướng xã hội chủ nghĩa” hổ trợ cho Mặt Trận Dân Hại Khủng Bố Miền Nam, nhằm ru ngủ, kêu gọi thanh niên trốn lính để lo báo hiếu, là tuyệt tác” Bông Hồng Cài Áo” và hình như sau 1975, được các đỉnh cao trí tuệ loài đười áp dụng trong việc dùng khẩu trang bịt miệng nằm dọc của phụ nữ miền Nam vào mỗi tháng có vấn đề” hội ý” có treo cờ đỏ trước cửa hang Pác Pó, thế là trở thành” Tã Hồng Cài Háng”, mỗi khi đi ngang qua đống rác, bị đổ thừa là” do tàn dư chế độ Mỹ-Ngụy để lại”, trong công việc phòng chống dịch tể, ôn dịch vật.

Với tiếng tăm, nên được cấp trên cho dạy vài giờ ở Đại Học Vạn Hạnh và nơi nầy sư trẻ đã sớm” giác ngộ” chân lý trong việc” đi sát đáy quần Hồng” mà đắc quả” thiền Tiếp Hiện” cũng với một Phật tử trẻ gốc Bến Tre, có tên Tây là” Đóa Hoa Nhỏ” ( Fleurette), cả hai cùng nhau” điều phối” luyện tập môn thiền, áp dụng nguyên tắc” Khí và Công” trong” âm-dương giao hợp hòa giải” theo định hướng” tâm thân trường khoái lạc” để tìm về bến giác, mà mục đích yêu cầu tối thượng của môn tu nầy là biến Bể Khổ thành” bể sướng” là cái NHÂN và đưa đến cái QUẢ là biến chúng sanh thành chúng đẻ. Chính vì sự giác ngộ và đắc quả” đạo ù ù” trong thiền Tiếp Hiện, hai người dường như cũng đã cùng” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường” của tập” đồ hình Tố Nữ” mà sư Tàu Thích Đại Sán mang dâng cho chúa Nguyễn Phước Chu để được” cúng dường” 5 ngàn lạng vàng, nên các sư” thượng cấp” và sư thủ trưởng như Thích Minh Châu….cảm thấy” thanh tâm trường lo sợ” nên bèn đưa qua Pháp để” tu hành” và đến sau 1968, thì tín nữ” Chưn Không” được đưa sang để cùng nhau” tịnh thất” dài dài cho đến ngày nay.

Từ khi ra ngoại quốc, hợp cùng với cư sĩ Võ Văn Ái, trong phong trào phản chiến, phụng sự bác đảng” hoạt động tích cực; vào năm 1967, Nhất Hạnh động não, động bi, động” giái”… cho ra cuốn” Hoa Sen Trong Biển Lửa”, mà theo diễn đàn Tôn Giáo Á Châu tiết lộ là được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng, nên đây là tài liệu” cực kỳ dối trá” để chụp mũ chính quyền miền Nam đàn áp tôn giáo, bất kể năm 1966, miền Nam do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ điều hành với chức” chủ tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương, là một” đứa con Phật” ( Buddha Child), nào có đàn áp Phật Giáo, thế mà cũng làm loạn” biến động Phật Giáo Miền Trung” với chiến dịch mang bàn thờ Phật xuống đường, giết người, mưu toan tách rời miền Trung để dâng cho Việt Cộng. Hoa Sen Trong Biển Lửa, xuyên tạc, chụp mũ miền Nam tự do, vu khống tổng thống Ngô Đình Diệm, nói toàn là chuyện bia đặt, không bao giờ đá động tới sự đàn áp tôn giáo dã man và” cực kỳ tàn bạo” ở miền Bắc do chế độ vô thần, còn cho tên Hồ Bất Nhân là yêu nước, nên quyển sách nầy được đánh giá là” cực kỳ lếu láo”, một thời được giới báo phản chiến khuynh tả dùng làm tài liệu để xuyên tạc cuộc chiến bảo vệ lý tưởng tự do của dân quân miền Nam và đồng minh. Được biết, thời hội đàm tại Paris, Nhất Hạnh cùng với cư sĩ họ Võ, một số tay tả phái gốc Vẹm, Việt kều yêu nước… biểu tình, đánh phá, ủng hộ cho Cộng Sản. Cuộc chiến Việt Nam vào những tháng cuối cùng, cũng bị đánh phá đồng nhịp với” mục đích yêu cầu” của Cộng Sản, sau khi hiệp định Paris ra đời vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, nên vào tháng 10 năm 1974, Thích Nhất Hạnh dùng diễn đàn Phật Giáo ở Tokyo để kêu gọi Mỹ rút hết quân hết để cho Việt Cộng dể” tiến vào Saigon, trận cuối là trận nầy” và ý đồ ấy đã biến thành hiện thực

Sau năm 1975, thì Thích Nhất Hạnh cùng với các tu sĩ bỗng trở thành” tịnh khẩu” trước sự đàn áp tôn giáo dã man, trong đó có phật Giáo, tuy nhiên lòng vẫn luôn giác ngộ đảng, đạt quả Bác, nên lúc thời cơ thuận tiện là” phát huy”, đó là lúc Hoa Kỳ thời nhiệm kỳ đầu của tổng thống George.W.Bush, bị khủng bố tấn công ngay trên đất Mỹ và mở cuộc tấn công vào sào huyệt Al Qaeda, Thích Nhất Hạnh bèn bay sang Mỹ, bỏ ra 45 ngàn Mỹ Kim để đăng báo, tiếp tục đánh phá quân dân miền Nam và đồng minh, dù cuộc chiến đã đi qua, đúng là thù dai như Việt Cộng, nên Nhất Hạnh lếu láo với luận điệu như trước, dù chuông có thể bể, mõ có thể rè, song lối láo khoét không bao giờ thay đổi: Trong trận Tết Mậu Thân 1968, có vài du kích bắn vu vơ ở dưới, mà Mỹ đem bom dội, tàn phá cả tỉnh Bến Tre, làm hư hại 300,000 căn nhà…. đây là lối đánh trống lảng để khỏa lấp tội ác của đảng Cộng Sản, tàn sát hơn 4 ngàn thường dân ở Huế trong trận nầy và đây cũng là đòn thâm độc nhằm tạo sự thù ghét của dân Mỹ đối với người tỵ nạn Việt Nam, khi có sự hiểu lầm là” Nhất Hạnh là người Việt” lại phản đối cuộc chiến chống khủng bố ở A Phú Hãn. Vẫn một lòng” trung với đảng, hiếu với bác, Phật tử nào cũng đánh lừa, tiền cúng dường nào cũng thu gom, lợi lộc nào cũng ôm hết” như mục tiêu: ” đảng cần Nhất Hạnh có, đảng khó có Nhất Hạnh”, thế là sư trở về 2 lần, nhất là lần sau cầu siêu” hòa hợp hòa giải” giữa những người vị quốc vong thân và hồn ma đám bộ đội, khủng bố, công cụ đảng, quân hại nhân dân, tiếp tay bán nước cho ngoại bang.

Thích Nhất Hạnh được đánh bóng tối đa, một thời sôi nổi về vụ một nhà tỷ phú Ấn Độ, bỗng giác ngộ quyển sách” Đường Xưa Mây Trắng” và muốn quay thành phim, được tờ báo Người Việt ở California, ở Úc có đài SBS đánh bóng tối đa. Vụ nầy gây ồn ào và nay thì” xin thời gian qua mau” khi dối trá càng cao, nên nay coi như là” Đường Xưa Mây Xám”. Tuy nhiên ý đồ phong quân hàm” bồ tát” vẫn được tiếp tục, nên trong số những người mê thầy, có người tin là Nhất Hạnh là Phật Sống như đức Đạt Lai Lạt Ma ở Tây Tạng; tuy nhiên, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng khẳng định trên hệ thống truyền thông thế giới là” tu sĩ bình thường” ( humble monk) chớ hổng phải là” living Buddha”. Đài tàn hình SBTN ở Hoa Kỳ, có lần đưa đệ tử của Nhất Hạnh là Hoằng Trường lên quảng cáo và người nầy phong Nhất Hạnh với quân hàm” bồ tát” tại thế.

Trong những tháng giữa năm 2009, bỗng nhiên tình hình sôi động như câu:” chơi dao có ngày đứt tay” là vụ tu viện Bát Nhả ở tỉnh Lâm Đồng, sau khi tình ĐỒNG ĐẠO thành ĐÀO-ĐỘNG giữa các phe trong” Phật Giáo theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nổ lớn tại Việt Nam. Theo nhận định khách quan, thì Đảng cướp Cộng Sản không bao giờ có tình nghĩa, mà chỉ có tranh chấp, giành giựt quyền lợi, nên tình ĐỒNG CHÍ luôn trở thành ĐÌ CHỐNG giữa các phe thân Nga, Tàu trước đây và nay kéo dài, đám cán bộ quyền lực bị đám vô quyền, phục viên chống để tranh giành; đám vô quyền khéo léo, ngụy trang, biến thành phản tỉnh, chống tham nhũng, các đồng chí cầm quyền, nên người Việt hải ngoại cần thận trọng, coi chừng bị lọi vào cuộc tranh chấp nội bộ đảng, thì làm sao có dân chủ tại quê hương?.

Do đó, hai phe mạo danh Phật ở trong nước và hải ngoại có lúc cũng phải” cạo đầu, rủ áo cà sa mà ra đi” cũng là điều nằm trong vòng” qui luật” của đảng, nên từ đó mới có tình trạng đạo đức Phật Giáo ngày nay:” không có tình đồng đạo vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi mà thôi”. Ban đầu, thượng Tóa Thích Đức Nghi sang tận Làng Mai hợp tác trong tình thần” hữu nghị” như chuông với mõ, như tương với chao và được tài trợ về Việt Nam, phát triển thiền” Tiếp Hiện” và được Làng Mai đã chi ra tới 14 tỷ đồng bạc Hồ Chí Mén, xây dựng tu viện Bát Nhả tại tình Lâm Đồng có vẻ qui mô, tiện nghi, và con số môn sinh lên đến 400, gần một tiểu đoàn” tăng sinh” thân làng Mai vừa tu vừa tập và đương nhiên được bên ngoài hổ trợ tài chánh từ bên ngoài….rồi bỗng nhiên đất bằng dậy sóng qua việc các lực lượng công an và xã hội đen, hình như là cũng nằm trong giáo hội nhà nước, cũng là” bầu bạn Làng Mai” cả, đồng loạt mở cuộc” tổng công kích vào tu viện Bát Nhả” làm tả tơi tiểu đoàn tăng sinh gốc làng Mai….

Việc nầy cũng không khác gì thời 1979, Trung Cộng dạy cho đàn em theo Liên Sô là Việt Nam một bài học, dù hai nước đều có chân trong Liên Hiệp Quốc, nhưng Việt Cộng” đéo dám la” mà chỉ hát hò trong nước bằng bài :” không được đụng tới Việt Nam” hay cùng lắm là chửi một mình trên các đài phét thanh nội địa:” bọn lưu manh bành trướng Bắc Kinh với mộng bá quyền”. Kỳ nầy, trước sức tổng tấn công tu viện Bát Nhả bằng các” lực lượng chánh qui công an, du kích côn đồ..” qua sự: nhất trí” của giáo hội trong nước; nhưng làng Mai phản ứng nhẹ nhàng là” cầu nguyện” thì” tình hình làm gì đổi ngược được?”. Trước 1975, khối Ấn Quang, là đồng đạo và cũng là đồng chí của Nhất Hạnh, vu khống, xuyên tạc chính phủ, quân dân miền Nam, họ hành động mạnh: biểu tình, mang bàn thờ Phật xuống đường, đánh phá, tự thiêu, phao tin đồn nhảm để gây kích động hận thù giữa Phật và Thiên Chúa và ở hải ngoại, Nhất Hạnh, Võ Văn Ái….biểu tình chống miền Nam và thế giới tự do, nhất là tại hội đàm Paris…nay thì phản ứng quá yếu, chỉ cầu nguyện và tối đa là vận động xin chữ ký ( lối nầy của băng đảng Con Chim Không Cánh làm từ hơn 20 năm qua, mà không bao giờ có kết quả). Nếu muốn giống lên tiếng chuông làng Mai, thật sự phản đối cảnh đàn áp tu viện Bát Nhả, thì làng Mai có hành động cụ thể như:

-Huy động tăng thân, tăng sinh….biểu tình trước sứ quán Việt Cộng tại nhiều nơi trên thế giới.
-Nếu cần cũng chế xăng tự thiêu như Thích Quảng Đức đã từng làm ở Việt Nam và 5 tháng sau thì Dương Văn Minh ( kẻ thân Ấn Quang) cầm đầu các phản tướng, phản tá đảo chánh, làm suy yếu và đưa đến khủng hoảng chánh trị, là một trong những nguyên nhân làm mất miền nam ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Nếu không hành động mà cứ cầu nguyện, ngầm đi xin chữ ký, thì quả là khôn nhà dại chợ. Cứ yên chí và” thanh tâm trường an lạc” là biểu tình trước các sứ quán Việt Cộng ở các nước Tây Phương, không sợ công an, bộ đội quân hại nhân dân và côn đồ như trong nước, làm sớm càng tốt, chứ đừng biểu tình trước sứ quán Trung Cộng như một số tỗ chức cò mồi, băng đảng Con Chim Không Cánh là trớt quớt đấy.

Trước đây, Nhất Hạnh có” Hoa Sen Trong Biển Lửa” đánh phá miền Nam và nói theo giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cùng với các nhà” ngôn ngữ học có trình độ cao” với: chicken soup dùng cho câu” Hồi Chuông Thiên mụ CANH GÀ thọ sương”, hay giới Anh ngữ thực dụng nhan nhản tại các nước, hay nói: Road die, tức là” xe nằm đường” với cảnh sát….nên đây có thể là:” Mulberry in the sea of fire” tạm dịch là:” Trái Dâu trong biển lửa”, cho nên, kỳ nầy Nhất Hạnh là” multi-millionaire Buddist” nghe đâu tài sản lên đến hơn 300 triệu Mỹ Kim gồm các chùa, tự viện, đạo tràng ở Pháp, Mỹ….nên khi mang tiền về đầu tư tại Bát Nhả, cũng đã bị các đồng đạo gốc đảng, đánh tư sản tả tơi, đúng là ” Đô La trong biển lửa”./.

TRƯƠNG MINH HÒA
Ngày 30.09.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

September 30, 2009 Posted by | súc vật thích nhất hạnh phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh trong phật giáo ấn quang súc vật, suc vat thich nhat hanh tay sai suc vat ho chi minh, ĐÔ LA TRONG BIỂN LỬA ! - TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) | , , | Leave a comment

Độc hại của cà phê Việt Nam

Độc hại của cà phê Việt Nam:

Người viết bài: ngoccup

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=372451#post372451

Các bạn thân mến,

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó thể hiện rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê “đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được”.

Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.

Để bắt đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: Về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá. Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: Trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.

Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.

Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.

Song song đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã sử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.

Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.

Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.

Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.

P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.

…………

Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế.

Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.

So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: Cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.

Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ.

Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá.

Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: Tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.

Cách chế biến truyền thống như sau: Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang. Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu thành caramel.

Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn mực “cà phê ngon” mà thôi.

Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn mực, thì sự giả dối nghiễm nhiên lộng giả thành chân.

Về phía các cơ sở sản xuất, thì họ nghĩ – khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê – độ đắng, mùi hương, độ sánh – đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?

Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.

Và thế là người Việt, đa phần, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê “có văn hoá đặc biệt nhất thế giới”.

Đến đây chính là một ngõ cụt – Ngõ cụt dối trá.

Câu hỏi cuối cùng – chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó? Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của nhà nước?

——
P/S: Một điểm cuối cùng, bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ.

September 29, 2009 Posted by | Độc hại của cà phê Việt Nam | | Leave a comment

Ông Terrell A. Minarcin trả lời thư Đại sứ Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tâm Chiến gửi đến Nghị sĩ Pam Roach

Ông Terrell A. Minarcin trả lời thư Đại sứ Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tâm Chiến gửi đến Nghị sĩ Pam Roach

This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I think it is well worth reading, even if I did write.

Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State.

Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the ambassador’s letter. If you wish a copy of the letter with the letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of it is FAXed to you. After the ambassador’s letter is my response to him.

Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.

Terry Minarcin

—o0o—

Nhân vụ Thượng Nghị sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng viện Tiểu bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.

Sau đó Nghị sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.

Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.

Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại sứ Cộng sản Việt Nam gửi Thượng Nghị sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington.

Chúng tôi xin đăng tải bản dịch cả hai lá thư nói trên cùng nguyên văn tiếng Anh để rộng đường dư luận.

—o0o—

(Bản dịch của Giáo sư Nguyễn Châu, San Jose)

1.- Thư phản đối của Đại Sứ Việt Nam Cộng Sản Nguyễn Tâm Chiến về cờ vàng ba sọc đỏ và tượng đài ở Seattle:

Ngày 10-2-2004

Kính thưa Thượng Nghị sĩ Roach,

Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong SJM8045. Ðây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.

– Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Hoa Kỳ từ năm 1995.

– Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.

– Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ. Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.

Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam. Như ông có thể nhớ lại, Nghị quyết Thượng viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng đài Kỷ niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy “như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam” nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ. Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng đài Kỷ niệm. Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.

Với lòng kính trọng cao nhất của tôi

Ký tên: Nguyễn Tâm Chiến,

Đại sứ.

—o0o—

NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

Dear Senator ROACH: February 10, 2004

It is with particular concern that I am writing to you regarding a second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam, as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the people and Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me share with you my thoughts.

First, the proposed Memorial runs counter to international conventions and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal standing in Vietnam. Like a number of similar bills or resolutions, the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic relations with the United States since 1995.

Secondly, since the start of the new phase of normalization and reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her utmost to put the past aside and look forward to the future, striving to build a relationship that benefits both sides. In your State, Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle maintaining a sister port exchange program with Vietnam’s northern port of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of either Vietnam, or the United States, or Washington State.

Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam’s strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.

Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer, Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington State and Vietnam.

As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn from consideration last spring when those thoughts were taken into account.

Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by your legislature, could run afoul of the very US Constitution that vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag “as the only legitimate flag of the Vietnamese people,” it also renders the freedom of expression questionable.

In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in favor of the proposed Memorial.

I thank you for your consideration and cooperation.

With my best personal regards,

(signed)
NGUYEN TAM CHIEN
Ambassador

—o0o—

2.- THƯ PHÚC ĐÁP TỪ TIỂU BANG WASHINGTON Ngày 23-2-2004

Thưa ông Đại sứ,

Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.

Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại sứ, nước Cộng sản Việt Nam. Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Làm sao mà việc chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại có thể ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.

Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông, lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.

Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Ðài Tưởng niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó, cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.

Ông tuyên bố rằng ông đang “cực kỳ” nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.

Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân quyến cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.

Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Ðông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy ước Genève về cách đối xử với tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào. Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Ðó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội phạm của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải cách Ruộng đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? 50,000? 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này cũng tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại [với cải cách ruộng đất]. Mục đích của cuộc tàn sát này là “xóa sạch chủng tộc” số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.

Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Cũng đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-xô nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.

Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù binh/Người Mất Tích trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận dược số tiền này một cách dễ dàng nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.

Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.

Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.

Terrell A. Minarcin

Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam.

(Công dân Hoa Kỳ quan tâm đến Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền Cho Việt Nam.)

—o0o—

NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

Mr. Ambassador; February 23, 2004

I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.

If any other country had written this letter, it would be, simply put, laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam. Your country has never honorably or honestly met the protocols of any international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide behind these agreements only when they suit your fancy. When individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge your country with numerous counts of violations of human rights or worse, you immediately respond by saying that the matters we are concerned with are internal matters and that we are interfering with your country’s policies. So be it. You are interfering with due process here in the State of Washington in matters that do not concern you. How we honor the contributions of individuals or ethnic communities here in Washington is of no concern to you. Quit interfering in our internal matters.

You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and international slave trafficking. I, as a resident of the State of Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I do? To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against humanity.

You state that the proposed Memorial negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam. It does nothing of the sort. In contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human Rights in the former Republic of Vietnam. The flag of the former Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom, Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in the past and for those who will defend these ideals to the death. I, for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it. I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity, slave trading, and human rights violations.

You state that you are trying your utmost to put the past aside. With your country’s past records of abuse of all standards of civilized behavior, I fully understand your desire to brush the past aside. After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.

All of the residents of Washington will be more than happy to extend to you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until then, stay out of our internal affairs.

The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue. What the people of America do is not your concern. It is an internal affair of the State of Washington by private citizens to honor those who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights, ideals which are anathematic to your despotic government. That is what that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.

Now let us look closely at what your country has done and continues to do.

Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs). But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet the tenets of any international agreement to which you are a signatory. Your treatment of POWs testifies to this. In addition, you executed at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the matter of Ly Tong, a Vietnamese-American. You tried to interfere in a Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can not tolerate.

Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide. This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their land reform programs. While it would be easy to blame the agent provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this pogrom? 10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same category. The aim of this pogrom was to “ethnically cleanse” Vietnam of those minorities who had helped the French. I mention this to show that you continued this policy after the conclusion of the Second Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic cleansing today under the guise of religious persecution, which is also a blatant human rights violation. Any one executed under this pogrom is a victim of your genocidal and fratricidal policies.

Let us take a look at your country’s involvement in the international slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics. To whit, in 1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of human rights and a crime against humanity. There were other times you sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so many at one time.

You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up your military and political police files. You do not because there is no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort monies from America for your own profit and gain. Why? Because you feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money easier if you release your files publicly to the families and to the world. At least this can mitigate some of your crimes.

And then you have the gall to demand that Americans not interfere in your internal affairs and to honor your flag. With your record, you should be happy not to be on trial by an international court for your crimes against humanity.

Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not interfere with how we honor our citizens who contribute to the well being and welfare of our State.

Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam

Nguồn tin từ http://www.dienhanhvanhoaquocte.org/chao/node/71

September 29, 2009 Posted by | Ông Terrell A. Minarcin trả lời thư Đại sứ Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tâm Chiến gửi đến Nghị sĩ Pam Roach | | Leave a comment

ĐÁNH BẺ ĐŨA và THUẦN HÓA – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

ĐÁNH BẺ ĐŨA và THUẦN HÓA – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trả lời phóng viên đài VOA tại Budapest ngày 18-9 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng nói Việt Nam sẽ không nhượng bộ Công giáo về vấn đề đất đai. Dũng giải thích chính sách của bọn cầm quyền tại Hànội như sau: “Việt Nam bảo đảm mọi người Việt Nam tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, có tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng. Việc tài sản đất đai của các tôn giáo ở Việt Nam phải thực hiện đúng theo hiến pháp và pháp luật của Việt Nam . Ở Việt Nam tôi xin nói rõ với các bạn là không có tài sản của Vatican ở Việt Nam . Trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có đất đai của đất nước Việt Nam , của dân tộc Việt Nam , của nhà nước Việt Nam . Không có bất cứ một tài sản nào của tôn giáo ở nước ngoài của Vatican là ở Việt Nam . Những cái đòi hỏi cái gọi là tài sản của Vatican là một đòi hỏi vô lý và không phù hợp với hiến pháp và pháp luật của Việt Nam.”

Phải hiểu thế nào về những câu tuyên bố hỗn xược này của Nguyễn Tấn Dũng?

Ngoài những mào đầu rỗng tuyếch về việc bảo đảm các quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, lời của Nguyễn Tấn Dũng trước hết là một sự buộc tội láo khoét, và sau đó là xác định chính sách đối với Tòa Thánh Vatican về vấn đề đất đai.

Trước hết, Nguyễn Tấn Dũng ngầm cáo buộc Tòa Thánh Vatican tội chiếm đất đai của VN một cách trái phép. Dũng nói: “Không có bất cứ một tài sản nào của tôn giáo ở nước ngoài của Vatican là ở Việt Nam . Những cái đòi hỏi cái gọi là tài sản của Vatican là một đòi hỏi vô lý ……” Nếu Vatican không có tài sản đất đai gì ở VN mà đòi hỏi thì đúng là vô lý thật. Nhưng những tài sản, đất đai của Công Giáo mà Vatican đòi trả lại là của Giáo Hội VN, Vatican đòi trả lại cho GHVN chứ không phải cho mình. Cái đó là rõ ràng. Nhà nước CS của Nguyễn Tấn Dũng luôn luôn cho rằng giáo dân VN xuống đường đòi đất là do Vatican xúi dục để đòi lại cho mình. Suy diễn như thế nên Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn mới nói rằng các tài sản đất đai đó là của Vatican nên sẽ không được trả lại. Và từ đó chúng coi Tòa Thánh Vatican là kẻ đã xâm chiếm đất của VN. Không thể chối cãi được, Nguyễn Tấn Dũng đã cố ý kết tội Tòa Thánh Vatican là kẻ đi xâm chiếm đất đai của VN.

Sau đó, căn cứ vào tội trạng chiếm đoạt đất đai của VN, Nguyễn Tấn Dũng mới đẻ ra chính sách quyết liệt là tuyệt đối không nhượng bộ Tòa Thánh gì hết trong vấn đề này.

Trên đây là ý nghĩa thực của câu tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng. Có một điều hiển nhiên mà đứa con nít lên năm cũng có thể phân biệt được, ngoại trừ tên thủ tướng của cái gọi là nhà nước VGCS. Điều đó là Vatican là Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, còn tập thể người công giáo VN là Giáo Hội Công Giáo VN (GHCGVN). Hai thực thể hoàn toàn riêng biệt, độc lập cả trên pháp lý lẫn hoạt động. Tòa Thánh La Mã hay quốc gia Vatican không có tài sản, đất đai tại VN, nhưng những thánh đường, trường học, nhà thuơng, cô nhi viện, viện dưỡng lão v.v. tại VN của người công giáo là tài sản của Giáo Hội Công Giáo VN, một hội đoàn tôn giáo có tư cách pháp nhân đàng hoàng, chứ không phải là tài sản của Tòa Thánh La Mã. Vatican nếu có can dự vào việc này chỉ là thúc dục VGCS trả lại các tiện nghi trên mà chúng đã chiếm đoạt cho GHCGVN để giáo hội này có phương tiện sinh hoạt và phục vụ xã hội mà thôi. Chắc chắn Vatican không đòi trả lại cho mình bất cứ cái gì hết. Nguyễn Tấn Dũng nói Vatican đòi lấy lại những tài sản đó cho mình là xuyên tạc, là nói láo. Dũng muốn buộc tội Toà Thánh Vatican là kẻ đi cưóp đất của VN. Đất đó bị tịch thu, bây giờ còn vô lý đòi lại cho nên hắn mới nhất định không trả lại. Lời của Dũng phải được hiểu là một lời buộc tội có chủ đích. Nó hoàn toàn vô căn cứ, đầy khinh mạn và láo xược. Luận điệu này trùng hợp với những kẻ xưa nay thù ghét đạo Công Giáo.

Có thể nói dưới chế độ hiện hành, mỗi người dân VN là một dân oan, không oan ức cách này thì oan ức cách khác. GHCGVN với tư cách là một pháp nhân cũng là một dân oan. Các cuộc đấu tranh đòi lại phương tiện để sinh hoạt và phục vụ xã hội của GH luôn diễn ra trong ôn hòa và tuân thủ luật pháp, luật pháp của CS chứ không phải luật pháp của bất cứ quốc gia nào khác.

Điều 70 Hiến Pháp VGCS viết: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Và Điều 27 Pháp Lệnh Tôn Giáo qui định rõ: Ðất có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động được sử dụng ổn định lâu dài.

Luật pháp như thế tương đối đã rõ ràng. Không biết Nguyễn Tấn Dũng dựa vào luật Pháp nào để chiếm đoạt vĩnh viễn tài sản của các tôn giáo? Có phải vì mục đích cao đẹp là phục vụ công ích? Tòa Khâm Sứ, nơi hội họp của Hội Đồng Giám Mục, bọn cán bộ chiếm làm chỗ kinh doanh nhảy đầm. Đất Thái Hà, chúng đã toan tính chia lô cho nhau để ở hoặc để bán. Nền nhà thờ Tam Tòa chúng cũng đang mưu toan biến thành khu ăn chơi giải trí. Trường học Loan Lý hiện bị rào cô lập và tương lai cũng trở thành chỗ ăn chơi nhẩy nhót cho những kẻ lắm tiền nhiều của. Như thế thì công ích ở đâu? Thế giới ở đâu người ta cũng chỉ có biến nơi ăn chơi giải trí thành trường học. Không có đất nước nào biến trường học thành chỗ ăn chơi nhẩy nhót ngoại trừ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN. Đây là một thảm họa lâu dài cho các thế hệ VN tương lai.

Sau lời tuyên bố trên, có nhà bình luận cho là Dũng huênh hoang bốc đồng, người khác cho là hắn nổ sảng. Nguyễn Tấn Dũng có bốc đồng hay nổ sảng không, thật khó có ai tin được, nhưng rõ ràng đây là lời xác định dứt khoát chính sách về đất đai của bọn cầm quyền VGCS đối với Giáo Hội Công Giáo. Khi bị các nhà báo quốc tế dồn vào chân tường phải xác nhận dứt khoát Bắc Việt có đưa quân đội vào miền Nam không. Câu trả lời lẽ ra phải là YES or NO, nhưng tên Võ Đông Giang trong Hội Nghị 4 Bên đã lảng tránh một cách rất khôn khéo rằng người VN nào cũng có quyền đánh đuổi quân xâm lược tại bất cứ đâu trên đất nước mình. Nếu chúng ta để ý thì sẽ thấy, những lời tuyên bố, những câu phát biểu chính thức về đường lối, chính sách của bọn đầu sỏ Hànội cho dù chúng ít học cũng đều được đắn đo kỹ lưỡng. Hoàn toàn không có chuyện chúng hớ hênh, bốc đồng, hay nổ sảng. Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố không nhượng bộ Công Giáo về vấn đề đất đai là hắn có chủ đích. Hơn thế nữa, nói ở Hànội sợ xa quá Đức Giáo Hoàng không nghe rõ nên hắn sang tận thủ đô Hungary để nói vào gần tai Giáo Hoàng hơn để Ngài khỏi nhầm lẫn. Đó là cái trò rò lưu manh đểu cáng cố hữu của bọn VGCS.

Căn cứ vào lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng và những bài học rút ra từ các vụ Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa vừa qua, người ta có thể khẳng định rằng cuộc đấu tranh dành lại ngôi trường cho các cháu thiếu nhi tại giáo xứ Loan Lý, Tổng Giáo Phân Huế có nơi học hành rồi cũng sẽ bị chìm xuồng. Hàng chục ngàn giáo dân Thái Hà chịu đựng dùi cui, hơi cay và những chiến dịch xuyên tạc, vu cáo chỉ còn lưu dấu lại một khoảnh đất trống mà thế lực tội ác gọi là vườn hoa nay trở thành nơi chó ỉa. Hàng trăm ngàn giáo dân Tam Tòa đổ máu, hứng chịu đòn thù, bàn thờ bị hất tung và chà đạp, các linh mục bị làm nhục v.v. cũng chỉ còn lại một bức tường gạch vây kín những thê lương, đêm đêm nghe tiếng gió ù ù thổi. Như thế thì với một vài trăm giáo dân mà đa số thuộc loại đầu xanh vô tội thì thử hỏi làm sao chống lại được với đàn sói rừng hung ác hàng ngàn, hàng vạn. Cầm chắc là các em đành phải bó tay để tương lại trở thành vô định. Sau Loan Lý sẽ còn đâu nữa? Chắc chắc còn, và còn nhiều nơi nữa đang chờ đợi đến lượt mình. Nhận định của chúng tôi mang mầu sắc bi quan? Đúng thế. Nhưng sự thực vẫn là sự thực, ít nữa là trong tình hình hiện tại và trong những điều kiện hiện nay.

Không phải tự nhiên mà các biến cố lại xẩy đến một cách tuần tự như thế. Mọi sự hình như xẩy ra theo một qui trình nào đó đã có sẵn. Mỗi biến cố được khơi lên bằng một lý do hết sức nhỏ nhặt và tầm thường. Xong hết vụ này rồi tiếp nối đến vụ khác. Người hiểu CS biết ngay rằng đó là lối xé lẻ để tiêu diệt cho dễ. Người viết tạm gọi nó là chiến thuật đánh bẻ đũa. Mục đích là để tiêu diệt cho bằng sạch mọi mầm mống chống đối còn tiềm ẩn trong GHCG. Nếu tiêu diệt tất cả trong cùng một lúc như bẻ cả bó đũa, chắc chắn sẽ không dễ dàng. Tách ra để diệt, chuyện dễ dàng hơn rất nhiều.

Câu chuyện bó đũa là một bài học luân lý dậy về tinh thần đoàn kết trong các lớp đồng ấu của nước ta kẻ từ thời Pháp thuộc. Một người cha cầm bó đũa đưa cho người con rồi bảo con cầm bẻ. Người con dùng hết sức bẻ bó đũa nhưng không được. Người cha lấy lại bó đũa từ trong tay người con, tách rời từng chiếc, đưa cho con rồi lại bảo con bẻ. Người con bẻ dễ dàng từng chiếc đũa cha đưa cho đến khi bó đũa bị bẻ hết. Xong rồi người cha giảng giải cho con ý nghĩa của sự hợp quần làm nên sức mạnh. Một bài học luân lý rất đơn giản nhưng ý nghĩa thật thâm sâu. Bọn VGCS đang áp dụng bài học bẻ đũa để tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo VN.

Nguyễn Tấn Dũng khẳng định không nhượng bộ vấn đề đòi đất, nhưng thưc tế tại VN công sản cho thấy, không phải là không còn con đường nào khác giúp Giáo Gội có đất đai để phát triển. Lời của Dũng ngầm đưa ra chỉ dẫn về một khuôn thức bất di bất dịch xưa nay tại VN cộng sản là: đòi thì không trả, nhưng xin thì có thể cho. Xin thì sẽ được và gõ cửa thì sẽ mở cho là nguyên tắc hành sử của Chúa, nay VGCS lấy đem ra áp dụng. Sự khác biệt là ở cách cho. Chúa dậy con cái xin để Ngài cho trong tình cha con, còn VGCS xin để được chúng cho trên quan hệ chủ tớ. Cứ xem như các đức cha Cao Đình Thuyên giáo phận Vinh chỉ đòi lại một cái nền nhà thờ cũ, đức cha Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Hànội đòi lại ngôi Tòa Khâm Sứ cũ kỹ mà không được. Thế nhưng đức cha Nguyễn Văn Sang Thái Bình xin đất làm nhà thờ thì có đất làm nhà thờ liền, xin lại tiểu chủng viện Mỹ Đức thì có tiểu chủng viện cho ngài tức khắc, đức cha Nguyễn Văn Nhơn giáo phận Dàlạt chỉ xin có 4 hectares đất xây trung tâm mục vụ, Nguyễn Tấn Dũng hào phóng cho tới những 11 hectares lận. Ai bảo VGCS khó khăn với công giáo? Chỉ cần quí đức cha làm sao biết cách xin và trở thành người xứng đáng được cho. Đấy là vấn đề. Và đấy là chính sách cố hữu VGCS vẫn áp dụng xưa nay, có điều là chúng không công khai tuyên bố mà thôi. Chính sách tinh vi và thâm độc này là phương thức một mặt triệt hết các mầm mống chống đối trong các tôn giáo, mặt khác đưa đến việc thuần hóa rất hiệu quả các nhà lãnh đạo các giáo hội.

Chính sách đất đai của VGCS đối với GHCG như vậy đã rõ ràng. Lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng không biết đã đủ hiệu lực để mở mắt những đấng bậc trong đạo chủ trương đối thoại với VGCS chưa. Đòi thì không được, mà xin thì mất đi nhiều thứ lắm, chắc chắn là mất đi lòng tự trong của con người cái đã, và thậm chí có khi mất đi cả Chúa nữa. Nhiều vị đức cao trọng vọng còn huênh hoang phải đối thoại với CS để đem Chúa đến với chúng. Thực tế thường thấy là khi Chúa chưa đến được với CS thì quỉ sứ đã đến gần các vị rồi. Trước khi chết, điều Chúa mơ ước nhất là “ chớ gì tất cả anh em trở nên một” (ut unum sint). Nhưng tình trạng “unum sint” trong GHVN hiện nay thật sự không còn nữa nên đã bị bọn gian ác tiêu diệt hoặc làm biến chất rất dễ dàng. Có lẽ tại người thời nay đã không được học bài học bó đũa chăng. Không hiểu tai sao trước năm1975, GHCG tại miền Bắc chẳng bao giờ đòi cũng không bao giờ xin cái gì từ tay CS, thế mà họ sống đạo rất hiên ngang và kiêu hùng. Nhưng từ sau 1975 đến nay, GH thống nhất cả hai miền lại cứ phải quị lụy CS thì mới sống nổi. Đòi thì không được, rồi lại cứ phải ngửa tay xin thì mới xong. Đạo tại tâm hay đạo tại nhà thờ và tại những cơ sở vật chất?

Duyễn-Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_DanhBeDuaVaThuanHoa.htm

September 27, 2009 Posted by | ĐÁNH BẺ ĐŨA và THUẦN HÓA - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất | | Leave a comment

Bùi Dương Liêm phỏng vấn tác giả Liên Thành: Biến Động Miền Trung

Bùi Dương Liêm phỏng vấn tác giả Liên Thành: Biến Động Miền Trung

Kính mời quý vị theo dõi Bùi Dương Liêm phỏng vấn tác giả Biến Động Miền Trung : cựu Thiếu Tá Cảnh sát Liên Thành.

1/
http://www.youtube.com/watch?v=gM3rc_MQWZ4


2/
http://www.youtube.com/watch?v=8Ix8eEi5c6w


3/
http://www.youtube.com/watch?v=uDWHSFgJH0c


4/
http://www.youtube.com/watch?v=E6Q8eaGMViQ


5/
http://www.youtube.com/watch?v=QDvgN83H8xU


6/
http://www.youtube.com/watch?v=BpzH-b4HSSg


http://www.youtube.com/user/bebeliem

September 25, 2009 Posted by | Bùi Dương Liêm phỏng vấn tác giả Liên Thành: Biến Động Miền Trung | | Leave a comment

Nói Thẳng Với Băng Đảng Cao Trào Nhân Bản Và Đồng Bọn Một Lần Và Cũng Là Lần Cuối – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Nói Thẳng Với Băng Đảng Cao Trào Nhân Bản Và Đồng Bọn Một Lần Và Cũng Là Lần Cuối – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Kính thưa quý độc giả: Người ta thường nói: « Cây muốn lặng, nhưng gió lại chẳng chịu dừng ». Như tôi đã từng nói: Sẽ không bao giờ « đối thoại » với bất cứ một kẻ nào; mà chỉ chấp nhận một cuộc đối luận duy nhất với Thích Quảng Độ, « tăng thống » của « Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, tức Ấn Quang, và cuộc đối luận sẽ phải do Ban Điều Hành của Hồn Việt Chủ Trì và Giám Sát; với những lý do mà tôi đã nêu ra trong bài: Phật Giáo Ấn Quang « đổi mới ».

Nhưng, nay xét thấy không thể im lặng trước những tên gian manh của cái gọi là « Cao Trào Nhân Bản », một tổ chức nằm trong băng đảng Ấn Quang, do Nguyễn Đan Quế cầm đầu và đồng bọn, bởi lũ này là một lũ tội phạm, chúng đã dám cả gan để làm những điều phi pháp hầu để « ta có một núi tiền rồi, ta sẽ tung tiền qua cửa sổ, ta sẽ vung tiền như mưa như bão … phải thành lập Chính Phủ Hòa Hợp – Hòa Giải, Chính Phủ Chuyển Tiếp… và phải bảo vệ đảng cộng sản Việt Nam không để cho đảng cộng sản bị trả thù…», như trong « Tài Liệu Tuyệt Mật » của chúng. Những bằng chứng đã quá rõ ràng, như thế, mà bọn chúng đã cấu kết thêm với một lũ khác, để cố tình xuyên tạc và chụp mũ cho tôi và cả gia đình tôi nữa, tôi đã biết rất rõ cái gọi là « Cao Trào Nhân Bản » từ gần hai mươi năm qua; song có kẻ cứ nghĩ rằng, tôi sẽ không nỡ tâm để làm sáng tỏ mọi vấn đề. Tôi muốn nói thẳng với một ai đó rằng: Tại sao ta đây không nỡ? trong khi ta biết rõ ngươi luôn luôn tìm cách để giết chết ta, nếu không thuyết phục được ta??? Tôi vẫn nhớ một câu nói mà đã lâu nên đã quên tên của tác giả như sau:

« Hãy coi chừng những con người đã từng sống và từng đau khổ, bề ngoài họ lịch thiệp và mềm mõng, nhưng lòng họ đôi khi có thể họ sẽ trở nên sắt đá ».

Và chính tôi, là một con người từng sống, từng đau khổ. Tôi đã chứng kiến bọn du kích Việt cộng giết chết Cha ruột của minh, đã nhìn thấy ánh mắt sau cùng của người Bác ruột, khi quay nhìn lại cái xác chết của Cha tôi và cả gia đình, trong lúc đôi tay đã bị bọn du kích Việt công trói thúc ké ra sau; rồi hai đứa em trai ruột của tôi đã chết trong mùa hè 1972, và một đứa duy nhất còn lại cũng đã chết trong lúc trốn vào rừng để trốn « Nghĩa vụ quân sự » của Việt cộng. Tôi đã đi đến tận cùng của nỗi đớn đau, tôi đã khóc đến chảy máu mắt, và cho đến tận bây giờ mỗi lần nhớ hay nhắc đến Cha và Bác ruột của mình, thì tôi đều nghe như mọi chuyện mới vừa xảy ra. Vì thế, đối với kẻ thù đã nhúng vào cái chết của Cha ruột, của Bác ruột mình, thì tôi khó có thể tha thứ, vì tôi không phải là một Thánh nhân.

Chính vì thế, mà kể từ khi vượt thoát khỏi bàn tay của bọn việt gian – cộng sản, tôi đã tâm nguyện: Phải biến đau thương thành hành động thực tiễn, nhưng với đôi tay yếu đuối của một phụ nữ, tôi không biết phải làm gì hơn là dùng ngòi bút của mình để viết lại những gì mà mình đã chứng kiến kể từ thời thơ ấu. Tôi đã biết về những bàn tay đã nhúng vào máu của người Cha và Bác ruột của mình. Chính vì thế, tôi đã từng không ngại hiểm nguy mà đã mạo hiểm bước sâu vào « trong lòng địch ».

Tuy nhiên, tôi cũng biết cân nhắc những điều khinh – trọng ở đời, nên tôi cũng từng bỏ qua những lời vu khống, chụp mũ do những tên vô lại đã bịa đặt ra. Nhưng xét rằng: nếu mình cứ hành xử theo cách của những chính nhân quân tử, thì lũ gian manh này chắc cứ nghĩ rằng, tôi sợ chúng lắm. Vì thế, chỉ một lần này thôi, tôi phải dùng đến cây gậy đánh chó này, để đánh vào mặt, vào đầu của mấy con chó ghẻ.

Tôi vẫn còn giữ những bản án kéo dài nhiều năm, và « Bản Tin Chánh Kiến » của những bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong về vụ án xâm hại tình dục đối với một bé gái chỉ mới mười ba tuổi, đó là tên Thích Chánh Lạc, mà kết quả là Thích Chánh Lạc đã từng bị Cảnh sát Mỹ còng tay đưa ra tòa, rồi Tòa án đã xử phạt, là phải bồi thường cho gia đình ông Hồ Văn Ngộ với số tiền là bốn triệu tám trăm ngàn Mỹ kim, và sau đó thay vì phải bị phát mãi cái « chùa Như Lai », thì đôi bên luật sư đã thỏa thuận để lấy tiền của hãng bảo hiểm của « chùa Như Lai ».

Và nhiều nhân chứng vẫn còn nhớ rõ lúc đó Võ Văn Ái đã nhân danh là « Phó chủ tịch Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam » để chụp mũ ông Hồ Văn Ngộ và hai đứa con gái của ông như cháu Hồ Thị Thi chỉ mới có mười ba tuổi là « Chiêu hồi –Trá hàng – Tình báo của Bắc Bộ phủ »; trong khi ông Hồ Văn Ngộ là một viên chức cảnh sát không hề có « chiêu hồi » bao giờ, chẳng những thế mà ông còn là một tù nhân « cải tạo » của Việt cộng sáu năm.

Với bài viết ngắn này, tôi muốn đập thẳng vào cả lũ gian manh của cái gọi là « Cao Trào Nhân Bản » nằm trong băng đảng Phật giáo Ấn Quang và đồng bọn; bởi một lần nữa chúng cũng đã giở trò lưu manh như cũ: Chúng đã dám chụp mũ chồng tôi là một « Đảng viên cộng sản chiêu hồi – trá hàng ». Trong khi đã có rất nhiều người, đặc biệt tại miền Trung ai cũng biết chồng tôi: Trần Đăng Sơn đã từng giữ những chức vụ: Quân ủy Trung ương Việt Nam Quốc Dân Đảng kiêm Chủ tịch Đảng bộ Miền Trung – Liên Đoàn Trưởng Thanh niên đoàn miền Trung – Chủ tịch Thành bộ Hợp Nhất Đà Nẵng, và ông Nguyễn Bá Sáu, là một trong bốn Phó Chủ tịch của Thành bộ Hợp Nhất Đà Nẵng, người đã bị « Lực lượng Thanh niên Phật tử Quyết tử » buộc phải cho các thầy chùa mượn củi để « tự thiêu » nhưng chẳng có ai chịu thiêu cả, mà tôi đã viết trong bài: Cuộc bạo Loạn Bàn Thờ Phật xuống Đường Tại Miền Trung, mùa hè 1966, tất cả đều dưới sự lãnh đạo của cụ Vũ Hồng Khanh. Trụ sở của Trung Ương được đặt tại số 206. C, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn. Còn Trụ sở Đặc Ủy Trung Ương tại miền Trung đã từng đặt tại 21/8, đường Nguyễn Hiệu, thành nội, Huế; và Trụ sở của Liên Đoàn Bộ VNQDĐ Thanh Niên Đoàn miền Trung- Thành Bộ Hợp Nhất Đà Nẵng, được đặt tại số 30, đường Nguyễn Du, Đà Nẵng.

Bọn Cao Trào Nhân Bản và lũ chó hùa nên biết, chồng tôi từ lúc trẻ vào thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, là một Sĩ Quan Tình Báo Bảo An Đoàn, sau đó tham gia vào VNQDĐ. Chồng tôi không hề theo Việt cộng thì làm sao là đảng viên cộng sản. Không hề vào bưng- biền, mà suốt mấy chục năm qua từ trước ngày 30-4-1975, mọi người đều thấy chồng tôi sống và làm việc công khai tại Sài Gòn và tại miền Trung, thì làm sao có chuyện « chiêu hồi – trá hàng ». Chồng tôi vẫn thường xuyên làm việc ngay tại Trụ sở của Trung ương Pháp Định dưới quyền chỉ đạo của cụ Vũ Hồng Khanh. Chỉ riêng ông Trần Quốc Dân (dù cùng họ Trần, nhưng không có bà con ruột thịt với chúng tôi) ông là Thiếu tá, sau là Trung tá, năm 1954, ông tập kết ra Bắc, rồi ông hồi kết, nhưng sau một lần gặp được người của ông Ngô Đình Cẩn, thì ông đã trở về với chính nghĩa Quốc Gia vào năm 1962, ông đã từng phục vụ tại Bộ Công Dân Vụ, thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị bào đệ là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn, đã bị lũ Hội Đồng Gian Nhân Phản Loạn, là những tên đâm thuê, chém mướn giết chết; thì ông Trần Quốc Dân bởi quá đau đớn trước cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên đã xin xuất ngũ với giấy chứng nhận của Bác sĩ là vì lý do sức khỏe, sau đó, tại Sài Gòn ông Trần Quốc Dân đã đến xin cụ Vũ Hồng Khanh cho ông được gia nhập VNQDĐ, và ông đã được cụ Vũ Hồng Khanh kết nạp vào VNQDĐ tại Sài Gòn, chứ không phải do chồng tôi kết nạp. Sau khi vào đảng một thời gian, thì cụ Vũ Hồng Khanh đã cử ông ra Trung để làm việc với chức vụ sau cùng là một trong bốn Phó Chủ tịch Thành bộ Hợp Nhất Đà Nẵng, cho đến khi bị Thích Như Ký đã dắt theo một lũ « Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo Thị bộ Đà nẵng », đã đến tận nhà của ông tại đường Trần Cao Vân, ĐN, để bắt trói thúc ké hai tay ông ra sau, rồi áp giải ông lên trụ sở của Thị bộ HHHGPG tại chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng, sau đó, người ta đã phát hiện xác chết của ông Trần Quốc Dân tại nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân, và trên thân thể của ông có nhiều vết đạn, như tôi đã viết qua bài: 30-4-1975: Máu và Nước Mắt.

Về tôn giáo, chồng tôi đã từng là phụ tá Tổng Vụ Thanh Niên của Thích Thiện Minh.

Trở lại cuộc bạo loạn mang bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, Phật giáo Ấn Quang cũng đã bắt chồng tôi đem giam vào « chùa » Phổ Đà ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.

Và chính trong cuộc bạo loạn này, qua đề nghị của Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, chồng tôi đã được tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành Pháp Trung ương gắn lon Trung tá giả nhiệm Dân sự Đặc biệt thuộc Phủ Hành pháp Trung ương, để chỉ huy các Lực lượng Vũ trang Đặc nhiệm An ninh Quảng – Đà.

Sau đây là danh sách của các vị đã tham gia trong cuộc Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh:

1- Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương: Tư Lệnh Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh.

2- Chuẩn tướng Dư quốc Đống, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù.

3- Đại tá Ngô Quang Trưởng, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Dù.

4- Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy trưởng Thủy Quân Lục Chiến kiêm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng.

5- Đại tá Nguyễn Văn Khánh, Chỉ huy trưởng Không Quân tại Vùng 1 ( tôi nhớ là Không Đoàn 41 nhưng không chắc ).

6- Một Chỉ huy trưởng Biệt Động Quân ( xin lỗi tôi quên tên).

7 – Đại tá Nguyễn Thọ Lập, Trung Đoàn Trưởng, Trung Đoàn 51, kiêm Chỉ Huy Trưởng Chiến Dịch Ngũ Hành Sơn.

8- Trung tá Võ Lương Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Vùng 1.

9- Trung tá Chu Văn Sáng, Chánh sở An Ninh Quân Đội Vùng 1.

10 -Trung tá Nguyễn Văn Suyền, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh Vùng 1.

11- Trần Đăng Sơn, Chỉ huy Trưởng các Lực Lượng Vũ trang Đặc Nhiệm An Ninh Quảng Nam-Đà Nẵng ( ngoại viện).

12- Bùi Quang Sạn, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Tình Báo Tác Chiến Quảng Nam.

13- Đại úy Lê Điểu, Chỉ Huy Trưởng Biệt Kích quân Tây Hồ.

14- Phan Minh Thám, Tỉnh Đoàn Trưởng Biệt Chính Nhân Dân Quảng Nam.

15 – Nguyễn Kim Thành, Trưởng Đoàn Cán Bộ dân Ý Vụ Quảng Nam.

16- Đại úy Đặng Văn Tiếp và Trung úy Châu Sanh Dần là hai Sĩ Quan Liên Lạc.

Ngoài ra, còn có sự tham dự đặc biệt của Thượng tọa Thích Tài Quang, do Phật giáo Ấn Quang bổ nhiệm thay thế cho Thích Minh Chiếu đã bị cách chức, với chức vụ Thiếu tá Trưởng Phòng Tuyên Úy Phật Giáo Vùng 1.

Và chính trong cuộc hành quân này, chồng tôi đã ra lệnh cho thuộc cấp bắt giữ nhiều tên thầy chùa cộng sản, đem giam vào nhà giam Hội An chỉ có ba ngày, để điều tra về số súng đạn được khám phá trong chùa Long Tuyền, ở con hẻm « Miếu Ông Cọp » cuối đường Nguyễn Công Trứ dẫn ra Trường Lệ, Hội An, trong đó có chú tiểu Thích Như Điển ở trong chùa này, mà mới đây, Thích Như Điển đã viết láo là « ở tù ba tháng dưới thời cầm quyền của Thiệu-Kỳ vào thời niên thiếu ». Mục đích để cho các « Phật tử » phải bái phục.

Song về cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng đã kéo dài gần bốn tháng, nên vẫn còn rất nhiều điều mà khó nói hết. Nhưng cũng chính vì cuộc bạo loạn này, mà bọn Phật giáo Ấn Quang đã thâm thù chồng tôi.

Còn một chuyện khác nữa, là trong cuộc bạo loạn này tướng Nguyễn Cao Kỳ đã trao cho ông Nguyễn Đình Lương một số tiền là hai mươi triệu tiền VNCH, ,như chính ông Nguyễn Cao Kỳ đã nói công khai trong một buổi nói chuyện vào năm 1988, tại Florida, Hoa Kỳ ( tôi vẫn còn lưu giữ những lời của ông Nguyễn Cao Kỳ đã nói về số tiền hai mươi triệu này) , ông Nguyễn Đình Lương là Bí thư của một tổ chức không có « Phái Lai » của chính quyền, là Kỳ Đảng Bộ Trung Việt VNQDĐ, nhưng đa số là đảng viên của đảng Đại Việt Dân Chính của ông Nguyễn Tường Tam. Và cũng chính với số tiền hai mươi triệu này, nên trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, mà Phật giáo Ấn Quang đã tấn công và truy bắt hàng trăm cán bộ của VNQDĐ, các vị này trực thuộc Trung Ương Pháp Định, do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo. Và cũng chính vì số tiền hai mươi triệu đồng này, mà đã khiến cho một vị lãnh đạo của VNQDĐ, đã bị hạ sát, vì cái « tội » dám phản đối việc Kỳ Bộ Trung Việt đã nhận số tiền trên. Và trong một cuộc họp có bỏ phiếu, để quyết định số phận của vị này, trong đó chỉ có một phiếu trắng. Tôi cũng sẽ lôi hết ra trước ánh sáng, vì trong số người này, hiện nay có kẻ dù đã ở tù « cải tạo » đã sang Mỹ theo diện H.O, song đã đi về Đà Nẵng hai lần, mỗi lần một tháng, để « Hòa Hợp- Hòa Giải » với việt gian- cộng sản.

Riêng về tướng Nguyễn Cao Kỳ, sau cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966, thì hầu hết người dân tại Quảng Nam-Đà Nẵng họ đều hết lòng ngưỡng mộ ông. Có người đã xem ông là thần tượng. Song tiếc rằng, kể từ ngày ông đã về Việt Nam, rồi đến chuyện ông đọc diễn văn để « thưa ngài chủ tịch Nguyễn Minh Triết » thì hình ảnh của một Nguyễn Cao Kỳ dẹp loạn miền Trung thực sự đã chết.

Như tôi đã nói lên sự thật, chồng tôi không hề là « Trung tá công An ». Mà sau 30-4-1975, chồng tôi cũng đã từng ở tù « cải tạo » của Việt cộng hơn mười năm, khi gần chết mới được thả. Cho đến hiện giờ, sau chuyến đi Mỹ hai tháng vào đầu năm 2001 trở về, khi bước xuống phi trường Charles de Gaulle, tại Paris, thì chồng tôi đã bước đi không nổi và sau đó, khi về nhà phải đến bệnh viện để khám và tìm cho ra căn bệnh. Nhưng bất hạnh thay, vì sau khi soi rọi để tìm bệnh, thì các Bác sĩ người Pháp đã khám phá ra rằng lục phủ ngũ tạng của chồng tôi đã bị viêm nhiễm hết, đồng thời cả hai xương chậu và xương đùi đã bị mục và đã gãy hoàn toàn. Vì thế, nên Hội đồng Y khoa đã quyết định phải giải phẩu để thay cả cặp xương chậu và xương đùi. Không còn cách nào khác hơn, là tôi đã phải ký giấy để chấp nhận cho các Bác sĩ tiến hành hai lần giải phẩu để thay cả hai bộ xương như đã nói. Sau đó, chồng tôi phải đi bằng gậy, cộng thêm với nhiều căn bệnh khác, nên suốt gần chín năm qua, ngày nào chồng tôi cũng đều phải uống thuốc giảm đau cực mạnh có pha chất ma túy, thì mới có thể chịu được. Ngoài ra, bệnh viện cũng đã phải cấp cho một bình dưỡng khí để mỗi khi không thở được thì phải chụp vào mũi, vào miệng để thở và bệnh viện cũng cấp thêm những bình thuốc cầm tay, để những lúc bệnh trở nặng, thì kể cả lúc vào phòng vệ sinh cũng phải mang theo. Và Văn Phòng Xã Hội đã giúp đỡ bằng cách cho người đến tận nhà để giúp chồng tôi về những sinh hoạt cá nhân; nghĩa là chồng tôi đã trở thành một người tàn phế.

Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm, là chồng tôi không hề gặp Lê Xuân Nhuận một lần, không hề nói chuyện với hắn một câu nào hết. Những năm tháng ở « Nhà Biệt giam 2.79 » chồng tôi đã ở chung một phòng gồm có năm người, đó là các vị:

1- Linh mục Vũ Dần;

2- Linh Mục Đặng Đình Canh.

3- Linh Mục Lê Thành Ánh.

4- Mục Sư Dương Đình Nguyện.

5- Trung tá Nguyễn Tối Lạc.

6- Trần Đăng Sơn.

Vậy, kẻ đã viết bài để chụp mũ chồng tôi và còn nói vợ chồng tôi trước 1975, là một cặp cộng sản nằm vùng nữa. Hắn là ai? Chính hắn là Lê Xuân Nhuận, hắn là một tên Mã Tà, là anh em gì đó với tên Lý Tống, và theo lời của ông Đỗ Hải thì hắn là anh em của Lê Văn Hảo, tên sát thủ trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, tại cố đô Huế. Lê Văn Hảo là con ruột của cụ Lê Văn Tập, chủ hãng xe Traction Đà Nẵng- Huế, có một căn nhà lớn tại số 49, đường Hùng Vương, Đà Nẵng. Cụ Lê Văn Tập ngày xưa đã có «công lao » rất lớn là đã từng nuôi giấu, giúp đỡ cho các nữ «cán bộ » cộng sản đứng đầu là Thái Thị Bôi là con của ông Thái Văn Cầm và bà Trần Thị Thọ, anh ruột của cụ Thái Phiên. Hiện nay có con đường mang tên Thái Thị Bôi tại thành phố Đà Nẵng, « Ban chấp hành Phụ nữ Đà Nẵng » cũng đã cho « Học tập theo gương của Liệt sĩ Thái Thị Bôi, người con gái Quang Vinh ». Việt cộng cũng đã thành lập: «Khu tưởng niệm Liệt sĩ Thái Thị Bôi » tại phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, Việt cộng cũng đã ghi công của cụ Lê Văn Tập là cha ruột của Lê Văn Hảo với thành tích làm cộng sản từ đời cha đến đời con, và cũng là người thân của Lê Xuân Nhuận.

Chính vì thế, nhân đây, tôi xin kèm theo là một bài viết của ông Đỗ Hải đã viết về tên Lê Xuân Nhuận, đã đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, số 576, từ 16 đến 31- 01-2000, nơi trang 90 và 91,để quý độc giả hiểu được một cách rõ ràng hơn. Ngoài ra, Lê Xuân Nhuận đã từng viết những bài để chửi bới Tổng Thống Ngô Đình Diệm « là con hổ dữ » rồi còn bịa đặt ra những chuyện vô cùng láo khoét như: « Ông Ngô Đình Diệm có một đứa con – Ông Ngô Đình Diệm có một tình nhân » và Lê Xuân Nhuận còn ngu xuẩn hơn nữa khi đã viết rằng: Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã trốn qua một đường hầm bí mật để đi đến nhà thờ Cha Tam, trong khi ai cũng biết không hề có cái đường hầm bí mật nào cả, mà do ông Cao Xuân Vỹ đã đưa Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng Bào đệ là ông Ngô Đình Nhu bằng xe hơi để đến nhà thờ Cha Tam. Ông Cao Xuân Vỹ vẫn còn sống sờ sờ ra đấy; mọi việc đã đều sáng tỏ. Nhưng những hạng chó ghẻ gian manh này thì suốt đời chúng vẫn không thể đổi thay, mà có lẽ chúng còn thua cả loài chó nữa.

Và cũng như trước, tôi cũng phải xin phép quý độc giả để tạt nước dơ vào lũ chó này như sau:

Hỡi lũ « Cao Trào Nhân Bản » và đồng bọn theo đuôi. Ta đây, cũng chỉ tạt những xô nước dơ vào mặt chúng bây chỉ một lần này thôi. Rồi sau đó, chúng bây có tru lên những tín « hiệu » để cho những con chó khác sủa theo, thì ta đây cũng không cần phải ngoái lại nhìn những con chó ghẻ đó, và ta cũng không hề nao núng bởi những tiếng sủa của nhưng con: nâu … nâu … vàng … vàng… đâu nhé.

Nhân đây, ta cũng nhắc cho một kẻ đã giới thiệu ta viết cho tờ báo này, báo nọ … nhưng ta đây đã biết rõ, nên không bao giờ gửi bài viết theo cái kiểu « đơn đặt hàng ». Và chính hôm nay đây, để « Dò cho tới ngọn nguồn lạch sông » , nên ta đã biết đến một âm mưu mà các ngươi đã sắp bày để hại ta và cả gia đình ta …, nhưng đừng hòng, ta chưa đến nỗi dại khờ để tự dẫn mình đi vào tử lộ. Ta đã biết các ngươi đã giở trò giả vờ chống đối lẫn nhau … để lừa bịp và lấy lòng tin của nhiều người…, và cũng đừng hòng khiến cho ta đi vào « Thế trận Đào Hoa Tuyết ». Ta chưa lú lẫn đâu, vậy các ngươi cứ tiếp tục tìm thêm những « kế » khác đi nhé.

Riêng với thầy chùa Thích Quảng Độ, thì ta đây, cũng lập lại đến cả triệu lần rằng: Nếu tất cả các vị Quân- Cán- Chính của Việt Nam Cộng Hòa, sau khi ra khỏi các nhà tù của Việt cộng mà các vị đều có một bộ râu dài giống như … tóc của bà Lữ Hậu như Thích Quảng Độ, thì cái chuyện vì ở tù nên không có dao, kéo, để cạo râu, cắt tóc như chính lời của Quảng Độ đã nói ra mới là thật.

Và để tạm kết bài viết ngắn này, một lần nữa tôi xin kính mời quý độc giả hãy đọc lại một bài viết của ông Đỗ Hải trên Văn Nghệ Tiền Phong, mà tôi đã đính kèm, để cùng suy gẫm. Xin chân thành Đa Tạ.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

CaoTraoNhanBan_1


CaoTraoNhanBan_2

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NoiThangVoiBangDangCaoTraoNhanBanVaDongBon….htm

September 21, 2009 Posted by | Nói Thẳng Với Băng Đảng Cao Trào Nhân Bản Và Đồng Bọn Một Lần Và Cũng Là Lần Cuối - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền | | Leave a comment

Primary schools demolished and Loan Ly Catholics attacked by brutal Vietnamese Communist Party

phật giáo ấn quang tay sai súc vật hồ chí minh hãy học gương đấu tranh của giáo dân Loan Lý

Primary schools demolished and Loan Ly Catholics attacked by brutal Vietnamese Communist Party:

http://www.youtube.com/watch?v=vjIBOJ85X24

http://www.youtube.com/user/tdcstdcs

September 19, 2009 Posted by | phật giáo ấn quang tay sai súc vật hồ chí minh hãy học gương đấu tranh của giáo dân Loan Lý, Primary schools demolished and Loan Ly Catholics attacked by brutal Vietnamese Communist Party | , | Leave a comment

Bieu tinh chong suc vat nguyen tan dung toi Dan Mach

Bieu tinh chong suc vat nguyen tan dung toi Dan Mach


Cộng đổng người Việt tại Đan Mạch biểu tình chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam qua việc đã bán đất, dâng Trường Sa, Hoàng Sa cho Trung Cộng, cùng phản đối việc vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo, phá hoại đất nước trong việc đưa lính và người của Trung Cộng vô khai thác Bauxite tàn phá quê hương đất Việt, trong dịp thủ tướng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sang kiến nghị với chính quyền Đan Mạch.

http://www.youtube.com/watch?v=ON7fC-RRevE

http://www.youtube.com/user/thlong89

September 17, 2009 Posted by | Bieu tinh chong suc vat nguyen tan dung toi Dan Mach | | Leave a comment

phat-giao-an-quang-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh

phat-giao-an-quang-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh

Phật Giáo Ấn Quang tay sai súc vật hồ chí minh


Phật Giáo Ấn Quang « Đổi Mới » – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Trước khi tôi viết bài này, thì quý độc giả đã thấy Phật giáo Ấn Quang cũng đã cố đẻ ra cho được cái gọi là « Lực lượng cư sĩ chấn hưng Phật giáo »; nhưng muốn nói đến cái « Lực lượng » này, thì bắt buộc tôi phải nói đến những thứ « Lực lượng » của Phật giáo Ấn Quang, từ lúc khởi đầu như sau:

Nếu đảng cộng sản Hà Nội đã từng tuyên bố «đổi mới » từ đầu thập niên 1980, thì đồng thời Phật giáo Ấn Quang cũng đã cùng hòa một nhịp điệu « đổi mới ». Đây mới thực sự là: « Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ».

Tuy nhiên, nhìn lại tất cả những gì Phật giáoẤn Quang tức « GHPGVNTN » đã làm từ bao nhiên năm qua, thì xem ra Phật giáo Ấn Quang chỉ mới đổi mà thôi.

Sở dĩ nói là mới đổi, là bởi vì vào những năm tháng dài của cả hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, Phật giáo Ấn Quang cũng đã từng đẻ ra những cái gọi là « Lực lượng » như sau:

Sau tháng 8 ăm 1945, Phật giáo đã thành lập « Lực lượng Phật giáo Cứu quốc Trung bộ, do « Hòa thượng Thích Đôn Hậu tức Diệp Trương Thuần làm Chủ tịch kiêm Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên và trụ trì chùa Thiên Mụ, Huế.

Năm 1947, Thích Đôn Hậu đã bị Pháp bắt giam một thời gian vì tội làm cộng sản. Sau khi được trả tự do, năm 1948, được cử làm cố vấn đạo hạnh Hội Phật giáo Trung phần. Năm 1949, làm Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Trung Việt.

Năm 1951, Thích Đôn Hậu được « cung thỉnh » làm đàn đầu Hòa thượng trong đại giới đàn tại chùa Ấn Quang. Năm 1952, tại Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc, Thích Đôn Hậu được suy cử làm Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.

Từ ngày 20-12-1960, khi cộng sản Hà Nội cho thành lập « Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam » cho đến năm 1963, Thích Đôn Hậu là một trong những thầy chùa phát động phong trào chống chính quyền của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

Sau khi Nền Đệ Nhất Cộng Hòa bị sụp đổ, Thích Đôn Hậu vẫn tiếp tục giữ chức « Chủ tịch Phật giáo cứu quốc ».

Ngày 24-8-1964, « Lực lượng Phật giáo cứu quốc » đã dập đầu ông Trần Sô khi ông dắt đứa con trai 10 tuổi đến khám bệnh tại phòng mạch của Bác sĩ Thái Can; tức Thi sĩ Thái Can, vây bắt Đại tá Lê Quang Mỹ, Thị trưởng Đà Nẵng và đốt cháy sạch Tòa Thị Chính Đà Nẵng; đồng thời đánh giết người và đốt cháy sạch sẽ nhà cửa của đồng bào hai phường Thanh Bồ-Đức Lợi và định tấn công đến phường Tam Tòa ở gần đó, nhưng nhờ sự can thiệp của quân đội nên Tam Tòa đã thoát nạn.

Năm 1966, Phật giáo Ấn Quang đã thành lập thêm các « Lực lượng » mà tại miền Trung đã do Thích Đôn Hậu chỉ đạo như:

« Lực lượng Phật tử quyết tử, Lực lượng sinh viên học sinh quyết tử, Lực lượng thanh niên quyết tử, Lực lượng Phật giáo tranh thủ cách mạng, để kết hợp với Lực lượng Phật giáo cứu quốc để nổi loạn và chiếm giữ miền Trung để thành lập « Chính Phủ Miền Trung » và để có sức mạnh quân sự Phật giáo Ấn Quang đã thành lập Quân Đoàn Vạn Hạnh, Lực lượng này gồm những sĩ quan, quân nhân, cảnh sát, công chức, trong đó có Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng đã gia nhập Quân Đoàn Vạn Hạnh, Thích Minh Chiếu là Thiếu tá trưởng phòng Tuyên úy Vùng 1, quân khu 1 làm Tư lênh và « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh » đã được đặt tại « chùa « Phổ Đà, nơi đây đã từng là nhà tù từng giam hàng trăm các viên chức chính quyền và các vị cán bộ của Việt Nam Quốc Dân Đảng suốt bốn mươi ngày, trong đó có Giáo sư Nguyễn Hữu Chi, tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, ông Lê Nguyên Long, Trưởng ty Thông tin Quảng Nam, Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang và quá nhiều vị nữa « (Xin quý độc giả hãy đọc lại bài: Cuộc Bạo Loạn Bàn Thờ Phật Xuống Đường Tại miền Trung, Mùa hè 1966 để biết được một cách rõ ràng hơn). Phật giáo Ấn Quang nên biết, rất nhiều chứng nhân và nạn nhân vẫn còn sống đấy, một ngày nào đó khi các vụ án năm xưa tại miền Trung Việt Nam được đưa ra trước luật pháp quốc tế, thì các vị ấy sẽ sẳn sàng để đứng ra đòi công đạo cho chính họ và thân nhân của họ nữa.

Năm 1968, sau khi những người dân hiền của Cố đô Huế đã nhận diện được bộ mặt sát nhân của Thích Đôn Hậu rồi, thì Y đã chạy ra chiến khu của Việt cộng, sau đó ra Bắc, trong dịp này Thích Đôn Hậu đã được chụp hình chung với Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng. Phật giáo Ấn Quang hãy chờ cuốn sách của ta đây sắp phát hành thì mọi người sẽ thấy rõ ràng hơn.

Trong thời gian ở chiến chu của Viêt cộng Thích Đôn Hậu đã giữ những chức vụ như sau:

« Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương liên minh các Lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam; tháng 6-1969, Thích Đôn Hậu được cử làm Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, đã được Việt công cử đi dự nhiều « Hội nghị quốc tế ».

Đến trước và sau ngày 30-4-1975, tại Đà Nẵng, Phật giáo Ấn Quang đã thành lập:

« Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo thị bộ Đà Nẵng, Lực lượng An Ninh Phật giáo, cả hai đều được đặt tại chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

Suốt trong thời gian này, tại Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu như một ông vua Lý ( Xin quý độc giả hãy đọc lại bài: 30-4-1975: Máu Và Nước Mắt, để biết rõ hơn về những hành vi của Thích Đôn Hậu.

Năm 1976, Thích Đôn Hậu đắc cử « đại biểu Quốc hội khóa VI và là Ủy viên Đoàn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và là Phó pháp chủ Hội đồng chứng minh kiêm giám luật Giáo hội Phật giáo Việt Nam cộng sản ».

Thích Đôn Hậu đã được cộng sản Hà Nội ban thưởng, trao gắn những thứ như sau:

« Huân Chương Hồ Chí Minh, Huân Chương Độc Lập, Huy Chương Vì Sự Nghiệp Đại Đoàn Kết Toàn Dân ».

Ngày 23-4-1992 (21-3-âm lịch) vào lúc 19 giờ 55 phút, Thích Đôn Hậu đã chết tại chùa Thiên Mụ, Huế, sống và làm giặc tổng cộng tất cả là 88 năm.

Sau khi Thích Đôn Hậu chết, Phật giáo Ấn Quang đã phù phép ra hai « tăng thống », vì thực sự Thích Đôn Hậu không hề làm « tăng thống » một giây phút nào cả, mà chỉ làm « Phó pháp chủ kiêm Giám luật Giáo hội Phật giáo Việt Nam cộng sản » cho đến hơi thở cuối cùng.

Phật giáo Ấn Quang đổi mới hay mới đổi?

Như đã nói, với quá nhiều những thứ « Lực lượng » mà Phật giáo Ấn Quang, tức « GHPGVNTN » mà Ấn Quang đã từng thành lập để gây nên những tang thương, máu lệ trên khắp nẽo đường của đất nước, đặc biệt là tại miền Trung. Và bây giờ, Phật giáo Ấn Quang lại đẻ thêm ra cái gọi là «Lực lượng cư sĩ chấn hưng Phật giáo ». Thực ra cái « Lực lượng » này nó chỉ là biến thể từ những cái: « Lực lượng Phật giáo cứu quốc: Cuộc thảm sát Thanh Bồ- Đức Lợi, 24-8-1964; cho đến những thứ « Lực lượng » để đem bàn thờ Phật xuống đường vào mùa hè 1966, cho đến những màn chém giết hàng ngàn người vô tội trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, xin quý vị hãy đọc lại bài: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân: 1968-2008, và những ngày trước khi thành phố Đà Nẵng rơi vào tay của cộng sản Hà Nội.

Và chắc mọi người cũng đã nghe được những cái mồm của cái « LLCSCHPG » khi một tên nào đó đã cướp lời của ông Chính Khí Việt, rồi nói thao thao bất tuyệt, nhằm để không cho ông Chính Khí Việt nói hết được ý kiến của ông. Với cảnh này, nó đã làm sống lại trong tôi những hình ảnh của các vị đã bị Phật giáo Ấn Quang bắn chết tại Đà Nẵng như: Ông Hồ Hân, ông Phạm Lý, ông Nguyễn Phận và đặc biệt là ông Bùi Ngọc Cang đã bị « Lực lượng An ninh Phật giáo » bắn chết ngay giữa nhà trước mặt vợ con của ông. Xin quý độc giả hãy đọc lại bài: 30-4-1975: Máu Và Nước Mắt, để biết rõ hơn về những hành vi dã man và tàn ác của Phật giáo Ấn Quang.

Những người yêu nước chân chính không cần phải « đối thoại » với lũ tham tàn bạo ngược.

Tại sao tôi lại có thể dùng những từ ngữ như thế để chỉ Phật giáo Ấn Quang? Xin thưa: Bởi tôi đã chứng kiến quá nhiều những hành vi tàn bạo của Phật giáo Ấn Quang, từ khi còn bé. Vì thế, bây giờ tôi đã là một người già, đã trãi qua hơn nữa thế kỷ, đã đi qua một cuộc đời, tôi đã chiêm nghiệm, đã thấy, đã biết, nên không thể dùng từ ngữ nào khác hơn để nêu cho đích danh đối với lũ Giặc Án Quang.

Tôi còn nhớ, trước đây, trong một lần anh chị Giáo sư Đặng Văn Nhâm đã đến thăm gia đình chúng tôi, khi anh Đặng Văn Nhâm ngõ lời như sau:

« Tôi chưa bao giờ mời ai viết chung với tôi, nhưng bây giờ tôi mời cô viết chung với tôi trong cuốn sách Giặc Thầy Chùa, vì tôi ở trong Nam, không biết nhiều về những gì đã xãy ra ngoài Trung, còn cô, đã sống tại đó, vậy cô có đồng ý hay không? »

Và tôi đã đồng ý, do đó, trong cuốn « Giặc Thầy Chùa số 2, Anh chị Đặng Văn Nhâm đã trích lại những bài viết của tôi trên Văn Nghệ Tiền Phong. Đến cuốn Giặc Thầy Chùa số 3, thì tôi đã viết loạt bài Tăng Phỉ Miền Trung, mà anh Đặng Văn Nhâm đã in trong cuốn sách này. Ngoài ra, tôi vì tình nghĩa với một người chị rất thương tôi đó là chị Trần Mộng Chi, tức chị Đặng Văn Nhâm chị cũng là người đồng hương với tôi trên vùng đất « Ngũ Phụng Tề Phi ». Như thế mà bọn chúng lại buông những lời lẽ mất dạy giữa anh chị em tôi, thật đúng Là Loài Chó Sói Cắn Hoài Phải Gió.

Tôi cũng đã và sẽ gom hết, và giữ lại tất cả những lời của bọn chúng đã dựng đứng mọi chuyện về tôi; để sau này, tôi sẽ viết về bọn chúng với những điều mà chưa ai biết…

Với những điều mà tôi đã kể ở trên, nên tôi muốn đề nghị với các vị là những người của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, không nên vào các diễn đàn của cái gọi là «LLCSCHPG », vì cứ nhìn vào cách hành xử của chúng đối với ông Chính Khí Việt thì chúng ta đã rõ. Một lần nữa tôi xin lập lại rằng:

Cái gọi là Lực lượng cư sĩ chấn hưng Phật giáo, nó chỉ là biến thể của những thứ « Lực lượng » từng gieo máu lửa và từng giết hàng vạn đồng bào vô tội trong suốt cả chiều dài của cuộc chiến Quốc- Cộng tại Việt Nam, như từ « Lực lượng Phật giáo cứu quốc, Lực lượng Phật giáo tranh thủ cách mạng, Lực lượng Phật giáo quyết tử, Lực lượng sinh viên- học sinh quyết tử, Lực lượng thanh niên Phật giáo quyết tử, Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo trước những ngày 30-4-1975, và còn nhiều ‘ thứ « Lực lượng » khác, để bây giờ chúng kết hợp những thứ « Lực lượng » ấy thành một, là « Lực lượng cư sĩ chấn hưng Phật giáo ».

Chính vì thế, tôi muốn nói: ngày xưa, từ những năm đầu của thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày 30-4-1975, chúng ta đã không chấp nhận những thứ « Lực lượng » làm giặc ấy rồi, thì hôm nay, quý vị đã và đang làm những việc vì đại cuộc chung thì không nên vào các diễn đàn của cái « Lực lượng » này, và cũng không cần « đối thoại ». Tuy nhiên, với ngọn bút trên tay, thì chúng ta không bao giờ ngưng nghỉ, chúng ta phải dùng những ngọn bút kiếm để « đâm những thằng gian bút chẳng tà ».

Riêng về Thiếu tá Liên Thành, có thể vì một lý do nào đó nên sách của ông đã bị in sai lạc, mà khó có ai có thể hiểu được.

Nhân đây, tôi xin nêu ra một trường hợp có thật: Tôi có một người bạn, anh Nguyễn Văn Đức, có người em ruột Nguyễn Văn Hậu thi Tú tài toàn phần bị rớt, cả hai anh em là con người vợ chính đã qua đời, và cả người cha ruột cũng đã mất, nên sống với người kế mẫu và hai cô em gái tại đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nhưng vì gia sản của cha mẹ anh để lại rất lớn, nên bà kế mẫu này luôn luôn tìm cách để tranh phần cho hai cô con gái ruột của mình, bà lại rất khắc nghiệt với hai người con của người vợ chính, nhưng khi anh Đức trưởng thành thì bà lại nể sợ anh Đức. Có lẽ vì không vui với hoàn cảnh đó, nên người em trai khi đi thi Tú tài bị rớt. Người anh ruột thì đã có bằng Tú tài toàn phần từ lâu; song anh không thể vào trường sĩ quan, bởi anh sợ khi anh đi rồi, thì đứa em trai nhỏ tuổi của anh sẽ sống không yên với bà kế mẫu. Thế rồi, sau nhiều đêm suy nghĩ, anh Đức đã quyết định trao tấm bằng Tú tài của mình cho người em ruột, để cậu này đi vào trường Sĩ quan, sau đó cậu Hậu trở thành một Sĩ quan Hải quân; còn anh Đức phải nhận lấy giấy tờ của em mình để trở thành một Hạ sĩ quan; song sau đó anh đã dự khóa Sĩ quan đặc biệt và cũng thành một Sĩ quan. Cho đến trước ngày 30-4-1975, anh Đức là Đại úy thuộc Tiểu đoàn 61, Biệt Động Quân Biên Phòng. Có một điều cả hai anh em dù cố nhớ mà vẫn thường hay lẫn lộn về ngày, tháng, năm sinh của mình, cũng như cả hai đều không dám nói ra sự thật vì sợ phạm luật; còn bạn bè, đặc biệt là người tình của họ thì càng rắc rối hơn, vì khi gặp các đồng đội của cả hai, thì họ gọi tên theo giấy tờ trong đơn vị, nhưng khi đến nhà thăm thì lại nghe người trong nhà gọi theo tên thật của hai anh em, Đức thành Hậu và Hậu thành Đức. Còn trường hợp của Thiếu tá Liên Thành thì chắc cũng có một nguyên do nào đó, mà không ai hiểu được chỉ trừ chính ông mới biết mà thôi. Và cái « LLCSCHPG » này đã khai thác vào điểm này để tấn công ông.

Nhưng, bất kể vì một nguyên do nào, cũng không một ai, kể cả Phật giáo Ấn Quang, cũng không thể phủ nhận được rằng Thiếu tá Liên Thành đã từng là Trưởng ty Cảnh sát Thừa Thiên- Huế. Một điều khác nữa là vụ án của hai « nhà sư » Thích Quảng Lợi và Thích Như Ý, mà tôi đã viết trong bài: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân: 1968-2008, bài này tôi đã viết vào ngày 26-01-2008, trước Tết Mậu Tý hai tuần lễ, và đã đăng trên vnfa.com, số báo Xuân Mậu Tý; nghĩa là trước khi cuốn sách Biến Động Miền Trung của Thiếu tá Liên Thành được phát hành; nhưng khi đọc cuốn sách này tôi mới hay rằng vụ án này giống như những gì tôi đã biết và đã viết.

Phật giáo Ấn Quang « đổi mới » như thế nào?

Thưa có, song chỉ là mới đổi, Ấn Quang đã mới đổi cái tên Thích Viên Định, đã ký tên dưới sự « Thừa ủy nhiệm » của « tăng thống » Thích Quảng Độ, như mọi người đã thấy cũng qua cái « Thông cáo báo chí của Văn phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế – Phát ngôn nhân Viện hóa đạo GHPGVNTN » tức Ấn Quang, mà Đinh Thạch Bích cũng là một trong những đóa sen đã nở ở trong lò…n, nên đã trân trọng đội lên đầu rồi cũng đem chưng lên cái nghĩa trang điện tử Exodus. Vậy, chúng ta thử hỏi tại sao bây giờ là Thích Viên Định, mà không là Thích Quảng Độ???

Về điều này, đã có nhiều suy luận khác nhau. Còn theo tôi, thì tôi đã liên tưởng đến một loài Trăn lúc còn ở quê nhà.

Người Việt chúng ta thường nói là Cọp dữ, chứ ít ai nói là Trăn dữ; bởi ai cũng biết con cọp mỗi lần bắt mồi, nó thường gầm thét hung tợn, sau khi vồ được con mồi thì nó liền xé xác ra để ăn thịt. Nhưng loài Trăn thì ngược lại, nó cũng hung ác như con cọp, nhưng cách bắt mồi của nó không như con cọp, mà mỗi khi rình bắt một con mồi, con Trăn nó không gầm thét mà nó rất nhẹ nhàng, lại thêm những tiếng kêu như tiếng sáo trúc cũng như loài rắn lục, nhưng tiếng kêu của con Trăn nó phát ra từ cái miệng đỏ loét của nó lớn hơn, nó đã làm cho những con mồi như bị thôi miên, không thể chống cự, rồi nó dùng cái tấm thân to béo và nhẳn thín của nó, để siết chặt con mồi cho đến khi mềm nhũn, rồi nó mới nuốt chững con vật, đôi khi là một con bò, con trâu to lớn và có khi là con người nữa vào trong cái bụng của nó. Và đó, là lúc con Trăn nó đã và đang no mồi, nó không cần di chuyển nữa,,mà nó tìm một nơi yên tỉnh, êm ấm, rồi nó khoanh mình để « đông miên », để thưởng thức cái no nê trong lúc con mồi đang tiêu dần trong bụng của nó, để nuôi dưỡng cái tấm thân mỗi ngày càng thêm khỏe mạnh, cho đến khi con mồi trong bụng nó đã tiêu hết, song những cục xương của con vật thì lại không bao giờ tiêu hóa được; nên lúc đó, nó phải móc phần đuôi của nó trên một cành cây, đầu của nó thòng xuống đất, còn cái mồm của nó thì há ra thật lớn, để những cục xương của con mồi rơi ra hết. Và chính lúc này, là lúc con Trăn đã đói trở lại, thì nó lại tiếp tục phát ra những tiếng kêu réo rắt từ cái mồm của nó để rình bắt những con mồi khác.

Cũng tương tự, Thích Quảng Độ hiện nay đã và đang no nê với những con mồi mà ông ta đã nuốt được qua những lời kêu gọi « Tháng Năm Bất tuân Dân Sự- Biểu Tình Tại Gia » đã được phát ra từ ngày 29-3-2009, với kết quả là cái « Đại hội Việt kiều toàn thế giới lần đầu tiên » sẽ được khai diễn tại Hà Nội vào tháng 11-2009. Bởi thế, nên cái « Thông cáo baó chí » ở trên đầu của Đinh Thạch Bích, người ta chỉ thấy Thích Viên Định ký tên là đã « Thừa ủy nhiệm của Hội đồng Lưỡng viện GHPGVNTN ».

Như vậy, mọi người đừng lầm tưởng một khi con Trăn đã no mồi, thì nó không đi bắt mồi nữa. Không, khi nó no thì nó nằm lim dim ngủ, nhưng sau đó, khi nó đói, nó lại tiếp tục rình rập để bắt những con mồi cho đến khi nó chết, và tất cả những con Trăn khác của loài Trăn này, chúng cũng đều giống nhau như thế, không hề khác một ly nào cả.

Trở lại với cái « LLCSCHPG »:

Tôi vẫn nhớ, trước đây, qua bài viết: Trả Lời Võ Văn Ái, tôi đã viết: tôi vẫn tạm xem như cái « Thông cáo báo chí » kia là do Võ Văn Ái viết ra. Nhưng, cho đến hôm nay, theo như những lời đề nghị của ông Đặng Phúc là vào dịp « Lễ tiểu tường » của « Tăng thống » Thích Huyền Quang, thì « Lưỡng viện Giáo hội » nên trả lời về bài viết: « … Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Bất Lương … Người Đàn Bà Mất Gà… », trong đó có lời kêu gọi:

« … người Việt dân tộc nói chung và người Phật tử nói riêng cũng không thể tin và nể trọng bà, nếu không nói là quyết liệt lên tiếng chống đối sự giảo hoạt và gian dối của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền ».

Và « lễ tiểu tường » của « tăng thống » Thích Huyền Quang đã qua từ lâu, mà những lời đề nghị của ông Đặng Phúc vẫn không hề được « Hội đồng Lưỡng viện của GHPGVNTN » trả lời một cách xác đáng; điều đó đã chứng tỏ rằng: Nói theo cách nói của Phật giáo thì: Bản văn viết về: … « Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Bất Lương và là Người Đàn Bà Mất Gà … » thì những kẻ thừa hành đã « Thỉnh thị tôn ý của Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội mà người đứng đầu là « Hòa thượng » Thích Quảng Độ, Đệ ngũ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; tất cả đều đã đồng tâm như nhất với cái bản văn ấy rồi mới trao cho « Phát ngôn nhân của Viện hóa đạo, để phát đi trên các hệ thống thông tin toàn cầu. Nói cho rõ ràng là bản văn đó là tiếng nói chính thức của « Hòa thượng » Thích Quảng Độ, Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN » và cả Giáo hội Phật giáo Thống nhất nữa. Tất cả đã đồng tâm kêu gọi: « không riêng người Phật tử mà cả người Việt dân tộc phải tập trung lực lượng để quyết liệt đánh Hàn Giang Trần Lệ Tuyền ».

Do đó, mà trước đây, qua bài: Trả Lời Võ Văn Ái tôi đã nói: Nếu các ngươi đã đặt ta đây lên ngang bằng với các « Tăng thống » và đã xem ta là đối thủ, thì ta đây cũng vô cùng hoan hỉ để chấp nhận là đối thủ của GHPGVNTN. Vậy, bài viết trước đây, phải được hiểu là: Trả Lời Thích Quảng Độ. Vì không ai lại đi trả lời với một cái loa phóng thanh.

Và cũng chính vì thế, mà hôm nay, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền này, đanh thép tuyên bố sẽ không bao giờ đối thoại với bất cứ kẻ nào, mà chỉ chấp nhận một cuộc đối luận duy nhất với « Hòa thượng » Thích Quảng Độ, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( Ấn Quang), vì chính Thích Quảng Độ là người đã phát ra cái bản văn: «Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Vô bằng và bất lương… người đàn bà mất gà … » với lời kêu gọi: không riêng tám mươi phần trăm là Phật tử và cả người Việt dân tộc phải quyết liệt lên tiếng để đánh Hàn Giang Trần Lệ Tuyền. Và Cuộc đối luận này sẽ phải do quý vị trong Ban Điều Hành của Trang Điện Báo Hồn Việt Chủ Trì và Giám Sát.

Xin quý độc giả hãy cảm thông, vì chính « GHPGVNTN » tức Ấn Quang, đã muốn như thế, chứ không phải do ý của Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

Cuối cùng, tôi xin kính lời đến quý vị trên các diễn đàn, với những ý kiến, và những lời nói thay cho tôi thật đúng với những gì mà tôi muốn diễn đạt. Tôi đã và sẽ giữ lại tất cả những lời nói, cũng như những dòng của quý vị đã viết; mặc dù chỉ biết qua bút danh, chứ không hề biết quý vị là ai; song tôi sẽ gom hết vào trong một tuyển tập trong tương lai. Xin quý vị hãy nhận nơi đây, với tất cả lòng tri ân thành kính của tôi.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_PhatGiaoAnQuangDoiMoi.htm

September 15, 2009 Posted by | phat-giao-an-quang-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh, Phật Giáo Ấn Quang « Đổi Mới » - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, Phật Giáo Ấn Quang tay sai súc vật hồ chí minh | , , | Leave a comment

cong san an thit nguoi – communist cannibals

cong san an thit nguoi – communist cannibals

http://video.google.com/videoplay?docid=-5345195521896006807&hl=en#

September 15, 2009 Posted by | cong san an thit nguoi - communist cannibals | | Leave a comment

suc-vat-phan-nhat-nam-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh

suc-vat-phan-nhat-nam-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh


Phan Nhật Nam với “khối nặng tính ác và sự xấu”- Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Vừa qua, Nam Nhân tôi được một thân hữu chuyển cho bài viết có tên: “Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu!”, của Phan Nhật Nam. Sau khi đọc xong bài này, Nam Nhân tôi thật sự không lấy gì làm ngạc nhiên, qua những bài viết bậy bạ trước đây của Phan Nhật Nam mà Nam Nhân tôi đã có nhiều bài nhắc nhở. Người phóng bài này lên các Diễn Đàn ký tên là Nguyễn văn Trọng (K13), đã giới thiệu bài nói trên của Phan Nhật Nam như sau:

(trích)
Xin quý vị vui lòng bỏ chút thời giờ quý báu để đọc và có thể chia sẻ…. bài viết cương trực, liêm chính, chân thành, đầy tính xây dựng, yêu thương cội nguồn quê hương và dân tộc của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM…”
(hết trích)

Ngay đoạn mở đầu trên là một tính xấu của nhân dân và dân tộc Việt Nam mà Phan Nhật Nam đã “lật tẩy” trong bài viết của mình. Nghĩa là Phan Nhật Nam chửi cái tật xấu “mặc áo thụng vái nhau” của người Việt Nam (?). Vậy thử hỏi lời giới thiệu nói trên của Nguyễn văn Trọng (K13), sau khi đã được đọc bài của Phan Nhật Nam, mà còn viết như vậy thì có lẽ là mặc áo thụng quỳ thụp xuống đập đầu chan chát vào với nhau!!!

Trước hết, chúng tôi xin hỏi Phan Nhật Nam rằng: khi viết bài này nhằm nêu ra tính chất xấu xa và ác độc của dân tộc Việt Nam gồm “19 tính ác và sự xấu”:

(trích)
1. Không tôn trọng sự thực và lẽ phải.
2. Khoe khoang và kiêu ngạo.
3. Cố chấp và ngoan cố
4. Độc tôn.
5. Kỳ thị.
6. Tàn ác.
7. Thiếu cao thượng và hay chơi gác.
8. Phe đảng.
9. Thiển cận.
10. Ganh ghét.
11. Thích làm vua làm chúa.
12. Không công tâm.
13. Không tôn trọng luật lệ.
14. Cướp công của người khác.
15. Ưa nịnh bợ tang bốc.
16. Thích ăn hối lộ.
17. Tham lam.
18. Không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc.
19. Không tuân giữ các cam kết v.v…”
(hết trích)

Sau đó Phan Nhật Nam bắt đầu chứng minh.

Trước khi nêu lên nhận xét của mình về bài viết nói trên của Phan Nhật Nam, Nam Nhân tôi muốn hỏi rằng: cũng là người Việt Nam, vậy thì trong 19 cái tật xấu kể trên, Phan Nhật Nam đã mắc phải bao nhiêu cái???

Nếu Phan Nhật Nam là người còn có lương tâm với ngòi bút và bạn đọc thì phải tự soi gương để tự vấn để xem mình có bao nhiêu “tính ác và sự xấu” nói trên. Còn nếu chửi cả dân trộc Việt Nam từ khai nòi mở nước cho đến nay là 2009 vẫn ôm ấp, phát triển và di truyền lại “19 tính ác và tật xấu” nói trên, còn Phan Nhật Nam đứng hẳn ra ngoài dân tộc để nhận xét như một ông thầy đạo đức của dân tộc Việt Nam, thì cái cách như vậy cho phép Phan Nhật Nam được tự đặt tên bệnh cho mình.

Lịch sử Việt Nam đã có gần 5,000 năm nay, theo chỗ Nam Nhân tôi được biết chỉ có 4 tên đại lưu manh và vong bản mới dám phê phán dân tộc mình, có nghĩa là chúng đã chửi cả Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của chúng lẫn cả Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của những người Việt Nam khác.

Những tên đại lưu manh và vong bản đó theo thứ tự thời gian xuất hiện gồm:

1.- Tên đại việt gian Hồ chí Minh trong khi gọi những tên Lê nin, Stalin là “Ông” là “Cha” thì hắn đã hỗn láo “tôi tôi, bác bác” với Đức Thánh Trần Hưng Đạo, ngay trong đền thờ của Ngài.

2.- Tên Nguyễn Gia Kiểng, qua cuốn “Tổ quốc ăn năn”, đã chửi cả dân tộc Việt Nam kể cả những nhân vật anh hùng của cả dân tộc, như Đại Đế Quang Trung. Thế nhưng hắn lại thanh minh thanh nga, ca ngợi việt gian Lê Chiêu Thống. Phải chăng đây là một lối khuyến khích, cổ võ, ca ngợi tập đoàn việt-gian cộng-sản từ Hồ chí Minh cho đến nay là tên con hoang Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng v. v… hãy bắt chước Lê Chiêu Thống mời quân Tàu vào cai trị Việt Nam, giúp chúng giết những người Việt Nam yêu nước để nhằm sát nhập Việt Nam thành một quận hay một tỉnh của Tàu và nhân dân Việt Nam sẽ lần lần theo thời gian bị tiêu diệt cho đến người cuối cùng.

3.- Tên Đỗ Thông Minh, một tên với bộ óc “shusi” cũng viết sách, viết báo, đi khắp mọi nơi có người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản cư ngụ để chửi dân tộc Việt Nam. Tên này khi tới Manchester, Anh quốc đã bị chất vấn cứng mõm chó, không thể trả lời được và xin khất sẽ trả lời sau. Về tới Nhật, ba bốn tháng sau mới dám viết một bài báo phản ứng một cách yếu ớt như mèo bị cắt tai.

4.- Và đến nay tên thứ tư chính là Phan Nhật Nam. Tên này là một trong những tên đã được việt-gian cộng-sản tẩy não rất kỹ lưỡng, như chính hắn đã vô tình trong lúc cao hứng, lộ ra với phóng viên của tờ VietWeekly, đại ý: Thời kỳ ở trại tù Z30D (Hàm Tân, Thuận Hải), với tên trung tá công an việt-gian cộng-sản là Trịnh Nhu làm cai tù. Phan Nhật Nam khoe được việt-gian Trịnh Nhu cho làm chân giữ thư viện với mục đích giao cho Phan Nhật Nam đọc toàn bộ tuyển tập Lê nin, gồm 25 tập, mỗi tập hàng trên ngàn trang, để sau đó “giảng tóm tắt” lại cho tên Trịnh Nhu. Phan Nhật Nam khoe như vậy mà không thấy sự ngu xuẩn rằng chính thằng việt-gian Trịnh Nhu vừa là đảng viện việt-gian cộng-sản lâu năm lại còn là một sĩ quan việt-gian công an với cấp bậc trung tá (sau đó hắn đã được nhảy vượt bậc lên đại tá mà còn là tương đương cấp cục vụ) thì bản thân hắn đã được học tập về chủ nghĩa Mác Lê theo cả hai con đường: Một là do tổng cục cảnh-sát đào tạo; hai là hắn đã từng là bí thư liên đảng ủy việt-gian cộng-sản các nhà tù Z30D, Z30A và Z30C. Nghĩa là hắn còn được học chính trị do tuyên giáo của việt-gian cộng-sản của cấp tỉnh, hoặc cấp trung ương giảng dậy (hoặc tập trung ngắn hạn, mỗi năm tập trung ba tháng trong 4 năm liền; hoặc tập trung dài hạn một năm). Và cũng chính Phan Nhật Nam không hề nói đến đã có một buổi nào “giảng tóm tắt” cho tên Trịnh Nhu. Điều đó chứng tỏ rằng, tên việt-gian Trịnh Nhu là thằng đại lưu manh trong số các cai tù của việt-gian cộng-sản, đã biết những chỗ yếu của Phan Nhật Nam cho nên hắn đã dụ khị cho Phan Nhật Nam tự nguyện brainwash, bằng cách đọc hết sức cặn kẽ 25 tập sách của Lê nin. Chính vì lý do tự nguyện tẩy não như thế, cho nên Phan Nhật Nam mới được cho về Sài Gòn để cán bộ an ninh văn hóa chỉ dẫn thêm những cách thức viết kiểu hai mặt, phục vụ cho âm mưu của việt-gian cộng-sản nhằm tăng cường bồi bút ở hải ngoại để phục vụ cho sự thôn tính cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản bằng truyền thông và văn hóa văn nghệ.

Điều đó hoàn toàn do mồm Phan Nhật Nam nói ra chứ không một ai vu cáo cho Phan Nhật Nam cả. Cho nên mới có những bài viết của Phan Nhật Nam mà Nam Nhân tôi đã bóc mẽ. Cho nên mới có chuyện Phan Nhật Nam lên SBTN cùng Du tử Lê mặc áo thụng vái nhau. Phan Nhât Nam thì ca ngợi Du Tử Lê chỉ biết thương yêu mà không biết thù hận. Kể cả kẻ thù của mình!?

Còn Du Tử Lê, kẻ được việt-gian cộng-sản cho in thơ trong nước và còn được giới thiệu trên các tờ lá cải của việt-gian cộng-sản, thì khen Phan Nhật Nam, khi xưa từng là phóng viên chiến trường (QLVNCH), khi viết về địch cũng rất là người. Đúng là Ngưu tầm Ngưu Mã tầm Mã.

Chính vì thế trong bài thơ của mình Phan Nhật Nam đã ca ngợi những tên binh nô việt-gian cộng-sản chết cho chiến lược bành trướng đỏ của Nga sô và Tàu cộng ở Điện Biên Phủ, và hỗn láo trắng trợn nhất dám cho hòa dòng máu của những tên binh nô đó với máu của Trung-Tá Nguỵ văn Thà và đồng đội đã vị quốc vong thân, trong vụ bảo vệ Hoàng Sa 1974!!!???

Bô mặt của Phan Nhật Nam vào cái giờ phút này (2009) của dân tộc Việt Nam đang đứng trước thử thách chống nội thù, ngoại thù thế mà Phan Nhật Nam đã hạ bút chửi cả dân tộc Việt Nam với “19 tính ác và sự xấu”, kể cả việc thóa mạ những anh hùng dân tộc chống xâm lược, như Quang Trung Đại Đế, đã được lịch sử dân tộc khẳng định, kể cả lịch sử của kẻ thù là triều đại nhà Thanh bên Tàu. Tuy chỉ nói lướt qua nhưng Phan Nhật Nam đã ca ngợi người Việt gốc hoa và dè bỉu người Việt chính gốc. Kết hợp việc câu kết với bè lũ Nguyễn chí Thiện, Trần Phong Vũ, Chu Tất Tiến, Đỗ thị Thuấn, nghĩa là những kẻ đã thường xuyên họp kín với cái gọi là “Pháp Luân công” (không biết là Pháp Luân Công thiệt hay tình báo Tàu cộng đội lốt Pháp Luân Công) mà chưa bao giờ bọn chúng công khai hóa nội dung cuộc gặp gỡ nhằm mục đích gì.

Xin lưu ý bạn đọc rằng nếu như ở trong nước tụi việt-gian cộng-sản đã cùng Tàu cộng hợp tác trên mọi lãnh vực gói trong nhóm “mười sáu chữ vàng và bốn tốt”, thì hiển nhiên ở hải ngoại làm sao lại không có chuyện câu kết giữa việt-gian cộng-sản và Tàu cộng trong việt thực thi cái gọi là “nghị quyết 36”.

Bây giờ Nam Nhân tôi xin dẫn chứng bằng một số đoạn trích trong bài viết của Phan Nhật Nam nói trên để được mạn phép bạn đọc cùng chia xẻ ý kiến như sau:

Ngay đoạn mở đầu Phan Nhật Nam đã viết:

(trích)
“…Người viết không muốn bị những người từ trước tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản (như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc là coi thường dân tộc mình… Vì vậy, người viết đành ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt, và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.”
(hết trích)

Thử hỏi rằng người Việt cả trong nước và hải ngoại đã có ai minh chứng được rằng Phan Nhật Nam là người chống cộng kiên cường nhất? “Cũng xin lưu ý đến bạn đọc rằng Phan Nhật Nam đã chơi trò tráo bài ba lá bằng chữ nghĩa khi dùng chữ chống cộng nó bao gồm hai mặt. Đó là chống trên lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản của Mác và Lê nin hoàn toàn khác với việc chống tập đoàn việt-gian cộng-sản là một tổ chức mượn cái áo chủ nghĩa cộng sản để che đậy bộ mặt bán nước giết dân từ thời đại việt gian Hồ chí Minh cho đến nay là lũ đầu xỏ việt gian lưu manh Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng cùng toàn thể đảng cộng-sản việt-nam và cơ quan chuyên chính của chúng. Nhưng dù là trên địa bàn nào thì phải nói thật rằng Phan Nhật Nam cũng chỉ là con tốt đen đã long sơn tróc vẩy. Với trình độ lý luận qua 25 tập sách của Lê nin thì cũng chỉ là thứ tép riêu trong làng lý luận (đấy là nói đã thẩm thấu hết được nội dung những cuốn sách đó). Còn nếu trên lĩnh vực là người chống việt-gian cộng-sản, thì đó là chuyện của quạ cắm lông công (La Fontaine) kể từ ngày ra tù qua bàn tay nhào nặn của an ninh văn hóa việt-gian cộng-sản, khi qua Mỹ thì sống dựa vào sự chu cấp của việt gian Đỗ Ngọc Yến, rồi nhập băng chủ động điếm quán bà Mâu Hải Phòng với những kẻ làm antenna trong tù cộng sản bị anh em trùm mền đánh cho một trận tơi bời, và một ả tay sai của Việt Tân, cũng như đệ tử của đặc công đỏ Bùi Tín… thì cái việc của Phan Nhật Nam chỉ có thể là chống những người chống cộng (cộng đây là việt-gian cộng-sản và tay sai) còn về kiến thức thì Nam Nhân tôi chỉ xin đưa một dẫn chứng nhỏ cho thấy con cóc Phan Nhật Nam vẫn cón ngồi trong hang của cái quá khứ xa xưa, mà cũng đã rơi rụng đi nhiều chính nghĩa nên khi muốn vu cáo nhà báo Việt Thường “là gián điệp của Tàu cộng”, đã không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào mà suy diễn rằng “Việt Thường có nghĩa là Việt Thường Thị, một dòng họ của Tàu”!!!???. Nam Nhân tôi khuyên Phan Nhật Nam hãy tham khảo lại các bậc trí giả hoặc sách vở để biết xem Việt Thường Thị là dòng họ của nước Văn Lang hay là của nước Tàu (thật tội nghiệp cho kẻ ngọng mà hay nói!).

Còn Phan Nhật Nam cho mình là người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhất nữa, xin hãy dẫn chứng bằng hành động cụ thể:
Thứ nhất: Những hành động yêu nước Việt Nam nồng nàn.
Thứ hai: Yêu nước Việt Nam nồng nàn nhất. Làm cách nào Phan Nhật Nam biết rằng mình là thứ nhất? Và cũng xin hỏi thêm tự nhận mình cái gì cũng nhất cả thì có nằm trong số “19 tính ác và thói xấu” nói trên không?

Phan Nhật Nam còn lại bạo phổi tự nhận “mình là người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé của mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết”. Vậy xin hỏi rằng cái cộng đồng nhỏ bé đó là cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản ở tiểu bang nơi Phan Nhật Nam cư ngụ, hay cái cộng đồng gồm Phan Nhật Nam, Nguyễn Chí Thiện, Trần Phong Vũ, Chu Tất Tiến, Kiêm Ái, nhóm Người Việt của Đỗ Ngọc Yến. Nếu so với cái cộng đồng nhỏ bé thư hai này mà Phan Nhật Nam còn tự nhận là kẻ “duy nhất” chỉ biết quyền lợi của Tổ quốc và dân tộc”, thì quả rằng Phan Nhật Nam thừa nhận cái lũ cộng đồng nhỏ bé bao gồm những tên như trên là kẻ “chỉ biết đặt quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc” dưới gót chân hoặc dưới tờ USD có lẽ đây là điều duy nhất Phan Nhật Nam đã tiếp cận sự thật một cách vô thức hoặc hữu thức.

Sở dĩ Phan Nhật Nam viết bài gán tất cả mọi tính xấu coi là đặc thù hoàn toàn của dân tộc Việt Nam mà không một dân tộc nào trên thế giới vượt qua, cũng chỉ nhằm chứng minh rằng tên đại việt gian Hồ chí minh và cái đảng việt-gian cộng sản của hắn là vô tội.

Nam Nhân tôi xin dẫn chứng để chia xẻ với quý bạn đọc. Xin được trích bài của Phan Nhật Nam như sau:

(trích)
“Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này.”
(hết trích)

Phan Nhật Nam tự hào là kẻ có học vậy mà không am tường lịch sử nước nhà! Phải chăng những điều Phan Nhật Nam viết ra nhằm chứng minh rằng, lý do khiến nhân dân Việt Nam bị tận cùng trong cõi trầm luân dưới gông cùm của tập đoàn việt-gian cộng-sản hiện nay là do các tính xấu của dân tộc Việt Nam nói chung gây ra? Chứ không phải do tên đại việt-gian Hồ chí Minh và cái đảng của chúng là đảng cộng-sản Việt-Nam đã khiến cho đất nước và nhân dân Việt Nam đến mức tận cùng như ngày nay?!

Chắc chắn Phan Nhật Nam không thể nào phủ nhận được rằng, trước 1975 VNCH đã xây dựng được một đời sống xã hội cao hơn hẳn các nước lân bang, kể cả Đại Hàn, Đài Loan. Đó là trong thời gian VNCH còn phải đương đầu với cuộc chiến xâm lược do việt-gian cộng-sản làm tay sai cho chủ nghĩa thực dân đỏ Nga sô, Tàu cộng, với đủ loại vũ khí, các phương tiện chiến tranh, cũng như toàn bộ hệ thống chính trị của chúng, với sự hỗ trợ của cái gọi là “phe xã hội chủ nghĩa”, đồng thời tại hậu phương, những kẻ thuộc thành phần thứ ba, bọn nằm vùng phá hoại, nghĩa là tụi nội gian đã gây nên mất an ninh trật tự và thiệt hại về tài sản cũng như tính mạng của bao thường dân vô tội, nhất là của tụi giặc thầy chùa phái Ấn Quang!

Xin hỏi Phan Nhật Nam, nếu quả thật dân tộc Việt Nam có “19 tính ác tật xấu” nói trên thì cùng một xuất phát điểm, lấy 1954 làm mốc, thế mà VNCH đã xây dựng thành công một đời sống xã hội no đủ, một nền giáo dục tiến bộ, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo, trở thành một sức mạnh toàn diện so với các nước vùng Đông Nam Á. Còn ngoài miền Bắc Việt Nam trong tay cai trị của tập đoàn việt-gian Hồ chí Minh, xã hội miền Bắc Việt Nam như thế nào, khỏi cần nhắc lại bởi vì đã có quá nhiều nhân chứng, trong đó rất nhiều người là ở phía Bắc đã nêu lên và đã làm cuộc so sánh rồi. Vậy cái gọi là “19 tính ác và tật xấu” là do tập đoàn việt-gian Hồ chí Minh vì lợi ích trăn năm của chúng, tức lợi ích của Nga sô, Tàu cộng mà trồng nên những con người như vậy. Chứ đấy không phải là những “tật xấu tính ác” nguyên thủy như hình với bóng của dân tộc Việt Nam.

Cho nên kết luận rằng dân tộc Việt không thể phát triển được là do các tính xấu như Phan Nhật Nam đã gán cho cả dân tộc thì quả là ĐẠI LÁO!

Nam Nhân tôi đề nghị quý vị thức giả cần xem xét những luận cứ mà Phan Nhật Nam đã nêu ra. Cần phải vạch rõ bộ mặt bút nô lưu manh của Phan Nhật Nam trước dư luận của những người Việt không cộng sản cả trong và ngoài nước để tránh có thể sẽ xuất hiện một tên đại bất lương Thứ NĂM theo bước chân của Phan Nhật Nam.

Nam Nhân tôi xin phép tạm dừng tại đây, chờ đợi sự lên tiếng của các bậc thức giả về việc Phan Nhật Nam đã chửi cả dân tộc Việt Nam, kể cả các vị anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Quang Trung v.v…Và Phan Nhật Nam cũng coi mình là người duy nhất trong cộng đồng đã đặt quyền lợi của Tổ quốc và dân tộc lên trên hết.

Nếu vậy cộng đồng của chúng ta đặt quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc ở chỗ nào vậy???

Anh quốc, ngày 11 tháng 9 năm 2009

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)
hon-viet.co.uk

Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính ác và Sự Xấu!

14/08/2009
Phan Nhật Nam

Lời nói đầu.-
Xin quý vị vui lòng bỏ chút thời giờ quý báu để đọc và có thể chia sẻ….bài viết cưong trực, liêm chính, chân thành, đầy tính xây dựng, yêu thương cội nguồn quê hương và dân tộc của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM.
Cũng nên nhắc biết sơ qua (dù thừa) tác giả vốn xuất thân khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Đà Lạt) . Binh chủng nguyên lai: Nhảy Dù.
Sau thời gian phục vụ trong Sư đoàn Dù, ông ta chuyển ra Bộ Binh trong các nhiệm vụ “phóng viên chiến trường”, “nhà văn Quân đội” thuộc Tổng
Cục Chiến Tranh Chính Trị / Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày Miền Nam bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm 30-4-1975.
Sau ngày 30-4-1975, nhà văn và cũng là phóng viên Quân đội PHAN NHẬT NAM sống tù đầy trong cái lò cải tạo của Cộng sản VN với cấp bậc Đại Úy QLVNCH và Ông đã bị giam hãm hơn một thập niên tại miền bắc VN dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.
Và bây giờ thì xin mởi quý vị đọc bài viết của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM dưới đây.
Trân trọng,
Nguyễn Văn Trọng (K13)

Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc mình!

Nói lên sự thực với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng, mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa chữa. “Mặc áo thụng vái nhau,”đó là lối mòn mà người mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được, bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.

* Xin đọc theo link dưới đây để đọc bài viết của Phan Nhật Nam :

http://tech.groups.yahoo.com/group/thaoluan9/message/47000

September 13, 2009 Posted by | Phan Nhật Nam với “khối nặng tính ác và sự xấu”- Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH), suc-vat-phan-nhat-nam-tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh | , | Leave a comment

Hôm qua – Hôm nay: AI khác AI (tiếp theo và hết) – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Hôm qua – Hôm nay: AI khác AI (tiếp theo và hết) – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Cho đến bây giờ mà còn có những ông bà chánh khứa dựa vào luật pháp của VGCS để đấu tranh và còn mong thành công được thì thật là hết ý. Người bình dân chúng tôi đều tin rằng VGCS chỉ có xài một thứ luật là Luật Rừng. Bao nhiêu Công Ước, hiệp ước quốc tế VGCS đã ký phải tôn trọng, thế mà chúng coi như giấy đi cầu thôi chứ có đáng gì đâu thì đủ biết.

Trong một quốc gia đang mở mang, lãnh vực cần đầu tư phát triển nhất phải là giáo dục. Chúng ta hãy thử xem ngành giáo dục của đất nước ta hôm nay (CS) ra sao. Điều 59 HP của VGCS viết: Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Học sinh không trả học phí nhưng phải đóng 12 lệ phí khác nhau cho nhà trường. Đây là một sự thực. Cách đây 4 năm, một người bạn cho đọc một lá thư đứa con trai của anh viết gởi sang từ VN. Thư kể đứa con út của anh vô học mẫu giáo, buối học đầu tiên đứa bé hí hửng đưa về khoe với bố mẹ một tờ giấy nhà trường gởi. Anh mở ra đọc mới té ngửa, thì ra nhà trường bắt đóng 12 khoản tiền gọi là phụ phí. Có những khoản rất phi lý như tiền bồi dưỡng thầy cô giáo. Thầy, cô giáo đi dậy lãnh lương nhà nước. Tại sao nhà trường lại bắt học trò đóng tiền bồi dưỡng cho thầy cô? Anh làm công nhân, lương tháng khoảng gần năm chục dollars đổi ra tiền Mỹ. Tính ra anh phải đóng cho một đứa con đi học mẫu giáo hết 2/3 số lương. Thế mà anh có tới những 3 đứa con đi học. Theo báo chí tiết lộ, tại nhiều vùng quê nghèo khó, người dân có nơi đã phải è cổ đóng tói 34 phụ phí ngoài pháp luật qui định. “Ta là Luật” (ego sum Lex) chính là luật tối cao của luật pháp VN hiện nay. Vậy thì tranh đấu với VGCS dựa trên luật pháp của chúng sẽ đưa tới đâu, thiết tưỏng anh KA và quí bạn đọc có thể tưởng tượng ra được. Thực ra chế độ CS cũng có luật pháp chứ không phải không có, và luật nào cũng đều hay cả. Nhưng vấn đề là có luật mà việc trị lý quốc gia có theo tinh thần Pháp Trị hay không mới là chuyện đáng nói. Có mà điên mới tin rằng chỉ cần bỏ điều 4 HP đi thì mọi sự sẽ tốt đẹp?

2. Về bài viết “Sẽ có mùa xuân Prague Việt Nam ” – Vấn đề này thì tôi khỏi cần phải nhiều lời. Chung qui cũng tại anh KA nhất định không thèm hiểu cái ý tôi muốn viết. Vì thế, tôi chỉ cần trình bầy vắn tắt lần chót hai trọng điểm trong bài viết của tôi cho anh thấy, mong anh đừng xuyên tạc nữa.

2.1 Ý nghĩa của nhóm chữ “Mùa Xuân Prague ” – Anh KA đặt câu hỏi: Mùa Xuân Prague Tiệp Khắc là mùa xuân nào, rồi anh giải thích theo cách thức riêng của anh. chính vì sợ có người hiểu lầm nên trong bài viết “Sẽ có mùa xuân PragueVN” tôi đã phải thận trọng cắt nghĩa rất rõ ràng như sau: “Mùa Xuân Prague là giai đoạn giải phóng chính trị của nhân dân Tiệp trong thời gian nước này sau Thế Chiến II bị Liên Sô thống trị.”

Và: “Ý nghĩa Mùa Xuân Prague trong chủ đề tập chú vào việc Liên Sô xua quân xâm lăng Tiệp Khắc, biến nước này thành một thuộc địa của Liên Sô. Do đó, nhóm chữ Mùa Xuân Prague VN được hiểu là việc quân đội Tầu cộng tràn xuống chiếm đóng nước ta, giống như Liên Sô chiếm Tiệp Khắc, biến Việt Nam thành quận, huyện của Tầu như trong các thời Bắc Thuộc trước kia.”

2.2 Bài viết muốn nói gì – Luận điểm trong bài viết của tôi rất rõ ràng, ai đọc cũng đều hiểu, ngoại trừ một mình anh KA. Ngắn gọn như thế này: Tôi khẳng định, chuyện nước Tầu cộng sản xâm lăng VN là điều không thể tránh được. Chúng có thể xâm lăng bằng hai cách. Một là nhẹ nhàng từ từ theo kiểu mưa dầm thấm đất. Và hai là bằng võ lực với quân đội, xe tăng, đại pháo v.v. Hình thức xâm lăng thứ nhất diễn ra qua các hoạt động văn hóa, kinh tế, du lịch, công nhân khai thác v.v. Cách này đang diễn ra hàng ngày. Kết quả là đất đai bị gặm nhấm từ từ, chủ quyền quốc gia mất dần dần. Dân chúng trong nước hầu như không cảm thấy và thế giới dù có biết cũng không có lý do lên tiếng. Hình thức thứ hai sẽ mang đến chết chóc, đổ nát, thiệt hai không tránh khỏi. Nhưng một cuộc xâm lăng trắng trợn như thế sẽ làm thức tỉnh nhân dân trong nước và cả thế giới. Chính quyền các nước sẽ có lý do chính đáng để giúp đỡ chúng ta. Hình thức xâm lăng này chỉ xẩy đến khi các cuộc nổi dậy ở trong nước lớn mạnh đến nỗi quân đội VGCS không còn đủ khả năng và nghị lực để dẹp tan được. Trước câu hỏi làm cách nào để chống lại một trong hai hình thức xâm lăng đó, quan điểm của tôi là cuộc xâm lăng bằng vũ trang dễ chống trả hơn. Năm 1968 Tiệp Khắc bị Liên Sô xua quân chiếm đóng. Mặc dù được rất nhiều may mắn và lợi thế, nhân dân Tiệp cũng đã phải mất 22 năm trời mới dành lại được độc lập tự chủ. Tôi tự hỏi nếu cuộc xâm lược bằng võ trang của CS Tầu diễn ra bây giờ thì cuộc chiến đấu của nhân dân VN không biết sẽ kéo dài bao lâu, vì chúng ta không có được nhiều may mắn và lợi thế như người dân Tiệp Khắc.

Ý tưởng thật đơn giản, thế nhưng anh KA đã bẻ cong bẻ queo, cắt nghĩa rông rài chẳng đâu vào đâu để rồi đi đến kết luận: “Anh Hà Tiến Nhất chuẩn bị tinh thần dân chúng để đón rước Tàu Cộng vào Việt Nam . Một tinh thần chủ bại quá mạnh mẽ.

Và: “Các nước lân bang của Việt Nam phải có phản ứng gì, hay là cũng bắt chước Duyên Lãng Hà Tiến Nhất tiên sinh mà trãi thảm đỏ mời Trung Cộng vào?”

Tinh thần yêu nước của anh KA cao đến độ khiến anh viết: “tôi thà hân hạnh làm con chó Việt Nam chứ không làm chó nước khác.” Ý anh KA là muốn trả đũa tôi, nói tôi (Hà Tiến Nhất) là chó, nhưng là chó ngoại, vì trước tôi dùng chữ “sủa” để nói anh. Thế là huề nghe, anh KA. Hà mỗ này thực tình kính phục anh KA sát đất và xin khuyên anh một câu chí tình thế này là, nếu anh nhất định làm chó VN thiệt, thì xin nhớ đừng có lai vãng đến những nơi như ngã ba Ông Tạ chẳng hạn, mất mạng như chơi đấy.

3. Chuyện ông Tô Hải phá bia mộ bố

Tôi thấy lạ là tại sao anh KA lại kéo chuyện ông Tô Hải (TH) vào để mỉa mai tôi là thay đổi này nọ, rồi còn cho là tôi cay cú dùm cho VC. Có lẽ anh KA cho rằng ông Tô Hải cũng chống cộng giống như anh? Chưa chắc đâu. Theo tôi, nếu KA có thay đổi thì TH mới chống cộng giống như KA. Ngược lại, nếu KA vẫn kiên trì lập trường thì hai người không thể có cùng một đường lối chống cộng như nhau được. Tôi sẽ chứng minh cho anh KA thấy TH chống cộng khác anh ở chỗ nào.

3.1 Nỗi oan Thị Kính

Với tôi, vụ gọi là ông Tô Hải phá bia mộ bố là một nỗi đau khó tả: gia đình ông Tô Hải chửi mắng tôi và người quen biết quay mặt với tôi. Mặc dầu tôi đã muốn bỏ qua cho xong chuyện, nhưng anh KA khơi lại vói chủ ý trách mắng nên tôi buộc lòng phải nhắc lại, và nhắc lại thật tường tận cho anh thấy.

Sau khi ông Tô Hái ra mắt cuốn “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”, tôi có viết bài “Bức Chân Dung Tự Họa” nói đến ông Tô Hải và vụ ra mắt sách của ông. Bài mới được post lên Net thì sáng hôm sau một anh bạn gọi phone nói với tôi: A ha, ông nói bên Đông mà chết thằng cha bên Tây đấy nghen. Tôi biết ngay bài của mình người đọc đã hiểu ra. Quả thực trong bài Bức Chân Dung Tự Họa, tôi đặt nặng yếu tố dàn dựng việc ra mắt cuốn sách hơn là việc ông Tô Hải viết sách. Trong bài viết, tôi nhắc lại chuyện ông Tô Hải đập bia mộ bố mà tôi đã đọc được trên Net của một tác giả nào đó tôi không nhớ. Tôi không phải là người dựng lên câu chuyện ông Tô Hải đập bia mộ. Tôi viết rõ ràng: Ấy thế mà đọc trên báo chí thấy người ta kể ông Tô Hải đã đập nát cả ngôi mộ của ông cụ thân sinh của ông.

Và trích dẫn của tôi lấy từ bài viết trên internet như sau:

– “Bố của nhạc sĩ Tô Hải là ông Tô Đình H. cùng gia đình di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954. Tô Hải là con cả đã đi làm lính “cụ Hồ” nên ở lại ngoài Bắc. Sau 30 tháng 4 năm 1975, đảng viên Tô Hải được “điều” vào Nam, tìm lại được gia đình họ hàng, nhưng lúc đó thân phụ đã chết. Người nhà đã dẫn Tô Hải ra mộ viếng cha. Đọc trên mộ bia thấy hàng chữ nôi dung “Hiền tế Trung Tướng LQT lập mộ” (Xin thông cảm, người viết không thể để rõ ràng tên họ của vị tướng), Tô Hải la hét to tiếng và ra lệnh đàn em đập nát bia mộ có tên người em rể là một “tướng ngụy” trên đó. Theo anh bạn cho biết, sau đó hội đồng gia tộc trong họ của anh ta đã họp lại và nhất quyết khai trừ khỏi họ hàng “thằng con mất dạy” dám đập mả bố nó.”

Về chuyện này ông Tô Hải lại nói khác (trích dẫn lời ông TH):

– “Tôi vào Sài Gòn sau năm 1975, cả gia đình tôi đã đi Mỹ, y như tôi về Hà Nội năm 54, cả gia đình lúc bấy giờ đã di cư vào Nam. Tôi không đến nỗi như cô Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn thấy mình bị lừa nên ngồi xuống lề đường bật khóc; mà tôi đã biết trước đây không phải là một cuộc chiến tranh chống xâm lược như thời chống Pháp, và xã hội miền Nam không như đảng tuyên truyền là bị o ép, nghèo khổ, cho nên khi vào Sài Gòn, biết gia đình đã đi Mỹ, tôi mừng quá. Vừa nhớ thương bố mẹ, anh em, nhưng tôi mừng vô cùng thấy cả nhà đã đi thoát. Nếu ở lại thì đi tù “mút mùa” (sic). Không phải riêng tôi, nhiều anh em khác ở ngoài Bắc vào cũng mang tâm trạng như thế.”

Sau cùng tôi nhận định: Không biết ông Tô Hải có đập mả bố thiệt hay không. Kẻ nói có người nói không, biết tin ai bây giờ.

Chuyện rõ ràng như thế mà bà Tô Ánh Tuyết, em ông Tô Hải viết trên tờ nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân của ông Trần Phong Vũ xỉ vả tôi là kẻ bốc lửa bỏ vào tay người anh của bà. Có lẽ anh KA đã không đọc hay đọc mà không hiểu bài viết của tôi. Chuyện cũ và rõ ràng xuyên tạc mà anh KA vẫn còn lôi ra làm cớ để qui kết tôi thế này thế nọ. Kể cũng hơi lạ. Bà Tô Ánh Tuyết xỉ vả tôi trên tờ DĐGD, chuyện xẩy ra sau khi sách của ông Tô Hải ra mắt tại Nam Cali. Thấy tờ DĐGD đăng lá thư của bà Tô Ánh Tuyết, tôi có gởi E-mail cho tòa soạn yêu cầu cho đăng dùm luôn bài “Bức Chân Dung Tự Họa” của tôi viết về ông TH để rộng đường dư luận. Nhưng tờ báo lờ đi luôn cho đến nay là 2 tháng rồi. Sở dĩ tôi yêu cầu DĐGD đăng bài viết Bức Chân Dung Tự Họa của tôi là vì 2 lý do. Thứ nhất là để độc giả của tờ báo có điều kiện để biết rõ sự thật. Lá thư của bà Tô Ánh Tuyết mới chỉ là một nửa sự thật. Một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Bài viết của tôi nữa nếu được đăng lên mới là sự thật vẹn toàn. “Sự Thật sẽ giải thoát anh em” là tôn chỉ của tờ DĐGD được trịnh trọng nêu lên từng kỳ trên mặt báo. Nếu độc giả của DĐGD chỉ được cho biết có một nửa sự thật thì làm sao họ có thể giải thoát được. Như vậy, tờ DĐGD đã không theo đúng tôn chỉ mình đặt ra để hành động, hay chỉ trương lời Chúa lên để câu độc giả nhẹ dạ? Thứ hai là cung cách đối xử thiếu công bằng của DĐGD và của riêng ông Trần Phong Vũ đối với tôi. Có lắm lúc tôi tự hỏi, không biết tại sao DĐGD và ông Trần Phong Vũ lại có thái độ nhất bên trọng nhất bên khinh như thế. Hay là giữa tờ DĐGD, ông Trần Phong Vũ với bà Tô Ánh Tuyết, ông Tô Hải có sự liên hệ gắn bó nào đó mà tôi không biết chăng. Nhưng đó không phải là điều tôi bàn tới. Điều tôi muốn nói là nếu tính sổ sách theo đạo nghĩa giang hồ thì DĐGD và cá nhân ông Trần Phong Vũ còn thiếu tôi mấy món nợ chưa trả kia đấy. Món nợ thứ nhất tôi muốn nói đến là DĐGD trước đây đã tự động đăng free một số bài tôi viết mà không có ý kiến của tôi. Nếu là một tờ báo chùa thì tôi không nói làm gì, nhưng DĐGD là một tờ báo bán lấy tiền. Quí vị làm báo hẳn rành luật lệ báo chí Mỹ hơn chúng tôi. Nhưng thôi đây là chuyện nhỏ tôi bỏ qua. Điều làm tôi thắc mắc là tại sao bài của tôi lấy đăng free được mà bài tôi nhờ đăng để sự thật được sáng tỏ thì lại bị lờ đi. Nếu cần tính tiền đăng thì email lại cho tôi là xong ngay thôi. Có khó gì đâu. Chuyện không đăng không thiệt hại gì cho tôi mà cho chính tờ báo. Trước hết, tờ báo bị mang tiếng là làm truyền thông một chiều, vì nó chỉ cho độc giả biết có một nửa của sự thực, còn một nửa kia bị cố tình bưng bít. Và sau nữa, còn bị mang tiếng là thiếu sự giao tế sòng phẳng đối với một freelancer mà tờ báo đã nhiều lần lấy bài đăng chùa, và cũng là người luôn quí mến tờ báo. Nếu là một tờ báo bựa thì chả nói làm gì, nhưng DĐGD là một cơ quan ngôn luận công giáo có tôn chỉ rất cao cả: “Sự thật giải thoát anh em”.

3.2 Từ Tô Hải đến dân chủ cuội – Điều trước tiên tôi muốn minh xác là từ trước đến nay tôi chưa bao giờ viết phê bình bất cứ một tác giả hay tác phẩm nào ở trong nước phổ biến ra hải ngoại trên quan điểm chính trị của tác giả hay tác phẩm đó. Về ông Tô Hải và cuốn Hồi Ký của ông cũng vậy. Hẳn bạn đọc và anh KA biết, Bức Chân Dung Tự Họa là một bài phiếm luận chứ không phải là bình luận. Anh KA là người viết văn viết báo hiểu sự khác biệt giữa hai thể văn đó. Phiếm luận đượm tính châm biếm, trào phúng. Còn bình luận viết nghiêm túc khi đề cập đến một sự việc hay một nhân vật. Tôi viết bài Bức Chân Dung Tự Họa trong tinh thần phiếm luận chứ không phải bình luận. Vả lại, theo tôi nghĩ, độc giả ở hải ngoại đều là những người có kiến thức và trình độ cả. Họ có khả năng chọn lựa cái tốt và vứt bỏ đi cái không tốt của một cuốn sách sau khi đọc xong. Nghị luận của tôi nếu có cũng chẳng đi đến đâu. Phê bình một tác giả hay tác phẩm về mặt văn học thì nên lắm. Nhưng phê bình quan điểm chính trị của một tác phẩm hay tác giả thì khó có thể hoàn toàn trung lập được. Do đó, DĐGD và ông Trần Phong Vũ quảng cáo và thổi phồng một tác phẩm cho một mục đích chính trị thì rõ ràng là trò mị rẻ tiền. Để chống cộng hay để bán sách đây?

Không phải bây giờ mới có chuyện sách ở trong nước đem ra in và phát hành tại hải ngoại. Gần hai thập niên trước cuốn Việt Nam Khủng Hoảng và Lối Ra của ông Nguyễn Kiến Giang đã được in và phát hành ở hải ngoại rồi. Dù ông là một “tên CS nòi”, nhưng đọc ông, tôi vẫn coi ông là một người có tâm huyết. Hiện nay, có khá nhiều tác giả trong nước in và phát hành sách ở ngoài này như Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Quang, Tô Hải v.v. Tại sao sách của các tác giả khác không được thổi lên ồn ào ngoại trừ Hồi Ký của ông Tô Hải? Lý do thầm kín là vì những sách này không nằm trong sách lược bịp của bọn Việt Tân tay sai CS và đám dân chủ cuội trong nước. Cả bọn bịp lẫn lũ cuội đều là công cụ VGCS dùng để hướng dẫn đường lối đấu tranh của người VN tỵ nạn đi theo con đường đầu hàng và phục tùng CS. Chữ nghĩa thời thượng nói là hòa hợp hòa giải với CS. Sách lược của VGCS là cứ để cho người tỵ nạn theo bọn bịp và lũ cuội hướng dẫn, tố cộng thật hăng, chửi Hồ cho sưóng cái miệng, nhưng điều quan trọng là tuyệt đối không được nói Hồ và đồng đảng của hắn là việt gian tay sai bán nước. Mục đích là để mô tả Hồ như là một con người thường phàm nhưng có công đánh Pháp, đuổi Mỹ, đem lại độc lập cho Dân Tộc, thống nhất đất nước. Sách lược thâm độc này được dễ dàng khám phá qua bài viết “Đọc Hồi Ký của nhạc sĩ Tô Hải” của Nguyễn Thanh Giang. Trong bài viết này, Nguyễn Thanh Giang nhân định về HCM như sau: “Đối với cụ Hồ, nhiều tư liệu có thể tin là xác thực đã chỉ rõ rằng Cụ từng cưới một bà y tá người Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh làm vợ (đám cưới này có cả vợ ông Chu Ân Lai dự), Cụ cũng từng có một con trai với bà Nông thị Xuân (người con trai này tên là Nguyễn Tất Trung, hiện đang ở Hà Nội). Về chuyện này, nhạc sỹ Tô Hải đã có cái nhìn thể tất: “ Ông ta cũng là con người, cũng có quyền lấy vợ đẻ con, thậm chí ba bốn vợ như ông Lê Duẩn, cũng có quyền bồ bịch như ông Mitterand, ông Clinton chứ ! Cái tội của ông là do bọn gọi là cộng sản An Nam phong kiến cố tình dựng ông ta lên thành “thánh sống” (và “ thánh chết ”) để lừa bịp cái dân tộc đa số là nông dân thất học, đầu óc còn mê muội về thánh về thần. Ông ta chỉ là một nhà cách mạng chính hiệu cuồng tín với chủ nghĩa Mác-Lê mà thôi” (trang 388). Người viết bài này (Nguyễn Thanh Giang) thì cho rằng, cả những người tô vẽ cụ Hồ thành ông thánh, là vị cứu tinh; cả những ai thóa mạ Cụ là tên dâm tặc, là tội đồ dân tộc đều không đúng. Thực tế, Cụ cũng chỉ là một con người, một con người tài trí, tài trí đến mức có thể làm được những việc rất phi thường theo ý Cụ. (Đánh giá những việc làm ấy là công to hay tội lớn? Lịch sử sẽ còn bàn thảo công phu và sẽ được phán xét công minh). Đã là người thì có hỷ, nộ, ái, ố, dục, có xấu tốt, có đúng sai. Người ta thường cho rằng cái sai lớn nhất của Cụ Hồ là đã đưa chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam .”

Bài của Nguyễn Thanh Giang là phần diễn giải cuốn sách của TH. Đoạn nhận định về HCM như trên cùng với cuốn DVD của Lm Nguyễn Hữu Lễ, cả hai làm cho người ta liên tưởng đang có một chiến dịch trong ngoài rất nhịp nhàng nhằm remodel ngôi thần tượng HCM. Luận điệu cùng như nhau, cho rằng Hồ dù sao cũng chỉ là một con người thường phàm nhưng có công trạng đối với đất nước. Có thể (có thể thôi) ông Tô Hải không nhìn thấy được điều đó nên vô tình trở thành nạn nhân của một âm mưu thâm độc? Bà Trần Khải Thanh Thủy chửi CS cay cú lắm chứ, lại là một người trẻ nữa. Nguyễn Quang viết Biển Đỏ VN vạch tội CS nhẹ nhàng thôi nhưng sâu sắc và thấm thía lắm. Vậy mà bọn VT, DĐGD và ông Trần Phong Vũ chẳng thấy được một lời nhắc đến. Mắng nhiếc bọn côn đồ Hànội thì phải nói Tô Hải còn thua Dương Thu Hương. Dương Thu Hương tuy vẫn kính trọng Hồ, nhưng bà chửi CS độc địa thì không ai bằng. Bà đòi ỉa lên đầu những thằng trong bộ chính trị kia mà. Tố cáo tội ác CS từ thằng đầu sỏ tức Hồ Chí Minh trở xuống cho đến bọn lâu la đàn em từng đứa một, nói có sách mách có chứng đàng hoàng thì Tô Hải làm sao ăn lại nhà báo Việt Thường. Và nếu còn có một tên CS nào đó đáng được ca tụng và đề cao cả về đời tư lẫn tư cách thì người đó nhất định phải là Nguyễn Hữu Đang, người đứng đầu phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc. Nguyễn Hữu Đang thực sự phản tỉnh ngay từ khi còn trẻ, thời đang lên với chức vụ thứ trưởng Thông Tin Tuyên Truyền CS, chứ đâu phải đợi đến lúc hết thời sắp xuống lỗ rồi mới dám lên tiếng tự xưng mình là thằng hèn. Thế mà bọn chống cộng bịp, bọn dân chủ cuội chớ hề bao giờ nói một lời về Nguyễn Hữu Đang. Cuội là ở chỗ đó, và Bịp bợm cũng là ở chỗ đó. TH dùng chữ “hèn” để tự mô tả mình đã là một sự thiếu thành thực và không chính xác rồi. Hèn là thái độ của một con người trước tội ác mà không dám tố giác, thấy kẻ bị côn đồ hiếp đáp mà không dám bênh vực, bị vợ chửi mà cứ cúi mặt làm thinh. Thế mới gọi là hèn. TH tự nguyện tham gia vào tổ chức tội ác, đem tài năng cổ võ cho gian ác thì đâu phải là hèn, là tội phạm hay ít nữa là tòng phạm mới phải. TH còn viết: “Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức (trang 53)”. Ông TH đâu phải là con nít. Ai tin được ông TH, một người có ăn học, đi làm những chuyện giết chóc, đầy đọa cả Dân Tộc mà gọi là vô ý thức? Trong khi cả gia đình TH di cư vào Nam năm 1954, một mình ông tự nguyện ở lại theo “bác” và đảng thì làm sao bảo là vô ý thức. Lý lịch gia đình ngụy rặt như thế mà TH vẫn leo lên tới cấp ủy đảng, còn nói là bị lừa thì thậm vô lý. Với lời tự biện trên, người ta nghĩ rằng TH đang chạy tội cho ông rồi đấy. Ông đã sớm biết mình sai mà vẫn ngậm tăm dấn thân vào tội ác một thời gian dài thì đâu phải là hèn. Tô Hải viết sách chửi đảng như thế nhưng ông vẫn nằm nhà ăn no, ngủ kỹ, chẳng bị ai quấy rầy, lại còn được ông Trần Phong Vũ bao biện là VGCS không dám giết ông vì sợ bứt giây động rừng. Đúng là con người đã mù lòa thì cái đèn đối với anh ta cũng trở thành vô dụng. Trong khi Nguyễn Quang chỉ nói mát đảng tí thôi cũng đã bị làm khó dễ đủ điều nên đã phải viết ra hải ngoại kêu cứu:

Sài Gòn, ngày 01-9-09.

Kính gởi: Công ty Grace Prepaid Legal Group, Inc.

…. tôi đã bị Công an làm việc nhiều lần cùng gia đình sống trong bất an lúc nào cũng bị Công an theo dõi. Cuộc sống của chúng tôi thật sự bị đe doạ …..

Như thế đã rõ, Ai cuội? Ai không cuội? Anh KA bênh cho TH, anh nên tự xét mình xem anh đã ra khác hay còn giống như ngày hôm qua?

Nhưng dù sao cũng phải thành thực khen ông TH ở chỗ ít ra vào lúc cuối đời ông đã dám nói lên rằng mình sai lầm mặc dầu những điều ông viết ra thì hầu như mọi người đã biết hết cả. Ông đáng khen hơn hàng triệu tên đảng viên khác biết mình sai lầm nhưng vẫn ngậm miệng không dám nói.

3.3 Từ Tô Hải đến chống cộng bịp – Trước đây anh KA xem chừng cũng là người chống Việt Tân có hạng. Bây giờ thay đổi rồi sao? Đọc bài Bức Chân Dung Tự Họa, bạn tôi hiểu ra ngay tôi muốn nói gì, trong khi anh lại cho rằng tôi đánh phá ông TH. Thật tội cho tôi quá. Tôi xác nhận tôi chỉ muốn khỉa bọn Việt Tân một tí chơi cho vui thôi. Trong bài viết, tôi dùng nhóm chữ “chỗ con tu hú đẻ trứng”, anh KA ỡm ờ không hiểu hay không hiểu thiệt? Tờ báo Người Việt ở Nam Cali tự xưng là báo của người Việt tỵ nạn. Bỗng dưng con tu hú VC đẻ vào cái tổ quốc gia đó quả trứng. Trứng nở ngay ra một tên Vẹm Đỗ Ngọc Yến. Thế có buồn cười không kia chứ. Nói ẩn dụ như thế cho vui chắc anh KA đã hiểu ra. Lại nữa, trong buổi ra mắt sách của ông TH, thấy lúc nhúc một đám toàn là VT cả. Tôi gọi chúng là họ hàng nhà dơi hay nhà chuột cũng vẫn chỉ là nói ẩn dụ. Hai giống vật này chỉ xuất hiện vào đêm tối, chui rúc và lén lút. Xưa nay, nếu bọn VT chúng nó dám đường đường tự nhận là đảng viên VT mà hành động thì tôi đã chẳng dám gọi chúng là dơi, là chuột, mà phải gọi là người. Chuyện là như thế.

Qua bài Bức Chân Dung Tự Họa, tôi có ý cảnh giác dư luận về bọn VT, bởi vì thực tế cho thấy bọn này tới đâu thì phân hóa và gẫy đổ tới đó. Điều làm tôi hơi ngạc nhiên và tự hỏi là tại sao tờ nguyệt san DĐGD, cụ thể là quí ông Trần Phong Vũ, chủ bút nguyệt san lại dính vào chuyện này sâu thế. Ông Trần Phong Vũ đã bỏ công in ấn, quảng cáo, ra mắt, và hết mình đề cao cuốn sách của ông Tô Hải. Cuối cùng tôi cũng đã tìm ra được câu trả lời. Tại sao thế thì câu chuyện tôi kể sau đây có thể sẽ là câu trả lời cho vấn đề. Chuyện này thực tình chúng tôi đã định không nói tới, vì sợ bị cho là đánh phá người chống cộng, anh em (công giáo) phá nhau. Vả lại cũng có thể có người cho là chuyện cá nhân mặc dầu nó liên quan đến cả sự nghiệp đấu tranh chống cộng sản của người Việt tỵ nạn. Chúng tôi muốn học theo lời dậy của tiền nhân: một câu nhịn là chín câu lành. Nhưng việc chẳng đặng đừng. Anh KA dựa vào một sự việc không biết rõ đầu đuôi, nguyên do để qui chụp chúng tôi là xoay chiều và cay cú thay cho VC. Vì thế, tôi buộc lòng phải nói ra và chỉ thuật đúng sự việc, biết sao nói vậy.

Vào khoảng trên dưới một năm trước đây, anh bạn tôi, nhà thơ Chinh Nguyên được Lm Phan Văn Lợi ủy thác in và phát hành cho cha hai cuốn sách có cùng một tên nhưng khác tác giả. Cả hai cuốn sách cùng có tên là “Cuộc Đời Đấu Tranh cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.” Một cuốn tác giả là linh mục Nguyễn Văn Lý, cuốn kia tác giả là Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền. Anh Chinh Nguyên theo tôi biết, thật sự cũng không có khả năng. Anh chạy đi gõ cửa một số nhân vật chống cộng ở đây nhờ giúp đỡ, nhưng đều bị từ chối với một câu hỏi ngược lại: Tại sao cha Lợi không giao cho tôi mà giao cho anh (anh tức Chinh Nguyên, và tôi tức là người được anh Chinh Nguyên nhờ giúp)? Cuối cùng có một người đứng ra lo giúp là anh Lê Văn Hải, chủ báo Thằng Mõ tại San Jose . Sách in xong, anh Chinh Nguyên lại phải đi tìm người đỡ đầu để ra mắt, nhưng vẫn lại bị từ chối bằng câu hỏi ngược như trên. Một lần nữa việc lại phải nhờ đến tay anh Lê Văn Hải. Anh Hải bỏ tiền ra in sách và tổ chức ra mắt sách tại nhà hàng Phú Lâm, không thu lại một đồng xu. Theo tôi biết, anh Lê Văn Hải không quen biết và cũng không có liên hệ gì với Lm Phan Văn Lợi. Sau đó khi định ra mắt sách tại Nam Cali, anh Chinh Nguyên hỏi ý kiến tôi. Tôi nói anh nên tiếp xúc với ông Trần Phong Vũ, vì: “ông Trần Phong Vũ là thổ công dưới Nam Cali (tôi nói đùa với anh Chinh Nguyên).” Anh Chinh Nguyên phone xuống Nam Cali trình bầy vấn đề với ông Trần Phong Vũ, nhưng vẫn lại câu hỏi ngược trên đây được lặp lại một lần nữa từ cửa miệng của ông Trần Phong Vũ qua phone: Tại sao cha Lợi không giao cho tôi mà lại giao cho anh? Anh Chinh Nguyên trả lòi ông Trần Phong Vũ: Muốn biết anh hỏi cha Lợi chứ sao lại hỏi tôi.

Xét đến lợi ích về mặt tư tưởng cống hiến cho công cuộc đấu tranh chống cộng sản của người Việt tỵ nạn và có giá trị dùng cho việc nghiên cứu thì các tài liệu trong hai cuốn sách của Lm Phan Văn Lợi phải nói là vượt trội. Cuốn Hồi Ký của ông TH có được cái tác dụng tuyên truyền trong nhất thời. Điều đáng ngạc nhiên là cung cách hành xử của ông Trần Phong Vũ đối với các cuốn sách này khác nhau rõ rệt. Đối với cuốn Hồi Ký của ông TH, ông Trần Phong Vũ đổ công ra lo từ A đến Z. Ông vừa bỏ công in, quảng cáo, ra mắt, nhất là giang thân ra phản biện gay gắt những bài viết phê bình ông TH, trong đó tôi chỉ viết phiếm chơi cũng vị phang tối tăm mặt mũi. Nhưng đối với hai cuốn sách của cha Lợi thì ông lại tỏ ra hoàn toàn lơ là làm như không hề có. Cũng nên biết rằng phần đông giới công giáo tỵ nạn xem ông Trần Phong Vũ như là cánh tay nối dài của Lm Phan Văn Lợi ở hải ngoại này. Điều trớ trêu là người không mắc mớ gì với cha Lợi thì họ dám cáng đáng công việc của ngài, còn người có tiếng là luôn gắn bó với ngài thì lại ngoảnh mặt làm ngơ công việc của ngài, mà việc thì lại là việc chung. Lý tưởng chống cộng là như vậy sao! Nếu là bọn chống cộng bát nháo thì có thể kết luận ngay, hoặc là vì danh lợi, hoặc là do tinh thần cục bộ: đèn nhà ai nấy sáng. Nhưng chuyện lại xẩy ra với tờ DĐGD và ông Trần Phong Vũ là những kiện tướng công giáo chống cộng ở hải ngoại thì phải giải thích ra sao. Đặt giả thiết là, nếu ông Trần Phong Vũ là người phát hành hai cuốn sách của cha Lợi thì trăm phần trăm là ông phải tổ chức ra mắt xôm trò, quảng cáo rầm rộ, thổi không tiếc hơi, ca không tiếc lời. Nhưng đây chỉ là giả thiết. Sự thật xẩy ra lại trái nghịch như đã tường thật. Nhận định và đánh giá sự việc thế nào là quyền của mỗi bạn đọc. Nếu đặt vấn đề vào trong bối cảnh sự liên hệ mật thiết giữa ông Trần Phong Vũ với nhóm cuội Bùi Tín, Nguyễn chí Thiện, Nguyễn khắc Thành, Vũ thư Hiên, tờ báo Người Việt v.v., và xa hơn nữa là Hoàng minh Chính, Nguyễn thanh Giang v.v., người ta có thể nhận định vấn đề rõ ràng hơn. Sự thể này (sự liên hệ) tương tự như trước tháng 4-1975, nhóm công giáo Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh v.v. liên kết với thành phần thứ ba qui tụ chung quanh Dương Văn Minh, không khác gì. Những người hôm nay không còn nhớ những người hôm qua bị đào thải và bị ném ra lề đường như thế nào khi CS chiến thắng. Lịch sử đang tái diễn tại hải ngoại. Buồn thiệt!

Đến đây, hẳn anh KA đã nhìn thấu suốt được vấn đề mà anh gọi là “ông Tô Hải phá bia mộ bố.” Đã nói rồi, anh bắt buộc tôi nói thì tôi phải nói thôi. Nghe đâu như trước đây hồi ông Hoàng Minh Chính sang Mỹ chữa bệnh, anh KA có tiếp xúc và phỏng vấn ông Chính. Như vậy thì anh càng có kinh nghiệm để phân biệt được ai thật, ai giả, ai khác, ai không khác, ai cuội, ai không cuội, và ai bịp, ai không bịp. Hà mỗ này từ ngày sang Mỹ chỉ thấy được một điều là đồng bào tỵ nạn mình đã ứng dụng rất tốt lời dậy bảo của ông bà: Đáo giang tùy khúc, và nhập gia tùy tục. Đến Mỹ, dân ta không cái gì là không biến thành business được. Kể từ khi ông Hoàng Cơ Minh dựng cờ kháng chiến kiếm ăn ngon quá thì dần dần có nhiều người bắt chước theo. Chống cộng trở thành một cái nghề kiếm cơm. Bọn chống cộng bát nháo làm ăn lượm bạc cắc. Người có danh giá dựng bảng hiệu lên là hốt bạc bó liền và nghiễm nhiên trở thành lãnh tụ ngay. Sự nghiệp chống cộng để giải phóng quê hương của người tỵ nạn càng ngày càng trở nên tiêu điều ảm đạm. Người lý tưởng còn lại như lá mùa thu. Kẻ thời cơ nhiều như cát dưới biển. Mỗi nghề đều có license riêng, chẳng hạn nghề tổ chức ca hát thì gọi là Lái Đờn, nghề bán chữ nghĩa là Lái Sách, nghề làm từ thiện là Lái Phật v.v. Đây có thể là những điều anh KA không muốn nghe vì nản quá, và tôi cũng chẳng muốn nói vì rầu thúi ruột. Tôi nói hết rồi mà anh còn thấy tôi khác hôm qua nữa thì đúng là anh vẫn còn đang ngồi uống càfé trong lúc tôi đang bay trên trời để xuôi Nam .

Thà khác chứ không muốn giống, đây là lời kết của bài biết này. Rất ngắn gọn. Anh KA cho rằng hôm nay Hà Tiến Nhất tôi đã khác với hôm qua. Vậy tức là hôm qua Hà mỗ này giống anh KA và những bọn mà anh đã giang thân ra bênh vực như Việt Tân, Phục Hưng, chống cộng dổm, dân chủ cuội chứ gì. Mô Phật! Thế thì xin cho tôi được khác, chứ giống như vậy thì tôi không muốn giống đâu. Hà mỗ xin cúi đầu chấp nhận để chịu anh KA quở là đã đổi khác.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_HomQuaHomNayAiKhacAi_2.htm

September 13, 2009 Posted by | Hôm qua - Hôm nay: AI khác AI (tiếp theo và hết) - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất | | Leave a comment

Bọn múa gậy vườn hoang – Phạm thắng Vũ

Bọn múa gậy vườn hoang – Phạm thắng Vũ


Lời Mở Đầu của Tác Giả:

Những đảng viên văn hoá CS thường rêu rao là ngành truyền thông trong nước Việt có tới hơn 700 tờ báo (vừa báo giấy lẫn báo điện tử cùng truyền thanh-truyền hình) phục vụ cho đồng bào cả nước. Số lượng báo, đài nhiều như vậy nhưng tất cả đều là báo của nhà nước CS (cách viết giống y chang nhau mà độc giả nói là tất cả các tờ báo đều chỉ có duy nhất một chủ bút (trong nước gọi là Tổng Biên tập) là đảng, nhà nước Cộng Sản VN) và không hề có một tờ báo tư nhân nào cả. Tất nhiên, vì báo chí nằm trong tay họ thì các ký giả, phóng viên đương nhiên phải là người của chế độ. Có người gọi đám nầy là bọn thợ viết hay văn nô tác nghiệp (theo chỉ đạo của cấp trên) để lãnh lương. Khi chế độ CS muốn người dân biết về một chủ trương, một sự kiện gì đó (theo ý nhà nước) thì đám đảng viên đầu lãnh văn hóa sẽ ra lệnh cho các thợ viết, văn nô nầy sáng tác liền (kể cả nói láo, dựng chuyện) vì biết trong nước không có báo chí độc lập nào khác để vạch trần các sự giả dối của họ.

1 /. Gia Đình Đạo Thiên Chúa Lại Là Đảng Viên CS Gương Mẫu.

Ta biết là trong các xã hội Cộng Sản, một người theo đạo Thiên Chúa đã là một sự nghi kỵ, phân biệt của chế độ khi người nầy ở trong bất kỳ một cơ quan-đoàn thể nào của nhà nước. Nếu vì nhu cầu quốc phòng như trong thời chiến mà người có đạo Thiên Chúa đó vào bộ đội (tòng quân, thi hành quân dịch) thì chỉ làm một anh lính trơn. Nếu người đó muốn học trường võ bị để thành một sĩ quan quân đội? Đừng hòng. Các trường võ bị đâu có tiêu chuẩn dành cho con em người theo đạo Thiên Chúa. Bên các ngành an ninh hay công an thì còn khó gấp bội. Người theo tôn giáo như Thiên Chúa đừng mong được lũ CS ở đấy ngó tới. Đó là sự thật mà ai cũng biết và ở nước Việt thì cũng tình cảnh y như vậy.

Vậy mà có một gia đình vừa là tín đồ đạo Thiên Chúa lại vừa là … một gia đình đảng viên CS (2 vợ chồng và 5 người con đều là đảng viên CS gương mẫu). Đó là gia đình ông Trần Quốc Vượng (trùng tên với nhà sử học Trần Quốc Vượng đã quá cố) tại thôn Đồng Trì, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì (không cho biết tên tỉnh). Vợ của ông nầy vào đảng Cộng Sản VN từ năm 20 tuổi và bà mới vừa nhận huy hiệu 40 tuổi đảng lúc gần đây.

Bithuchibo

Hình ông Bí thư chi bộ Đảng CS thôn Đồng Trì kiêm tín đồ đạo Thiên Chúa.

Xin các bạn đọc vui lòng click vào đường link để xem bản tin.

http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=34033&ChannelID=92

Ông tín hữu Thiên chúa giáo Trần Quốc Vượng nầy không phải là một đảng viên CS bình thường đâu nghe bà con. Ông còn là … Bí thư chi bộ đó. Bí thư chi bộ là chức của một đảng viên CS được các đảng viên cấp trên chỉ định để thay mặt đảng mà coi sóc, chỉ đạo, chỉ huy một số đảng viên trong khu vực hay trong một đơn vị … Thế mới ghê khiếp. Ông Vượng còn được … chụp hình chung với các tay đầu lãnh CS Hà Nội như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng nữa. Lão tín đồ Thiên Chúa Giáo nầy mà được làm bí thư chi bộ thì chắc đám đảng viên CS ở địa phương đó đã bị …cụt hết tay hay sao nên mới đành để yên cho lão chức vụ đó?

Có chuyện lạ là trong nhà ông Trần Quốc Vượng nầy không thấy báo đảng nói có dựng bàn thờ Chúa Giê Su hay Đức mẹ Maria (điều thường thấy trong gia đình các tín đồ đạo Thiên Chúa) không mà lại chỉ có treo hình lão già xứ Nghệ (cả hình lão đang đọc sách) ở các nơi trang trọng.

Có một chút lấn cấn trong chuyện của lão Trần Quốc Vượng nầy là thực sự lão (và gia đình) có là một tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành hay chỉ là một đảng viên nhận lệnh đảng Cộng Sản mà gia nhập đạo để hoạt động giống như trường hợp của các linh mục (có đảng tịch) Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh … tại miền Nam VN. Các linh mục kiêm đảng viên đảng Cộng sản VN này (ngoài vụ coi xứ đạo) còn kiêm nhiệm thêm chức vụ Đại Biểu Quốc Hội (bù nhìn) của nhà nước Cộng Sản VN nữa chứ.

Không có báo chí tư nhân (độc lập, không ăn lương nhà nước) cạnh tranh thì đâu có sợ ai viết bài phản bác nên các tờ báo đảng trong nước mới dám viết những bài thuộc loại … lá cải như vầy.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Dec 15, 2008.
(còn tiếp)


2/. Quản Giáo (Công An Cộng Sản) Rất Quý Mến Anh-Chị.

Những ai đã từng (bị) … vướng vòng lao lý của bọn CS Việt Nam đều thấy rõ một điều là địa ngục nếu có thật thì chính là các trại tù CS và bọn hung dữ, độc ác nhất chính là bọn cai tù CS. Những người vì phạm tội hình trong xã hội nên phải bị thụ án, phải chịu tội họ đã làm trong nhà giam nên quản giáo phải hành hạ họ. Lý luận như vậy nhưng dẫu sao họ cũng là người. Trừng phạt chỉ có lúc chứ không thể kéo dài. Đó là những phạm nhân thật sự còn có những người chẳng hề phạm tội gì mà vẫn phải đi tù mà tù trong những điều kiện cơ cực nhất. Ăn đói, lao động chết bỏ mà hàng ngày hai lỗ tai còn phải nghe ra rả lời chửi bới của bọn quản giáo coi tù. Những tù nhân nầy phải vào tù vì lý do duy nhất chỉ vì là nhân viên, viên chức trong xã hội miền Nam VNCH. Đó là những người tù cải tạo.

Chưa có ai thống kê được hiện nay tại VN có bao nhiêu trại giam? Ngoài những trại giam chính như Bố Lá, Đồng Hoà, Tân Hiệp (trong miền Nam), Chí Hoà, Đại Lợi, Phan Đăng Lưu (ở thành phố mang tên lão già), Thanh Cẩm (ở miền Trung), Thanh Xuân, Ninh Khánh (ngoài miền Bắc) thì còn bao nhiêu trại tù lẩn khuất trong các cánh rừng hay trong các nơi đèo heo hút gió trên khắp nước Việt. Tại sao có quá nhiều nhà tù trên đất nước ta và tại sao lại có quá nhiều người phạm tội phải vào nhà tù vậy? Cái gì đã xô con người ta lao vào tội ác? Những câu hỏi nầy cần phải có một cuộc điều tra sâu rộng của các nhà xã hội học.

Nhìn các tấm hình dưới đây, sẽ có nhiều người đặt câu hỏi có thực cuộc sống trong các nhà giam đâu có … đáng sợ như lời người dân truyền miệng. Những quản giáo công an lúc nào cũng là những người đầy lòng thương, thông hiểu tình cảnh, tâm lý của phạm nhân. Quản giáo lúc nào cũng thương mến các anh chị, những con người lỡ lầm. Đánh kẻ chạy đi chứ ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Câu nói cửa miệng của bọn quản giáo công an CS.

traigiamNinhKhanh

(Trai giam Ninh Khanh)

ketthucngaylaodong

(Ket thuc ngay lao dong)

Phạm nhân” đi dạo mát” sau buổi lao động.

traigiamnam

(Trai giam nam)

Laodongtrongtu

(Lao dong trong tu)

phamnhantheuhang

(Pham nhan theu hang)

traigiamnu

(Trai giam nu)

Dạy nghề cho các phạm nhân.

khamsuckhoechophamnhan

(Kham suc khoe cho pham nhan)

Khám bệnh cho phạm nhân. Các mẹ ở nhà đừng lo, có quản giáo thay người từ mẫu rồi.

http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=37643&ChannelID=92

Đường link của bài báo

Đọc lý lịch của các tay thủ ác từ các tờ báo trong nước như Công An, An Ninh Thủ Đô, Tuổi Trẻ … thì độc giả sẽ thấy hầu hết các phạm nhân đều xuất thân từ một nơi nào đó ngoài miền Bắc, cái nôi XHCN của nước Việt. Trong số họ, có người từng là bộ đội, công an, đảng viên CS nữa. Cũng dễ hiểu thôi. Sinh ra và trưởng thành trong môi trường vô thần nên họ đâu có các niềm tin về tâm linh. Họ nghĩ: Đời là cuộc đấu tranh sinh tồn và chết là hết nên họ sẵn sàng lao vào tội ác khi có dịp. Rủi “đánh quả” bị thất bai ư! Bị công an tó vào tù thì sẽ gặp các anh quản giáo ” đầy tình người ” và môi trường nhà tù chính là các trường đào tạo phạm nhân thành người hữu dụng cho đất nước theo kiểu của các tay tổ CS Việt Nam từng ở các nhà tù hình sự (thời Pháp thuộc) từ Hoả lò, Lao Bảo, Côn Đảo rêu rao trong các bài viết của họ trước giờ.

Nhưng nhà tù thời còn Thực Dân Pháp và nhà tù thời CS Việt Nam khác nhau xa à nha. Dù bọn Thực Dân Pháp không cùng chung giòng giống, máu mủ với dân Việt mình.

Có người lại nói với PTV là những tấm hình chụp cảnh trong nhà giam mà anh thấy đó chỉ là cảnh được dàn dựng của bọn công an trại giam. Đây là một nghề trong vô số chuyên môn lừa dối của bọn Cộng Sản. Phạm nhân trong hình hầu hết là bọn tù … người nhà. Tức là bọn con ông Sáu cháu ông Năm hay bọn 5 C (Con Cháu Các Cụ Cả) phạm tội mà không thể ” chạy lo lót ngay được ” đành phải nằm ấp ít ngày đó. Người không có cổ có cánh (loại dân ngu cu đen, trên răng dưới … cát tút) rủi sa vào vòng lao lý thì phải chuẩn bị tinh thần và thân xác để đón nhận sự ” ưu ái ” đặc biệt của các tay thợ đánh người từ quản giáo công an lẫn đầu gấu trong phòng giam. Học đan lát làm gì cái nghề nầy trong lúc các làng nghề đan lát còn phải dẹp bỏ khi có các sản phẩm làm từ nhựa plastic. Học thêu khăn để bán cho ai? Hay là các phạm nhân nam và nữ đang thực tập trong các … phân xưởng của các công nhân theo yêu cầu tuyên truyền của bọn công an quản giáo trại giam.

Người dân bình thường trong nước khi thoát khỏi nhà tù, họ mò về được đến nhà thì thân nhân ruột thịt còn nhận không ra. Ba chục tuổi đầu bằng người ngoài năm mươi (dù mới “đi học” có vài niên). Răng cỏ của họ, không hiểu đi đâu hết trơn. Đọc quyển Hồi Ký Bão Lòng (của tác giả Gia Nguyễn) viết về cảnh sống của tù nhân trong các nhà tù ở nước Việt hiện nay ta không khỏi rùng mình vì sự đày ải . Bắt tù nhân phải tắt máy (không được nói chuyện với nhau), tắt pha (cấm mở mắt nhìn), khóa cổ (cấm nghiêng đầu nghiêng cổ), gạt chân chống (cấm co chân) từ bọn đầu gấu (tù cha) trong phòng và sự ăn chặn (bắt người nhà phải đút lót tiền bạc cho công an quản giáo cũng như tù nhân phải cống nạp toàn bộ đồ ăn thăm nuôi (cho đám tù cha trong phòng) để có sự che chở cho bản thân thì việc ở tù của bọn đầu lãnh Cộng Sản năm xưa trong các nhà tù của Thực Dân Pháp cũng như trong trại tù binh Cộng Sản tại đảo Phú Quốc thời miền Nam VNCH trước đây là cách biệt cả một trời một vực. Bọn tù Cộng Sản những năm đó ở tù quá sướng vì chúng không bị buộc phải lao động lại được tự do làm báo, học hành hàm thụ … trong phòng như kiểu tù Con ông Sáu cháu ông Năm trong các hình làm cảnh ở trên đây.

hoikyBaoLong

Hồi Ký Bão Lòng của tác giả Gia Nguyễn.

Thập niên 1990 tại Việt Nam, những người tù cải tạo chỉ cần chứng minh đã ” ủ tờ ” từ ba năm trở lên là đã đủ tiêu chuẩn để chính phủ Hoa Kỳ cho nhận vào định cư (lập lại cuộc đời mới) tại nước họ. Người Việt trong các tổ chức phản cách mạng (tức các tổ chức chống lại bọn CS Việt Nam) khi vượt biên đến trại tị nạn, nếu người ấy chứng minh được bản thân từng bị Việt Cộng cho vào học trong Đại Học Máu (đi tù) ba năm cũng sẽ được UNHCR (Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Về Người Tị Nạn) ban cho quy chế tị nạn luôn. Vậy thì rõ ràng, trại tù và các quản giáo công an Cộng Sản Việt Nam phải là cái gì ghê khiếp lắm mới được Hoa Kỳ cùng cộng đồng quốc tế quan tâm đến kẻ từng ở trong lao cải của bọn Cộng Sản VN. Được chính phủ Hoa Kỳ nhận vào định cư tại nước họ bằng diện tị nạn cũng như được UNHCR công nhận là người tị nạn đâu phải là một chuyện dễ dàng.

Vậy mà có các bài viết như loại kể trên nói về các trại giam cũng như tấm lòng nhân ái của các anh quản giáo công an Cộng Sản VN.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Dec 16, 2008.
(còn tiếp)


3/. Trại Tù Binh Cộng Sản Tại Đảo Phú Quốc Có Thực Là Một Địa Ngục Trần Gian?

Tình cờ PTV đọc được một bài viết có tựa: Lời Kể Của Người Cai Ngục do văn nô Đặng Trung Kiên viết về các tàn ác của lực lượng Quân Cảnh chế độ miền Nam VNCH khi họ canh gác tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam (Mặt Trận Giải Phóng) tại đảo Phú Quốc trong thời chiến tranh hai miền trước đây. Văn nô Đặng Trung Kiên đã tìm được các cựu binh Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH (vẫn còn sống tại đảo Phú Quốc) để hỏi và đã viết các chuyện về … địa ngục trần gian kể trên.

http://baoin.qdnd.vn/

Đường link của bài viết.

Tác giả bài viết này cũng đã gặp mặt hai cựu binh Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH, là những người từng gác tù CS Việt Nam tại đảo Phú Quốc trong những năm đó. Những người nầy kể là chính quyền miền Nam VNCH rất tôn trọng Công Ước Geneva về tù binh. Chính quyền miền Nam VNCH luôn đối xử nhân đạo với tù binh (vì họ nghĩ Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam cũng là người Việt Nam) và có cả một chương trình chiêu hồi tù hàng binh CS về với chính nghĩa quốc gia nữa. Đến cuối cuộc chiến tranh, đã có trên 200.000 (hai trăm ngàn) Việt Cộng miền Nam và CS Bắc Việt ra chiêu hồi với chính quyền miền Nam VNCH. Chính quyền miền Nam VNCH khi đó ngoài tình dân tộc ra thì còn bị thêm một áp lực của người Mỹ là phải đối xử thật tốt với tù binh CS (vì chính quyền Mỹ sợ CS Bắc Việt sẽ xử tệ với tù binh lính Mỹ của họ). Những cựu Quân Cảnh đó đã kể cho nghe là bọn tù Cộng Sản không hề bị buộc phải đi lao động chết người như bọn chúng đã đối xử với tù học tập cải tạo sau nầy (sau khi chúng cướp được toàn bộ miền Nam VNCH). Phú Quốc là một hòn đảo, do đó nguồn thức ăn chính là cá biển và bọn tù CS đòi hỏi Ban Cải Huấn Trại phải cho chúng ăn cá Ngừ, cá Thu hay cá Hường … Đây là những loại cá ngon thân nhiều thịt, ít xương. Khi nào nhà thầu mà cung cấp cho chúng loại cá Chỉ vàng (ít thịt nhiều xương) thì chúng không chịu ăn, làm reo tuyệt thực. Bọn chúng còn được chơi bóng chuyền, túc cầu (bóng đá) và học hành (tùy ý) trong trại nữa. Chúng đã lợi dụng việc được tự do học hành nên đã học tập các nghị quyết của bọn đầu lãnh CS Hà Nội (trong cái gọi là Bộ Chính Trị) với nhau trong các sinh hoạt tổ đảng tại phòng giam. Chúng có cả đảng ủy (mà có người gọi trại là đảng quỷ) chỉ huy tất cả tù nhân ở trong trại. Vì đâu mà chúng biết được các nghị quyết của đảng chúng? Có những người lính miền Nam VNCH trong lực lượng Quân Cảnh đã làm tay sai cho chúng. Chính những cá nhân phản quốc nầy đã cung cấp lén lút cho chúng các phương tiên để chúng lắp ráp máy radio trong tù và; Tệ hơn nữa, bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản này đã đánh cắp rồi sao ra toàn bộ danh sách tù binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại Phú Quốc khi đó và chuyển tài liệu nầy cho Việt Cộng nằm vùng trên đảo. Sau đó, bản tài liệu nầy đã được chuyển ra miền Bắc cho bọn đầu lãnh CS Hà Nội rồi chúng chuyển đến tận bàn Hoà Đàm Paris năm 1973 để làm áp lực, buộc chính quyền miền Nam VNCH phải thả toàn bộ đám tù binh của chúng.

Thời gian đó ở đảo Phú Quốc, người Mỹ cũng đã từng cài gián điệp trong vai một tù binh cán binh CS Bắc việt hoặc Việt Cộng miền Nam để dò la tung tích bọn đầu lãnh CS trong trại (đảng ủy) hoặc muốn biết tình hình của bọn chúng (như các âm mưu vượt trại) để phòng ngừa. Lâu lâu có một vài tù binh bị bạn đồng tù CS giết chết bằng cách đâm xuyên đôi đũa qua hai lỗ tai của người tù đó. Không một ai biết nạn nhân đó có thực là gián điệp Mỹ hay chỉ là một cán binh CS mà đã bị đồng đảng phát giác có thái độ … chán chường, bi quan (lập trường chao đảo) hay hết muốn làm người chiến sĩ vô sản nên đã bị cái gọi là đảng ủy nhà giam Phú Quốc ra lệnh xử tử.

nhatuphuquoc

(Nha tu Phu Quoc)

Các bài viết của văn nô CS về cái gọi là địa ngục trần gian Phú Quốc.

(Trai tu Phu Quoc)

Tù CS được ở trong các nhà cao, thoáng mát như vầy và có cả hệ thống nước trong sạch để tắm giặt nữa. Thật khác xa hoàn cảnh của người tù cải tạo VNCH.

BaoCSoConDao

(Bao co so Con Dao)

Báo Xuân có tựa là Xây Dựng của bọn CS làm trong trại tù binh Phú Quốc.

Những cựu Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH nầy còn kể là có lần bọn tù binh CS tuyệt thực mê man thì chính các viên chức Mỹ đã đến áp lực với Ban Cải Huấn Trại phải … thoả mãn các yêu cầu của bọn tù CS. Rồi còn phải nấu cháo gà (hai nồi khổng lồ như nồi nước lèo ở tiệm Phở) cho bọn chúng ăn để chúng mau hồi sức nữa. Chính người cựu Quân Cảnh kể chuyện cho nghe đã ở trong nhóm nấu cháo kể trên. Khi hai nồi cháo nấu chín rồi, ông ta vì quá tức nên đã bắc ghế, đứng lên và … đái thẳng vào hai nồi cháo gà đó cho bõ tức.

Ta đọc trong các bài viết của văn nô Đặng Trung Kiên thì sẽ thấy lòi ngay cái láo lếu của y. Nếu thực sự cai tù Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH đối xử với bọn tù binh CS quá ác độc như lời y rêu rao thì các cai tù (cựu Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH ngày ấy), khi bọn CS chiếm được toàn miền Nam VNCH, họ đã không dám sống ở hòn đảo Phú Quốc đó (phải cao bay xa chạy chứ) cho đến tận bây giờ để cho y tìm đến mà hỏi mà viết bài … láo lếu như trên. Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH phải đối xử với bọn chúng rất có tình người, chứ họ chỉ cần đối xử hơi tệ một chút thôi thì ít nhiều cũng bị bọn Cộng Sản bắt đi học tập cải tạo (thực sự là ở tù chết bỏ xác) rồi.

Khi thi hành Hiệp Định Paris 1973, phía chính quyền miền Nam VNCH đã dùng máy bay C130 chở bọn tù CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam đến trao trả cho bọn chúng tại Lộc Ninh và ở bờ sông Thạch Hãn. Bọn tù binh phe CS khi đó, tên nào tên nấy đều đủ 4 tiêu chuẩn cơ thể: To-Bền-Béo-Khoẻ như trong các tấm hình dưới đây. Trái lại, các tù binh thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH được bọn CS trao trả thì hầu hết đều bị chính quyền miền Nam VNCH buộc phải cho giải ngũ luôn vì … nhìn không ra là người nữa (bất khiển dụng). Cứ 2 người phải dìu 1 người hoặc một người thì đi lê lết (đúng y chang câu hát của nhạc sĩ PD: Ngày trở về, anh bước lê …). Hình ảnh người tù trở về gia đình từ nhà giam Cộng Sản trong các năm tháng đó đã được lập lại trong các trại tù cải tạo sau ngày 30-4-1975. Độc ác như bọn CS Việt Nam thì luôn luôn nghĩ những người khác cũng độc ác như chúng. Thói đời là vậy.

Sống trong “Địa Ngục Trần Gian” mà thân thể cán binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam ngon lành như dưới đây sao?

traotratubinhvc19734

(Trao tra tu binh viet cong 1973-4)

Hình trao trả tù binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại bờ sông Thạch Hãn. Mỗi gã có quần áo đàng hoàng (còn sang, đẹp hơn công nhân đi lao động hợp tác hay du sinh đi du học ở các nước XHCN Đông Âu trước đây) và còn được tặng kèm theo cả một túi quà. Lực lượng Quân Cảnh đội mũ sắt có sơn 2 chữ QC.

traotratubinhvc19733

Hình trao trả tù binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại phi trường Lộc Ninh. Gã nào yếu đi lại khó khăn thì chính quyền miền Nam VNCH cấp cho cả nạng trợ giúp.

PA100199

Đón các anh từ nhà tù Mỹ-Ngụy (địa ngục trần gian theo tuyên truyền của văn nô Đặng Trung Kiên) tại bờ sông Thạch Hãn. Anh trai nào cũng dư sức tham dự hội khỏe Phù Đổng.

Khi nhận lại được một số tù binh khoẻ mạnh như vậy. Đám đầu lãnh CS Hà Nội (bọn gọi là Quân Ủy Trung Ương) đã nhanh chóng bổ sung thành các sư đoàn (phiên hiệu F) góp phần cho phần thắng của chúng trong ngày 30-4-1975 tại chiến trường miền Nam VN và để khởi đầu cho chuỗi đau thương của toàn bộ đất nước Việt, con dân Việt cho đến tận ngày hôm nay.

Có một việc mà qua đó đã tố cáo những láo lếu về cái gọi là chính nghĩa của bọn Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam là trong đám tù binh Phú Quốc khi được chính quyền miền Nam VNCH trao trả tự do. Đó là, có một số lại không chịu quay về với đơn vị cũ, với Đảng và rừng núi âm u cùng ” chính nghĩa Cộng Sản ” nữa. Trong lúc chờ trao trả cho đồng chí đồng bọn tại phi trường Lộc Ninh, những tù binh này đã lợi dụng cơ hội có mặt Ủy Ban Liên Hợp Quốc Tế (ICCS) và chính quyền miền Nam VNCH nên họ đã cương quyết xin được cho hồi chánh tại chỗ luôn. Họ muốn được hít thở cái không khí tự do của xã hội miền Nam VNCH. Tiếc thay, thời gian hạnh phúc đó của họ không kéo dài được lâu. Đúng là không ai biết rõ tâm địa của bọn Cộng sản bằng những người từng ở trong hàng ngũ của bọn chúng.

CSxinolai

(Cong san xin o lai)

Hình tù binh CS xin chọn ở lại làm công dân chính quyền miền Nam VNCH. Để ý hàng chữ ở bích chương: Quyết không về với Cộng Sản. Thà chết ở miền Nam.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Dec 18, 2008.
(còn tiếp)


4/. Vẽ Tranh Giữa Đêm Trường, Mầu Làm Bằng Đất, Khách Du Trả Giá 100.00 Đô La Mỹ Nhưng Tác Giả Lại Không Bán!

Báo Quân Đội Nhân Dân (số 17123 ra ngày 19-12-2008, trang 2) có bài của văn nô Hồng Hải với tựa đề: Vừa vẽ, vừa khóc … viết về một tay hoạ sĩ quân đội Nhân Dân Việt nam (thực sự là quân đội của bọn Cộng Sản VN) tên là Đức Dụ, người đã từ chối lời đề nghị của một khách du ngoại quốc (không cho biết tên và là người từ nước nào) trả giá 100.000 (một trăm ngàn) Đô La Mỹ để mua lại toàn bộ hơn 400 bức ký hoạ của y ta.

http://baoin.qdnd.vn/

Link của bài viết.

100.000 Đô La Mỹ cho hơn 400 bức ký hoạ. Có thể là một số tiền nhỏ (nếu chia đổ đồng mỗi tấm là 250 Đô La) nên hoạ sĩ Đức Dụ nầy đã không bán? Người khách đó (theo lời kể của hoạ sĩ là: Thấy tay nầy có vẻ ” khoái ” Trường Sơn) đã phải lẳng lặng rút lui sau khi biết hoạ sĩ không muốn bán (khi khách du đã đưa vài người giám định tranh đến xem xong). Lý do mà hoạ sĩ không bán hơn 400 bức ký hoạ đó là vì (theo lời hoạ sĩ nói) tranh của tôi nhưng là xương máu của đồng đội.

Chuyện nghe thật hùng. Quân đội Nhân Dân Việt Nam là như vậy chứ! Nhưng tranh đã vẽ như thế nào và vẽ cái gì mà Đức Dụ dù hét (lời của y trong bài) tới 100.000 ngàn Đô La Mỹ mà khách vẫn đồng ý mua vậy? Người khách du ngoại quốc nầy mua 400 tranh của Đức Dụ để làm gì? Mua về để lập bảo tàng kiểu … Hào Hùng Trường Sơn chắc? Hay y cũng là người động rồ, điên loạn rồi?

Tranh của các danh hoạ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí trong nước … mới chỉ được nhà bán hàng sưu tập Sotheby’s giới thiệu có vài bức thôi mà khung giá chỉ tới vài chục ngàn Đô la Mỹ là đứng. Vậy mà giờ đây, một tay hoạ sĩ loại tép riêu như gã Đức Dụ nầy lại có khách du ngoại quốc tìm đến xem tranh và nài mua với giá 100.000 Đô La Mỹ. Có khả tín không vậy?

Ký họa là những bức vẽ vội. Ghi lại thật nhanh những gì mà hoạ sĩ vừa nắm bắt được trước mắt. Có khi là một chân dung người, một khung cảnh, một tĩnh vật … Tay Đức Dụ nầy đã kể lại là y vẽ tranh trong bóng tối của trận địa pháo. Ta hãy nghe hoạ sĩ kể: “… ngồi ngay trên đống gỗ cạnh trận địa để vẽ. Anh định vẽ bằng mực tàu vì ban đêm không vẽ mầu được; nhưng bộ đội bảo cứ vẽ bằng màu cho đẹp. Hai chiến sĩ công binh được cử ra giúp anh, một người soi đèn pin, một người giữ cho tờ giấy khỏi bị lắc vì tác động của bom pháo. Vẽ đến màu trắng thì hết màu, đang lúng túng thì một chiến sĩ nói: ” Phía bên kia đường, tôi thấy có đám đất trắng lắm, anh dùng tạm được không “. Đức Dụ gật đầu. Anh lấy ít nước trộn đất, chấm bút vào bôi lên tranh, thế mà lại được. Lệnh bắn tạm ngừng, bộ đội xúm lại xem tranh, nghe kể anh vẽ bằng đất đã nói: ” Đúng là hoạ sĩ đã bốc cả thiên nhiên Trường Sơn vào tranh “. Thế là hàng loạt tiếng cười vang lên giữa lúc máy bay địch lồng lộn trên trời “.

Ta thấy giới văn nghệ sĩ Cộng Sản VN thường làm những cái có vẻ … khác người. Như tay họa sĩ Đức Dụ nầy đã kể. Vẽ ngay trong trận địa pháo … sôi sục mà lại vẽ vào ban đêm. Mà thực sự có thật là như vậy hay do y ta tưởng tượng ra cho nó hào hùng. Họa sĩ đang vẽ theo trí tưởng trước mắt (đâu phải là tranh chép lại) mà người xem có thể biết trước các gam mầu sẽ phải dùng tới. Vừa đến mầu trắng thì cạn, đang lúng túng thì đã có một chiến sĩ (gã chiến sĩ này đọc được ý nghĩ trong đầu của Đức Dụ) nói lấy đất trắng bên kia đường kìa, nó trắng lắm. Và, bức tranh đã thành hình vì … có cả thiên nhiên được bốc vào tranh nữa. Phịa quá hay đi chứ.

” Tranh của tôi nhưng là xương máu của đồng đội … tôi vừa vẽ, vừa khóc … làm sao có chuyện tôi bán tranh được.” Lời của hoạ sĩ Đức Dụ.

Đất nước Việt đã thấm máu xương của bao nhiêu anh hùng liệt sĩ từ các cuộc chiến tranh từ thời Đinh, Lê, Lý,Trần, Hậu Lê, Nguyễn cho tới thời thực dân Pháp mới có được giải đất hình chữ S nầy. Rồi do hoàn cảnh lịch sử đã bị chia cắt 2 miền Nam-Bắc. Và miền Bắc CS đã không chịu ở yên lại kéo quân vào xâm lăng miền Nam (từ âm thầm, lén lút xâm nhập ở buổi đầu đến công khai đi khơi khơi trên các đại lộ trong buổi gần tàn cuộc chiến) để làm chết bao nhiêu người dân vô tội (trong đó có cả đồng đội của họa sĩ Đức Dụ nữa). Rồi sau khi lấy được thêm miền Nam VNCH thì đám đầu lãnh CS Hà Nội đã lén lút đem dâng (không có bán à nha) không cho bọn Tàu Khựa biết bao km vuông đất đai cùng lãnh hải nước Việt. Người dân Việt Nam còn lương tri thì ai cũng biết hành động của bọn lãnh đạo CS Hà Nội là hành động phản quốc (còn tệ hơn hành động của Lê Chiêu thống và Mạc Đăng Dung năm xưa) và đều căm phẫn bọn chúng. Đám lãnh đạo nhà nước Cộng Sản VN hiện nay nầy đâu thèm đếm xỉa gì đến máu xương của con dân nước Việt đã nằm xuống. Dâng đất, dâng biển mà chỉ cần đám đàn anh Tàu Khựa bảo vệ cho chúng khỏi mất địa vị đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt từ hơn 60 năm nay là được rồi (sau khi bọn chúng bị mồ côi vì hết các mẫu quốc Đông Âu CS và Liên Xô trong đầu thập niên 1990). Không biết tay hoạ sĩ Đức Dụ nầy có biết các chuyện đó hay biết mà gã cũng vẫn tảng lờ (như nhiều tay văn, nghệ sĩ nô dịch khác) để rồi tiếp tục vỗ tay cùng một nhịp với bọn Cộng Sản VN phản quốc.

Vậy mà năm nào cứ đến gần ngày 22 tháng 12 (ngày thành lập cái gọi là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam mà thực chất là Quân Đội Cộng Sản Việt Nam) thì báo-radio-truyền hình trong nước lại ra rả (nghe điếc cả cái lỗ tai nhất là với những ai có nhà ở gần cái loa phát thanh công cộng) các bài viết ôn lại ” quá khứ hào hùng ” hết chống Mỹ tới diệt Ngụy theo kiểu lá cải, 3 xu trên đây.

Chống Mỹ để bây giờ lại cầu mong bọn đế quốc Mỹ quay trở lại nước Việt (để làm đối lực chống lại ảnh hưởng của bọn Tàu Khựa). Diệt Ngụy miền Nam VNCH để bây giờ khối người trong nước (bao gồm cả những đảng viên CS nữa) mong xã hội, chính trị được giống như thời miền Nam VN trước ngày 30-4-1975 (thời của bọn Ngụy tay sai, ngôn ngữ của bọn Việt Cộng).

ducduhs

(Duc Du hoa si)

Hoạ sĩ Đức Dụ.

dattrang

Bài viết: “Vừa vẽ, vừa khóc… của văn nô Hồng Hải”.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Dec 20, 2008.
(còn tiếp)


5/. Lại Chuyện Khủng Bố Nhí: Lê Văn Tám, Cậu Bé Đuốc Sống.

Hình tượng Lê Văn Tám, một thiếu nhi tẩm xăng vào người rồi chạy đâm đầu vào kho xăng giặc (của Thực Dân Pháp) mà đã một thời được nhiều người (tất nhiên thuộc dân sống ở vùng sâu vùng xa hay dân lao động thành thị) ít có thời giờ suy nghĩ (xem câu chuyện có khả tín hay không, được bao nhiêu phần trăm độ tin cậy?) nên đã tin sái cổ là đã có một cậu bé anh hùng như vậy của ” thiên anh hùng ca Cộng Sản VN “.

Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi phe Cộng Sản chiếm được miền nam VNCH, trong các sách dạy môn sử về các … gương yêu nước, người ta đã thấy có bài viết về nhân vật nhí Lê Văn Tám nầy. Rồi đã có công viên, tên đường, tên trường học mang tên Lê Văn Tám và thậm chí có nơi dựng tượng hoặc đài tưởng niệm Lê Văn Tám nữa (ở vùng du lịch Bến Dược-Củ Chi). Đồng hành với cái màn tôn vinh Lê Văn Tám, đã có các bài viết đăng rải … rác đây đó trên các trang báo Sài Gòn Giải Phóng, Khăn Quàng Đỏ, Tiền Phong về con người và chiến công hiển hách (đốt kho xăng giặc Pháp tại Thị Nghè) của tay thiếu niên Lê Văn Tám nầy. Trang 63 quyển Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định Kháng Chiến (1945 – 1975) của Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994 có nói về liệt sĩ Lê Văn Tám như sau: ” Đội viên cảm tử Lê Văn Tám mới 13 tuổi, được giao nhiệm vụ giả câu cá, cắt cỏ ở bến sông để quan sát. Đêm 17-10 (1945) Tám tự quyết định một mình đánh kho đạn, lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm. Buổi sáng, chờ lúc sơ hở, em tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lửa cháy loang, một tiếng nổ long trời, kéo theo hàng loạt tiếng nổ liên tiếp, làm rung chuyển cả thành phố. Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa, tự biến mình thành cây đuốc sống, đã hy sinh anh dũng. Kho bị phá hủy hoàn toàn. Đài phát thanh phía bên kia đường bị sập một phần lớn. Đại đội Âu Phi bảo vệ bị tiêu diệt”.

Có một chai xăng nhỏ xíu, Tám đem đổ vào khu vực chứa đạn rồi đốt mà không khéo bị dính xăng bắt lửa đến thành cây đuốc sống. Nghe có đáng tin hay không?

Vậy đã hết đâu. Trong trang 67 tập 2 của bộ sách: Mùa Thu Rồi Ngày Hăm Ba của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội in năm 1996, ta thấy ghi đoạn:

” Đêm ngày 17-10-1945, đội viên cảm tử Lê Văn Tám dũng cảm đốt kho đạn Thị Nghè (người tổ chức cho Lê Văn Tám thực hiện chiến công này là anh Lê Văn Châu đã hy sinh năm 1946 tại Ngã Ba Cây Thị). Kho đạn bị phá hủy hoàn toàn. Đài phát thanh bên kia đường bị sập một phần lớn, đại đội Âu Phi bảo vệ bị tiêu diệt … (viết theo tư liệu của Ban Tuyên Huấn Quận Ủy Bình Thạnh)”.

levantam

Khi nghe câu chuyện về Lê Văn Tám thì đã có nhiều người đặt nghi vấn là làm sao mà một cậu bé 13 tuổi lại gan dạ quá sức vậy? Thân nhân ruột thịt của cậu ở đâu mà không ngăn cản hành đông tự sát của con, cháu hoặc em mình? Rồi đoạn đường từ chỗ cậu bật que diêm quẹt vào người (đã tẩm xăng) để cậu chạy vào kho xăng cho xăng bắt lửa nổ đùng là bao xa? Lính tuần tiễu coi kho của Thực Dân Pháp đâu cả rồi? Và ai cũng thấy rõ đây là một chuyện xạo. Mà người nào là tác giả của nhân vật Lê Văn Tám nầy? Các thắc mắc của nhiều người được giải toả khi có lời tuyên bố từ giáo sư sử học Phan Huy Lê (ông nầy nằm trong nhóm 4 sử gia Cộng Sản VN: Lâm-Lê-Tấn-Vượng) là: ” Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật “. Rồi ông sử gia nầy cho biết thêm … tiết lộ ra chuyện này là để trả món nợ với ông Trần Huy Liệu. Sau Cách Mạng Tháng 8-1945, ông Trần Huy Liệu đã tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè. Ông Liệu đã nói với ông Lê rằng: ” Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa “. Những năm sau năm 1945, ông Liệu đã giữ chức Viện Trưởng Viện Sử Học Việt Nam và đã mất năm 1969. Giáo sư Lê cũng đề cập đến chi tiết phi lý trong chuyện này là: ” Cậu bé Lê Văn Tám, sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy “.

Đã rõ là chuyện xạo. Ai cũng thấy nhưng vẫn có gã thợ viết Cộng Sản VN cãi cối cãi chầy: Cây đuốc sống Lê Văn Tám là chuyện có thật. Đó là gã thợ viết Trần Trọng Tân trong bài viết của y có tựa: Về cây đuốc sống Lê Văn Tám, ngày 18 tháng 10 năm 2008 trên trang báo điện tử Diễn Đàn KHKT Quân Sự và Quốc Phòng.

http://www.vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=877

Link của bài viết.

Trước kia thì cho Lê Văn Tám đốt kho xăng. Bây giờ y sửa lại là đổ xăng đốt kho đạn rồi nghĩ nếu để một mình cậu bé mới 13 tuổi đi vào đất địch như Lê Văn Tám thì quá vô lý và nhất là để giải toả câu hỏi: Bà con ruột thịt của cây đuốc sống đâu? Gã thợ viết Trần Trọng Tân đã cho thêm chi tiết là Lê Văn Tám được Lê Văn Châu (anh của Lê Văn Tám) tổ chức, bày kế hoạch (đẩy em mình vào chỗ chết tan thây) nhưng rồi ngay sau đó y cũng cho biết là:” anh Lê Văn Châu, đã hy sinh trong trận đánh giặc Pháp ở Ngã ba Cây Thị năm 1946 ” (vậy là y bịt hết đầu mối câu chuyện luôn) vì còn ai nữa để làm chứng.

Cha đẻ ra cậu bé ảo Lê Văn Tám là gã Trần Huy Liệu (cựu Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền và sau nầy là Viện Trưởng Viện Sử Học Cộng Sản VN) đã khẳng định Lê Văn Tám, cậu bé đuốc sống là do trí tưởng tượng của y (trong lời trối với sử gia Phan Huy Lê), vậy mà tay thợ viết Trần Trọng Tân nầy vẫn cố nói lấy được. Vì đâu mà Trần Huy Liệu nghĩ ra hình ảnh em bé đuốc sống? Trong sử Việt, ai cũng biết đến câu chuyện vua Lê Long Đỉnh (1006-1009) thời xưa (nhà Tiền Lê) đã từng ra lệnh cho quân sĩ bọc rơm vào người tội nhân rồi đốt. Có thể từ hình ảnh nầy mà Trần Huy Liệu đã sáng tác ra nhân vật Lê Văn Tám. Có thể lắm.

Thiếu gì cậu bé được cha mẹ đặt cho cái tên Lê Văn Tám tại Việt Nam nhưng chắc chắn không có người tên Lê Văn Tám, cậu bé đuốc sống như trong các sách giáo khoa và trong sử đảng Cộng Sản VN đã rêu rao. Biết như vậy nhưng gã thợ viết Trần Trọng Tân nầy vẫn muốn: Nhân dân ta, tuổi trẻ (con) nước ta tưởng niệm và trân trọng tôn vinh một con người không có thật trên đời.

Giờ đây, từ các luận điệu của Trần Trọng Tân, cậu bé đuốc sống Lê Văn Tám năm xưa (đổ xăng lên người rồi châm lửa thành cây đuốc) đã biến thể thành: Cậu bé … đổ xăng đốt kho đạn rồi bị chết lây Lê Văn Tám.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Dec 28, 2008
(còn tiếp)


6/. Lính Mỹ Nghe Và Nói Tiếng Việt Nhuần Nhuyễn!

Báo Quân Đội Nhân Dân (thực chất là tờ báo của Quân Đội Đảng Cộng Sản VN) số 17109 có đăng bài (của gã văn nô Phạm Xưởng) nói về câu chuyện của một cán binh CS Bắc Việt tên là Trần Huy Mộc (tuổi Kỷ Sửu-1949), gã cán binh Mộc nầy theo chân đoàn quân vào xâm lăng miền Nam VNCH và bị bắt (ngày 27 tháng 11 năm 1969) chung với một chiến sĩ gái khác. Sau đó cả hai bị đưa lên trực thăng (máy bay lên thẳng) chuyển về Đà Nẵng để phía miền Nam VNCH tra khảo (nhằm khai thác tình hình). Khi tra khảo, một sĩ quan Mỹ đã hùng hổ hỏi Mộc:

… xin trích:

” – Quê mày ở đâu?

Mộc trả lời:

– Tao ở Nguyên Giáp!

– Mày dám lấy tướng Giáp để dọa tao à!

Rồi hắn sai lính đánh Mộc rất dã man. Mộc ngất đi. Chúng xối nước lạnh vào mặt rồi dựng anh dây. Tên Mỹ túm tóc Mộc:

– Mày còn lấy Võ Nguyên Giáp ra dọa tao thì tao sẽ mổ bụng mày. Quê mày ở đâu?

Mộc nhìn trừng trừng vào tên cướp nước. Anh nghĩ: ” Tên quê hương mình trùng với tên người ” anh Cả ” của quân đội ta. Chỉ cần mình nói bừa một địa danh khác, chắc rằng tên cướp nước sẽ hả hê về sự khuất phục của người tù binh Việt Cộng. Không! Mình sẽ không làm như vậy “. Nghĩ rồi, anh nhìn thẳng vào mặt tên cướp nước và nói rành rẽ:

– Quê tao ở Nguyên Giáp!

Tên Mỹ tím mặt. Nó trực tiếp lấy một con dao nhọn rạch một vết dài khoảng 20cm, dọc phía trên rốn của Mộc trước mặt quân lính… ”

… hết trích.

Gã cán Trần Huy Mộc nầy trong bài cho biết y là người tỉnh Hải Dương. Ta biết là phương ngữ Việt Nam có nhiều vùng (trong cả 3 miền Nam-Trung-Bắc) rất đặc thù. Khi nói, giọng âm rất khó nghe (để hiểu) với người lạ vùng, khác địa phương. Vậy mà ở đây, gã văn nô Phạm Xưởng lại miêu tả đoạn văn kể trên. Gã muốn đề cao tay tướng CS Võ Nguyên Giáp? Đã từ lâu trong nước Việt, đám văn nô đã thổi cái tên Võ Nguyên Giáp lên tuốt … chín từng mây. Nào là: Võ Nguyên Giáp là viên tướng giỏi nhất nhì trong quân sử thế giới … Các tướng lãnh Mỹ luôn bái phục tướng Võ Nguyên Giáp … Thế giới kính phục tướng Võ Nguyên Giáp … như các lời (mèo khen mèo dài đuôi) của văn nô CS (trong các bài viết, truyện, ký ức…). Tướng Võ Nguyên Giáp thực sự là một viên tướng tài hay không thì người thạo tin đã biết khi có các tiết lộ gần đây từ phía Tàu Cộng. Võ Nguyên Giáp tài giỏi như vậy nhưng đám đầu lãnh CS Hà Nội như Lê Duẩn (anh Ba), Lê Đức Thọ (Sáu Búa) … vì sống gần nhau nên biết rõ cái tẩy của nhau lại coi thường Võ Nguyên Giáp đến độ năm 1983 đã cắt cho y cái chức: Chủ Nhiệm Ủy Ban Quốc Gia Dân Số Và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch mà một trong các nhiệm vụ của ủy ban nầy là phải kiểm soát sinh suất trong nước (kế hoạch hóa gia đình). Vậy mà gã tướng hào hùng Điện Biên năm nào vẫn cúi mặt nhận công việc (Anh ngữ gọi là Job) đã bỉ mặt y như vậy. Khi thấy y nhận việc, ai đó trong nước đã có câu thơ mỉa mai gã tướng: Năm xưa đại tướng công đồn/Ngày nay đại tướng bịt L… chị em.

Sĩ quan Mỹ (trong bài viết) như lời kể của văn nô Phạm Xưởng coi như quá siêu về khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ Việt (miền Bắc vùng tỉnh Hải Dương). Tạm coi như là có một gã sĩ quan Mỹ giỏi tiếng Việt Nam đi nhưng đọc tiếp bài ta lại thấy có những cái lấn cấn: Công việc của sĩ quan Mỹ là điều tra tù binh thì trọng tâm là hỏi cung về các chuyện khác như quân số, vũ khí, lương thảo của địch chứ. Cớ gì tay sĩ quan Mỹ này lại để ý đến cái tên quê quán của một tù binh? Rồi. Với cán bộ gái đi cùng thì ả bị tra tấn (ngay trong đêm) cho đến chết, còn y (Trần Huy Mộc) chỉ bị tay sĩ quan Mỹ dùng dao rạch một đường dài 20cm ở bụng do nguyên cớ vì tức tối cái tên quê quán Nguyên Giáp mà gã đã cung khai. Mà gã khai báo thật chứ đâu có dấu diếm gì! Sau khi bị rạch dao ở bụng, gã cán Trần Huy Mộc được các quân nhân (lính miền Nam VNCH có mặt tại đó) đưa đi cấp cứu thì văn nô Phạm Xưởng không cho biết thêm các diễn tiến kế tiếp (gã có cung khai hết cho kẻ địch biết không)? Đọc bài viết, ta thấy chi tiết quan trọng có thể chứng minh cho câu chuyện vừa kể có khả tín hay không là vết sẹo ở bụng của gã cán Trần Huy Mộc thì không thấy văn nô Phạm Xưởng chứng minh trong bài viết (như vậy chắc là không có vết sẹo đó). Chỉ duy nhất có hình gã cán Mộc đang thắp hương (ở trong nhà hay nơi nào đó để xám hối về những năm tháng tin lời CS vào xâm lăng miền Nam VNCH đã làm chết bao nạn nhân miền Nam vô tội ?) mà trong bài nói là thắp hương cho đồng đội và còn thòng thêm câu: ” hay gọi tên đồng đội giữa lúc ngủ mê man”.

Thêm vào đó, một đoạn ngắn trong bài 2 chữ: cướp nước được lập đi lập lại tới 3 lần. Quân Đội Nhân Dân trong thời gian vừa qua đã bị người dân trong nước đặt câu hỏi sẽ làm cái gì nếu Đảng Cộng Sản VN cứ thờ ơ để mặc cho bọn Tàu Cộng lấn chiếm, cướp đất đai nước Việt. Vì tiêu chí đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Trung với Đảng Cộng Sản … chứ không phải Trung với Tổ Quốc Việt Nam.

vngiap

Hình tướng Võ Nguyên Giáp chụp năm 1979

Chiến tranh giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã chấm dứt từ hơn 30 năm rồi. Ai cũng rõ nguyên do từ đâu mà có cuộc chiến tranh nầy. Nhiều cựu bộ đội CS Bắc Việt cũng như Việt Cộng miền Nam đã biết các dối trá của đảng Cộng Sản VN và đã hổ thẹn về những đóng góp của họ trong cuộc chiến vô nghĩa đó. Vậy mà vẫn còn những bài báo dởm, lên dây cót tinh thần cán binh Cộng Sản (cựu và tân binh) như kiểu bài viết có tên: Dù chết không đổi tên quê của gã văn nô Phạm Xưởng nầy.

http://baoin.qdnd.vn/

Link của bài viết.

Tựa bài viết nghe cũng hùng tráng đấy chứ nhưng liệu mai nầy, nếu có lệnh của đàn anh Tàu Khựa phải đổi tên nước (không còn là Việt Nam nữa), liệu các tay đầu lãnh CS Hà Nội có dám cãi lời hay không?

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Jan 10, 2009.
(còn tiếp)


7/. Một Người Đánh Bốn Hướng.

Trên tờ báo QĐND số ngày thứ Bẩy ngày 10 tháng 1 năm 2009 có bài viết của gã văn nô Phan Thanh Quang nói về chiến công của một người (tên trong bài là đồng chí Trọt) đã bức hàng nguyên cả một đồn lính Pháp bằng mưu của y như sau:

… xin trích …

” Những năm thực dân Pháp chiếm đóng nước ta, bốt Yên (xã Quang Phục, Tứ Kỳ, Hải Dương) là nơi kiên cố. Đã mấy lần du kích ta tiến đánh mà không được.

Sau nhiều lần thăm dò quân địch, biết được cách bố trí trong bốt, một mình đồng chí Trọt du kích xã Quang Phục đã quyết định tấn công bốt Yên. Đồng chí Trọt đã không bàn kế hoạch chiến đấu với toàn đội vì sợ sẽ làm lộ mất ý định. Ông đã lấy bốn khẩu súng, một khẩu ông dùng và ba khẩu còn lại ông buộc cố định ở ba hướng khác nhau, nòng súng hướng về bốt. Ông Trọt mưu trí buộc dây vào cò súng, sau đó ông nối các dây đó lại với nhau sao cho ở một vị trí mà ông có thể sử dụng được cả ba khẩu súng. Bố trí xong xuôi, ông quyết định tấn công địch theo hướng chính đã chọn. Bị tấn công bất ngờ, quân địch vô cùng hoảng loạn. Chúng thấy bốn hướng đều có tiếng súng nổ, không biết hướng nào là hướng chủ yếu. Chúng dùng súng phóng lựu bắn về cả bốn hướng, mục tiêu trúng mà súng vẫn nổ. Hoảng hốt vì tưởng bị bao vây bốn phía, quân địch đã kéo cờ ra hàng. Đúng lúc này đội du kích của địa phương kịp tới phụ giúp ông. Bốt Yên bị triệt hạ mà không mất một giọt máu nào. Khi anh em trong đội hỏi sao ông liều thế. Ông cười: ” Tại tớ tức bọn chúng quá! Cũng may là chúng hàng sớm. Nếu chậm một lúc nữa ba khẩu súng kia hết đạn, chắc là tớ ” toi ” rồi “. Cả đội du kích cười hoan hỉ… ”

… hết trích.

1danh4huong

http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.quocphong.nghethuatquansu.50004.qdnd

Đường link của bài viết.

Một đồn lính mà là một đồn kiên cố như bốt Yên trong bài viết thì phải rộng, vững chắc và lính đồn trú cấp số ít nhất phải từ một trung đội trở lên (trên dưới 50 người). Du kích địa phương đã tiến đánh mấy lần mà không được. Gã đồng chí Trọt nầy chỉ lấy bốn cây súng (không nói rõ là súng loại gì? Chắc chắn không phải là đại liên, trung liên rồi (vì cột dây vào cò súng chỉ giật là nổ) mà thời Pháp thì vũ khí cá nhân thường chỉ có Thompson, Carbin, Garant M1 hoặc súng tiểu liên Stern của Đức Quốc Xã mà thôi). Súng mỗi khẩu tối đa có 30 viên đạn. Bố trí theo lời kể ở bốn phía và dùng một sợi dây để điều khiển thêm ba khẩu kia rồi gã đồng chí nầy cho … khạc đạn cùng một lúc. Kết quả là: ” Bọn giặc trong đồn Pháp hoảng loạn vì tưởng bị bao vây bốn phía, đã kéo cờ ra hàng “. Một sợi dây cột vào cò súng cách nào để gã Trọt có thể ngồi ở một chỗ mà điều khiển được cho cả ba cây súng (ở khác hướng) nổ cùng một lúc? Thêm nữa, khi đồng chí Trọt nầy buộc dây vào cò súng (cách đồn bao xa) rồi nối dây lại với nhau, mà không bị lính canh trong đồn phát giác? Chắc bọn lính gác đồn đi ngủ hết rồi?

Chúng ta biết là bất cứ người lính đồn trú nào cũng đã biết nhiệm vụ trấn đồn nên khi nghe súng nổ họ đâu có sợ chiến đấu. Họ có súng trong tay và thêm các công sự bảo vệ (lô cốt, hầm ngầm) nên lúc nào cũng trong tinh thần chờ địch đến để họ bắn. Vậy mà khi nghe súng của đồng chí Trọt nổ (một cây súng với cơ số đạn cố định thì thời gian súng khai hoả đâu có lâu), lính trong đồn dù đã dùng súng phóng lựu bắn đáp trả (đã trúng mục tiêu mà súng vẫn nổ, thế mới tài tình). Rồi sau đó vì hốt hoảng, tưởng đồn bị bao vây (gã Trọt nầy thêm một cái tài là biết được ý tưởng trong đầu giặc Pháp), nên cả đồn phải kéo cờ trắng ra hàng.

Du kích đánh bốt Yên nầy mấy lần mà không thành mà nay chỉ có một thân một mình gã đồng chí Trọn nầy lấy gọn ơ (gã dấu kín không bàn kế hoạch với các đồng chí khác vậy mà các đồng chí vẫn biết nên kéo tới phụ giúp một tay sau khi lính Pháp đã kéo cờ ra hàng). Tài tình quá đi chứ!

MotdonlinhnghiaquanVNCH

Một đồn lính của nghĩa quân miền Nam VNCH kiên cố. Bốt Yên trong bài viết cỡ đồn nầy.

Đám văn nô Cộng Sản VN cứ vẫn cái màn viết láo lếu, kinh điển không bỏ được. Hễ bên phe (đồng chí ta) thì lúc nào cũng gan dạ, mưu trí đầy mình. Còn bên phe địch (từ giặc Pháp đến thời chiến tranh hai miền Nam-Bắc rồi sau nầy là các người trong nước chống đối lại bọn chúng) thì đều thuần ngu, hèn và nhút nhát cả.

Đánh bốt Yên như trong bài viết nầy ngon lành, dễ dàng như vậy sao mà không thấy Quân Ủy của đảng Cộng Sản VN phổ biến thêm ra trong các trận đánh đồn tại chiến trường ở toàn miền Nam VNCH. Nói trắng là sao không thấy áp dụng như trong các trận tập kích vào các đồn bót trước đây ở Điện Biên Phủ hoặc trong các đồn, căn cứ tại vùng Hạ Lào, Khe Sanh và sau nầy là Tống Lê Chân của quân đội miền Nam VNCH … cho đỡ tốn sinh mạng của các bộ đội của đồng chí Bác? Vì, nếu thực sự có chuyện đánh đồn gọn, ngon lành như vậy thì cái gọi là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chỉ cần có khoảng một trung đội đồng chí cỡ như đồng chí Trọn trong bài nầy thôi là sẽ đánh tan giặc Pháp nhanh chóng và nhất là chiếm được miền Nam VNCH sớm hơn (không phải kéo dài đến 20 năm trời). Và sẽ không phải bỏ mạng trên dưới 3 triệu nam-nữ, già-trẻ bộ đội sinh Bắc tử Nam.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Jan 15, 2009.
(còn tiếp)


8/. Để “Truyền Lửa Cho Thế Hệ Sau”.

Thời gian gần đây trong nước Việt, Ban Văn Hóa Đảng Ủy Cộng Sản VN cổ xúy cái gọi là vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Gã văn nô tên Đỗ Phú Nhuận vội gửi bài viết tham dự có tựa là: Ông Lưu Bảo Tàng (Báo Quân Đội Nhân Dân trang 3 số 17151 ra ngày 16-01-2009) viết về một tay cựu bộ đội tên Vũ Đình Lưu đi thu gom (cả thu mua nữa) từ khắp Nam chí Bắc những thứ mà y gọi là kỷ vật thời chiến tranh như: ca nhôm đựng nước, xẻng đào công sự, mũ sắt, khăn rằn, quần dính máu lính … để dựng một cái gọi là bảo tàng chứng tích chiến tranh, giữ gìn lâu dài những kỷ vật để xứng đáng với sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí, đồng đội và quan trọng nhất như y nói: ” Để truyền lửa ” cho thế hệ sau “.

Chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam-Bắc đã lùi xa hơn 30 năm rồi và hầu như ai cũng biết phía Cộng Sản Bắc Việt chính là phe gây ra cuộc chiến tranh (kể cả cuộc chiến tranh thời 9 năm 1945-1954 giữa hai bên Việt-Pháp) mà có thể đã tránh được trong hoà bình. Không có chiến tranh sẽ không có cảnh người chết, gia đình ly tán. Đọc các trang báo trong nước hiện nay, hầu như ai cũng thấy chỉ có những tờ báo của công an, bộ đội là còn duy trì những bài viết kể lể về những chiến công, nhắc nhở (đừng quên) các vụ đặt mìn, pháo kích, giật cầu, ám sát giết dân lành vô tội miền Nam VNCH của bộ đội, du kích năm xưa (mà đám văn nô trong nước gọi là các kỳ tích). Lén lút kéo quân vào xâm lăng đất-nhà người miền Nam VNCH. Gây hấn chiến tranh rồi bị thương vong chết người, đó là quả báo. Nhiều cựu bộ đội, du kích năm xưa nay đã tỉnh ngộ khi biết việc mình (hồi đó) tiếp tay cho bọn Cộng Sản vô luân là làm cho đất nước Việt ngày nay băng hoại phong hóa (con giết cha rồi chặt xác phi tang, mẹ bán con gái ruột vào động chứa, học trò đánh thầy-cô giáo, thầy giáo gạ tình với nữ sinh …), dân càng ngày càng nghèo hơn đến phải ra nước người lao động chết bỏ trong các việc mà dân xứ đó chê (nếu là nam giới) hoặc làm người ở, làm gái điếm (nếu là nữ giới). Đây là những người biết xám hối, đáng khen nhưng cạnh đó vẫn còn những người khác (như gã Vũ Đình Lưu nầy) đi thu gom những tàn tích của vụ xâm lăng chết chóc trong cuộc chiến vô nghĩa năm xưa đó để (theo lời gã) tính chuyện truyền đời cho thế hệ sau được biết.

http://baoin.qdnd.vn/

Link của bài viết.

vudinhluu

(Vu dinh Luu)

Thực ra, việc của Vũ Đình Lưu làm đã được văn nô Đỗ Phú Nhuận viết bài để gửi tham dự cuộc thi (gọi là những tấm gương bình dị mà cao quý) trong cuộc vận động người dân trong nước học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh mà là người có tấm gương đạo đức à? Có thật không vậy với những bằng chứng (mà Đảng Cộng Sản VN không thể chối cãi được đành chỉ câm họng, giả tảng không biết) về đồng chí Bác trong các khám phá (của các sử gia và người thân cận gần đồng chí Bác) tiết lộ gần đây.

Trước kia (khi khối Đông Âu và Liên Xô vừa vất bỏ chủ nghĩa Cộng Sản vào sọt rác lịch sử) thì đám đồng chí Trung Ương Đảng Cộng Sản VN (hoảng hốt vì ý thức hệ Cộng Sản bị tan vỡ) vội đánh trống khua chiêng kêu gọi đảng viên và quần chúng trong nước học tập cái gọi là: Tư Tưởng Hồ Chí Minh mà ta biết chính đồng chí Bác đã từng nói câu: Tôi chẳng có tư tưởng gì sất, mọi chuyện đã có tư tưởng của Mác-Lê Nin rồi. Sau đó thấy đưa cây bài tư tưởng (của một người đã nhận mình không hề có và vì thực tế người đó không đưa ra được một hệ thống tư duy để được thiên hạ coi là một nhà tư tưởng, một lý thuyết gia) của đồng chí Bác ra (để có cái mà đảng và nhà nước Cộng Sản VN bám víu, thay thế … như người sắp chế đuối bám được cái phao nổi) không ăn ảnh với người dân Việt. Nên bây giờ (đám đồng chí Trung Ương Đảng) mới đổi thành tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để bắt người dân học tập, làm theo. Con người đồng chí Bác thực sự có đạo đức hay không thì ta chỉ cần xét vài hành động trong vô số vụ việc mà đồng chí Bác đã vi phạm đạo đức của con người:

– Đồng chí Bác tự mình sáng chế ra cái tên Trần Dân Tiên để viết sách tự đề cao mình.

– Đồng chí Bác đã ngoảnh mặt làm ngơ khi nạn nhân (bà Cát Hanh Long, khuê danh Nguyễn Thị Năm, người tỉnh Thái Nguyên) chạy đến cầu cứu (trong thời gian có vụ cải cách ruộng đất ngoài miền Bắc từ 1949 đến 1956). Đồng chí Bác (và cả bộ sậu đầu lãnh đảng Cộng sản VN từ Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng …) đã để cho người phụ nữ nầy bị đấu tố và bị giết chết thảm thương. Bà Cát Hanh Long nầy đã từng che chở, nuôi ăn ngon đồng chí Bác và các gã lãnh tụ đảng Lao Động (tên cũ của Đảng Cộng Sản VN) kể trên trong thời kỳ cái đảng nầy còn hoạt động bí mật (chưa thành công). Khi đảng này thành công thì bà Cát Hanh Long nầy cùng nhiều người có công với đảng (thời còn hoạt động lén lút) phải thành … Ma.

– Khi từ chiến khu về Hà Nội (1945), dù mới chỉ có 55 tuổi mà đồng chí Bác vẫn thản nhiên xưng vai Bác với những cụ già cao tuổi gần đất xa trời. Ngay cả những tay chân thân cận như đồng chí Tôn Đức Thắng lớn hơn đồng chí Bác 2 tuổi (sinh ngày 20-8-1988), khi bạn Thắng gọi bằng Bác xưng Con mà đồng chí Bác vẫn để yên cho cái lối xưng hô như vậy.

Còn nhiều chuyện về đạo đức của đồng chí Bác mà tác giả bài viết nầy không kể nữa vì chuyện đã cũ mèm (ai cũng biết cả rồi, khổ lắm nói mãi) chỉ có bọn Cộng Sản VN cuồng tín là giả điếc, giả mù không biết mà thôi. Trong nước đã có người nói nếu mà tất cả người dân Việt bắt chước tấm gương đạo đức của đồng chí Bác (tức là làm theo y như vậy) thì không biết cái xã hội ở nước Việt Nam nó còn đi xuống đến tầng sa đoạ, địa ngục thứ mấy nữa dù thực tế bây giờ trong xã hội Việt Nam, nếp sống của con người đã đảo lộn quá sức (có người nói là gần như đã hết thuốc chữa).

Nhiều người hoài cổ mong xã hội miền Bắc được sống lại như thời trước Cách Mạng Tháng Tám. Khổ thay, đây lại là thời của bọn Thực Dân Pháp đè đầu cưỡi cổ. Có người thì lại ao ước được sống trong thời miền Nam VNCH (tức trước ngày 30-4-1975). Đây cũng là giai đoạn mà bọn Ngụy cai trị (nói theo kiểu của đám văn nô trong nước). Không lẽ xã hội mà người dân sống trong các thời đại kể trên lại tốt hơn, ngon lành hơn so với xã hội nước Việt Nam bây giờ?

Trở lại bài viết của văn nô Đỗ Phú Nhuận. Gã viết là có các khách du lịch Tây ba lô lùng sục tới các làng mạc xa xôi, xỉa hàng xấp đô la để mua lại nhiều hiện vật quý. Gã không nói rõ hiện vật quý đó là cái gì? Ngầm để độc giả hiểu là: Hiện vật cách mạng, hiện vật của đám bộ đội, du kích bỏ xác năm xưa. Gã dẫn câu chuyện là Vũ Đình Lưu … ” khi lang thang ở chợ Đông Hà, thấy bán một cái xẻng của lính bộ binh Mỹ, nhưng có giá tới hàng trăm Đô La, ông ngắm nghía một lúc rồi đành nuối tiếc bỏ đi. Khi biết được ý định tốt đẹp của ông, người chủ ki-ốt vui vẻ nhượng lại chiếc xẻng ấy với giá 150.000 đồng “.

Hàng trăm Đô La là phải từ con số 300, 400 trở lên. Một hiện vật thời chiến tranh là cái xẻng lính Mỹ cũ mèm mà còn có giá như vậy thì các hiện vật của các đồng chí bộ đội, du kích, dân công ta còn cao giá tới đâu! Ý của văn nô Đỗ Phú Nhuận là các hiện vật cách mạng mà tay Vũ Đình Lưu thu gom là vô giá đó nha quý độc giả.

Vô giá là không thể định giá được nhưng đôi khi nó cũng mang nghĩa là: Không Có Giá Trị Gì Cả.

Cái xẻng lính Mỹ (trong tấm hình kèm theo đây) hiện nay ở miền Nam VN còn thấy khá nhiều. Gọi là xẻng nhưng thực ra nó có một cái chốt ở cán để người lính chiến có thể làm thành cuốc hay xẻng tùy ý khi dùng (đào, đắp hầm cá nhân trong vùng chiến tranh). Hầu như trong các gia đình người thuộc chế độ miền Nam VNCH nào cũng đều có cái xẻng (mà người ta gọi là xẻng cá nhân) nầy. Giá trị của nó không cao. Trên trang bán hàng điện tử Ebay, ta thấy có người kêu giá nó chỉ là 3 US Đô La. Vậy mà người chủ bán cái xẻng đó ở chợ Đông Hà hét giá cao quá sức (tới hàng trăm Đô La như trong bài viết). Có thật như vậy không hay là chính gã văn nô Đỗ Phú Nhuận đã nổ (tức nói xạo), đã cường điệu (tức nói quá)? Thực ra thì không có ai bị đánh thuế về cái vụ nói phét nói láo, nước nào cũng vậy. Tha hồ mà nổ cho vui.

linhmyludoan173du

(Linh My lu doan 173 du)

Hình một cái xẻng của bộ binh Mỹ như trong bài viết của gã văn nô Đỗ Phú Nhuận.

Khi các nước CS Đông Âu và Liên Xô còn tồn tại, cũng từng có thời kỳ bọn cầm quyền phát động các chiến dịch bắt người dân đi thu gom các thứ hiện vật cách mạng để bỏ vào các căn nhà to đùng có cái tên là viện, bảo tàng, nhà nhắc nhở, nhà chứng tích … (như kiểu mà gã cựu bộ đội Vũ Đình Lưu từng làm). Thu gom rồi bắt người dân vào xem để rồi khi người dân ở các nước đó lật đổ được chế độ CS, họ đã vất gọn chúng trong các thùng rác hoặc trong các lò nấu kim loại.

Ở đời, theo quy luật của lịch sử thì hễ một chuyện gì đã xẩy ra ở nơi kia thì chắc chắn, chuyện như thế cũng sẽ xẩy ra ở nơi nầy trong lúc một nào đó. Chỉ chưa biết rõ thời gian thôi. Cứ gom đi, gom cho nhiều các hiện vật kiểu nồi thủng, giế rách, chổi cùn, ve chai, lông vịt … đi nha đồng chí Vũ Đình Lưu. Để rồi ngày nào đó người dân Việt sẽ ùa vào và làm gọn một chuyến (có thể chỉ cần một mồi lửa là xong).

hinhVuDinhLuu

Gã Vũ Đình Lưu.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Jan 19, 2009
(còn tiếp)


9/.Bài Diễn Văn Của Tân Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Barack Obama.

Ngay khi hệ thống truyền hình Mỹ và truyền thông quốc tế (Reuters, AP, BBC, VOA…) loan tin (trực tiếp) về bài diễn văn của ông Barrack Obama trong buổi lễ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ thì các ngày hôm sau, báo chí trong nước Việt đã có các bài viết về bài diễn văn nầy. Các trang 8, 7 của báo Quân Đội Nhân Dân số 17157 số ra ngày 22 tháng 1 năm 2009 có bài viết của tay Bảo Trung (Lời tuyên thệ trong dông bão) bình luận về bài diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Hoa Kỳ Barrack Obama. Cũng vẫn luận điệu cũ rích thù địch khi nhìn vào các chính khách Hoa Kỳ, gã văn nô Bảo Trung nầy đã mổ xẻ bài diễn văn theo cách: Một nước Mỹ ảm đạm (Tân tổng thống Mỹ cũng thừa nhận hàng loạt khó khăn mà người dân Mỹ đang phải đối mặt), mất uy tín (hình ảnh của nước Mỹ ngày một bị bào mòn khủng khiếp với những nhiệm vụ ” không biết bao giờ mới hoàn thành ” ở Áp-ga-ni-stan và I-rắc) và vô cảm (thoái thác trách nhiệm trước những nghĩa vụ toàn cầu)… Để rồi, với cách ám chỉ: Nguyên nhân của tình trạng nầy được chính ông Obama nêu rõ: ” Một hậu quả của sự tham lam và vô trách nhiệm của một số đối tượng, nhưng cũng là thất bại của toàn thể chúng ta trong việc đưa ra những quyết định khó khăn và chuẩn bị cho đất nước bước vào một thời kỳ mới “.

http://baoin.qdnd.vn/

Đường link của bài viết.

obamaspeech

(Obama speech)

Đình Chính, cây viết của báo VNExpress thì cho là: Ông (Barack Obama) tuyên bố ” bắt đầu làm lại nước Mỹ ” và nhắc đến những thách thức gay gắt hiện nay, đòi hỏi phải có ” một kỷ nguyên mới về trách nhiệm ” để có thể vượt qua. Tờ báo nầy cũng như tờ Quân Đội Nhân Dân trên đây còn bỏ hẳn hàng chữ ” chủ nghĩa cộng sản ” và lờ đi địa danh Khe Sanh của miền Nam VNCH (Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg, Normandy và Khe Sanh).

http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/2009/01/3BA0AA44/

Có 2 đoạn mà ông Barrack Obama nói về các quốc gia Hồi Giáo và các nước nghèo thì các văn nô chỉ nhắc những đoạn có lợi (theo suy diễn kiểu lý luận Trung Ương Đảng Cộng Sản VN) hay nói chung chung như: ” Chúng tôi (Hoa Kỳ)đang tìm kiếm một hướng đi mới tới phía trước, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau “. Ông (Obama) cũng cam kết sẽ tích cực trợ giúp các nước nghèo để có ” những mùa màng bội thu ” mà cố tình lờ đi các đoạn: Đối với các nhà lãnh đạo đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây gây ra những tệ nạn trong xã hội của họ – quý vị hãy hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây chứ không phải những gì quý vị phá. Đối với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng tiếng nói đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lịch sử, nhưng chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu quý vị biết từ bỏ nắm đấm…Đối với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng quý vị để giúp các trang trại xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những sinh linh đói khát. Và đối với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài biên giới, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm gì tới những ảnh hưởng kéo theo. Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.*

(To the Muslim world, we seek a new way forward, based on mutual interest and mutual respect. To those leaders around the globe who seek to sow conflict, or blame their society’s ills on the West — know that your people will judge you on what you can build, not what you destroy. To those who cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent, know that you are on the wrong side of history; but that we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.

To the people of poor nations, we pledge to work alongside you to make your farms flourish and let clean waters flow; to nourish starved bodies and feed hungry minds. And to those nations like ours that enjoy relative plenty, we say we can no longer afford indifference to the suffering outside our borders; nor can we consume the world’s resources without regard to effect. For the world has changed, and we must change with it).

Cũng không thấy hàng chữ: Thượng Đế trao cho mọi người đều bình đẳng, mọi người đều tự do, đều xứng đáng có cơ hội mưu cầu hạnh phúc đầy đủ (the God-given promise that all are equal, all are free and all deserve a chance to pursue their full measure of happiness).

BarackObama

(Barack Obama)

ờ đi địa danh Khe Sanh (trong cuộc chiến tranh 2 miền Nam-Bắc VN trước đây) vì đám văn nô trong nước biết là khi ông Barrack Obama nêu tên trận Khe Sanh để so sánh với các trận đánh lịch sử kể trên thì ông vinh danh những binh lính và sĩ quan Mỹ đã hy sinh trong cả cuộc chiến tại miền Nam VNCH. Một cuộc chiến tranh mà người Mỹ đã tham dự và đã hy sinh (trên 58 ngàn chiến binh mà trong số họ có 5 sĩ quan cấp tướng) vì những lý tưởng cao cả, y như cha anh họ đã hy sinh ở các chiến trường Concord; Gettysburg; Normandy. Khi vinh danh những quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh ở chiến trường Khe Sanh trong cuộc chiến Việt Nam, có nghĩa là ông Barack Obama đã thừa nhận tính chính đáng tự vệ của quân dân miền Nam VNCH (có sự trợ giúp của quân đội Hoa Kỳ và các nước đồng minh Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Phi, Thái Lan) trước làn sóng đỏ xâm lăng của CS Bắc Việt.

Không dám nhắc đoạn: Mọi người đều bình đẳng, mọi người đều tự do, đều xứng đáng có cơ hội mưu cầu hạnh phúc…mà thực sự người Việt trong nước đã nghe thấy câu nầy trong cái gọi là Tuyên Ngôn Độc Lập của đồng chí Bác từ tháng 9 năm 1945 (thực ra đồng chí Bác thuổng câu này từ Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và từ Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791). Đám văn nô trong nước biết rõ là (thực sự từ năm đó 1945 đến nay) ở trong nước Việt, những quyền như: Bình Đẳng, Tự Do, Mưu Cầu Hạnh Phúc đã được bọn đầu lãnh CS Hà Nội (đầy tớ của nhân dân dân) đem … khóa chặt, cất kỹ trong kho rồi. Nhắc lại, sợ rằng người dân trong nước biết: Không hề có những thứ quyền nầy trong đời thường hàng ngày tại Việt Nam mà lẽ ra họ (chủ nhân của đất nước) phải được hưởng.

BarackObamapahbieu

(Barack Obama phat bieu)

Tờ Tuổi Trẻ (do văn nô T-Mai Kinh Luân viết) tuy đăng gần hết bản diễn văn (là tờ báo được coi là … thoáng nhất trong nước) nhưng cũng không thấy có các hàng chữ ” chủ nghĩa cộng sản ” (Communism) và thay câu: ” bịt miệng tiếng nói đối lập ” thành ” im lặng trong bất đồng ý kiến ” và bài viết cũng lờ đi địa danh Khe Sanh.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=298701&ChannelID=2

Ở các tờ báo khác thì chỉ đơn giản đăng bài diễn văn của ông Barack Obama (sau khi đã bị cắt đầu, cắt đuôi) làm gọn lỏn kiểu: ” Trong bài diễn văn ngay sau lễ nhậm chức tại Đồi Capitol ngày 20/1, tân Tổng thống Mỹ Barack Obama đã cam kết giúp đỡ các nước nghèo đồng thời kêu gọi các nước giàu chấm dứt tình trạng ” thờ ơ ” của mình.

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=99626

Hoặc: ” Trong bài phát biểu đầy xúc động này, tân Tổng Thống Hoa Kỳ đã có những đánh giá về việc nước Mỹ đang đứng ở đâu đồng thời nói về một tương lai đầy hứa hẹn cho đất nước đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế hết sức trầm trọng và mắc kẹt trong 2 cuộc chiến tranh chưa có lối thoát ở nước ngoài “.

http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=154656&CatId=10

Có báo thì làm như không hề có bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ của ông Barack Obama ở trên đời (trong mục tin tức thế giới).

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

* nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2009/01/090120_obama_speech.shtml

Phạm thắng Vũ
Jan 22, 2009
(còn tiếp)


10/. Có Lỗi Với Nhân Dân.

Ngày đầu năm Âm lịch (Tết ta) ai cũng nhớ đến tổ tiên ông bà. Nhang đèn nghi ngút cháy trên bàn thờ trong gia đình là một chút lòng của con cháu đối với tiền nhân. Đó là chuyện hiếu đễ thường tình nhưng có những gã lại nghĩ đến người khác thay vì tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên mình.

Trong mục Xã Hội của trang báo VNExpress số ra ngày 28-1-2009 (mùng 3 Tết Kỷ Sửu) có bài viết về một tay phó nháy (thợ chụp ảnh) tên Trần Thanh Xuân kể về những tình cảm của riêng y với ông già xứ Nghệ (đồng chí Bác).

… xin trích …

” Ngày đầu năm mới Kỷ Sửu, nhớ Bác Hồ, ông Xuân lại đưa hình, ảnh những giây phút cuối cùng của Bác do chính ông ghi và lưu giữ 40 năm nay ra xem, rưng rưng hồi tưởng lại những giây phút thiêng liêng ấy.

Hơn 30 năm cầm máy, làm hàng chục bộ phim quý, nhưng ông không thể nào quên được khoảnh khắc này. Bác nằm đó, bình thản lạ kỳ. Ông cùng với nhà quay phim Trần Anh Trà nước mắt cứ giàn giụa ướt nhòe cả thước ngắm của máy quay.

“Trong giây phút đó, tôi chỉ biết để ống kính góc rộng, điều chỉnh góc độ phù hợp và cứ thế bấm máy liên tục, bỏ sót một hình ảnh nào là có lỗi với nhân dân”, ông Xuân nói”.

… hết trích.

http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/01/3BA0AC84/

Đường link của bài viết.

Bọn đầu lãnh CS Hà Nội và đám văn nô trong nước (như bài viết về gã phó nháy nầy) chuyên dùng nhóm chữ: Có tội (hay có lỗi) với nhân dân hoặc có tội với lịch sử, có tội với tổ quốc trong các bài viết, diễn văn của chúng. Ta vẫn thường nghe như sau:

– Ngày 16 tháng 3 năm 1975 lúc 21 giờ, khi nghe tin quân đội miền Nam VNCH bất ngờ triệt thoái từ Pleiku về Tuy Hoà bằng tỉnh lộ 7B. Gã tướng CS Bắc Việt xâm lược Văn Tiến Dũng đã lồng lộn nói với tay Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Đoàn 320 CS Bắc Việt: ” Đó là một thiếu sót, một sơ hở đáng khiển trách. Nếu để địch (tức quân-dân miền Nam VNCH) chạy thoát là một tội lớn với lịch sử mà đồng chí là người chịu trách nhiệm* “. Nghe vậy, gã tướng CS Bắc Việt tên Kim Tuấn nầy (cũng sợ có tội lớn với lịch sử) nên đã vội ra lệnh cho cán binh CS Bắc Việt dưới quyền nã pháo (pháo 130 ly, Cối 82 ly …) tàn sát không nương tay với dòng người dân lành vô tội đang di tản chiến tranh trên con đường hoang phế đã bỏ từ lâu nầy.

– Giải phóng tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng ngày 29-3-1975 cán bộ và chiến sĩ binh đoàn chúng tôi chẳng người nào muốn nghỉ ngơi. Dù không nói ra nhưng họ (cán binh CS Bắc Việt) hiểu nếu ” xả hơi ” lúc nầy là có tội với Tổ Quốc.*

Ta thấy bài báo viết tiếp:

” Hơn 30 năm cầm máy, làm hàng chục bộ phim quý, nhưng ông không thể nào quên được khoảnh khắc này. Bác nằm đó, bình thản lạ kỳ. Ông cùng với nhà quay phim Trần Anh Trà nước mắt cứ giàn giụa ướt nhòe cả thước ngắm của máy quay”.

Người nào khi chết mà không … bình thản lạ kỳ (còn linh hồn, sinh khí đâu nữa mà cục cựa), thì đồng chí Bác cũng vậy, có gì mà lạ. Viết như vậy mà cũng viết! Hay là đám đầu lãnh CS Hà Nội khi còn sống (có bộ mặt) quen cái thói bình thản lạ kỳ trước các nỗi thống khổ của con dân nước Việt nên gã Trần Thanh Xuân thấy đồng chí Bác cũng … vô hồn kỳ lạ như vậy? Chỉ có lạ là các gã thợ nháy nầy khóc lóc cái nỗi gì mà nước mắt ướt nhoè cả thước ngắm của máy quay (nước mắt ở đâu ra mà nhiều dữ vậy?).

Rồi:

” Ngày 2/9/1969, ông Xuân cùng với nhà quay phim Trần Anh Trà được giao trọng trách quay những thước phim lúc Bác ra đi (tức là đồng chí Bác đi buôn muối, gặp các cụ Các Mác, Lê Nin đó). Năm 1990, tức 20 năm sau, những thước phim quí giá ấy của ông Xuân và ông Trà được đại tá Phạm Quốc Sinh phối hợp với ông Vũ Kỳ cho công bố đầy đủ trong bộ phim ” Những giây phút cuối cùng của Bác Hồ “.

NhobacHo

(Nho bac Ho)

Quay phim từ mãi năm 1969 mà để đến tận năm 1990 (khi đồng chí Bác đã đi gặp các tay tổ CS Các Mác-Lê Nin tới cả hơn 20 năm rồi) mới công bố cho bàn dân thiên hạ được biết. Tại sao để lâu quá vậy? Tuy tay văn nô trong bài (trích từ báo Pháp Luật TP HCM) không nói ra nhưng ai cũng biết là năm 1990 thì các gã đầu lãnh CS Hà Nội như Lê Duẩn (anh Ba) đã chết (10-07-1986), Sáu Búa (Lê Đức Thọ) không còn quyền thế gì nữa. Hai tay trùm CS Hà Nội nầy khi còn chức quyền đã coi ông già xứ Nghệ không là cái đinh gì sất (vì ở gần, gặp mặt nhau hàng ngày nên biết tẩy của nhau quá rõ) dù ở bên ngoài thì lúc nào tay gã Duẩn, Thọ cũng tỏ vẻ coi trọng đồng chí Bác là … vô vàn kính yêu.

Một bằng chứng cho thấy người dân Việt Nam có kính trọng đồng chí Bác thực sự hay không thì ta cứ xét các việc sau:

– Cái gọi là Lăng đồng chí Bác tại khu vực Ba Đình-Hà Nội, ai muốn vào viếng Bác (thực ra là xem xác khô tẩm thuốc của đồng chí Bác mà gần đây có dư luận cho là một cái body làm bằng nhựa (plastic) vì body nầy phản chiếu ánh sáng đèn điện chiếu vào. Xác ướp người thật thì không có vụ phản chiếu ánh sáng như vậy) đều không phải mua vé vào cửa nhưng lâu lâu, cái gọi là Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng phải khuyến mãi bằng cách tặng không cho người chịu đứng xếp hàng vào xem một ổ bánh mì (thì mới có khách chịu vào viếng … xác).

– Dinh Độc Lập của chính quyền miền Nam VNCH (nay bọn CS Hà Nội đổi tên mới là Dinh Thống Nhất thay cho cái tên cũ Độc Lập. Không hiểu sao bọn CS Hà Nội lại cứ sợ 2 chữ Độc Lập hay chúng đòi chỉ mình chúng mới được quyết định có cho hiện hữu Độc Lập hay không Độc Lập?) mỗi lần mở cửa là đầy nghẹt người đứng xếp hàng rồng-rắn vào xem (thực sự là xem chỗ ăn-ở-ngủ năm xưa của Tổng Thống miền Nam VNCH Nguyễn Văn Thiệu). Xếp hàng mua vé hẳn hoi chứ không có vụ cho vào xem chùa (như ở Lăng đồng chí Bác đâu nhá) và cũng chẳng khuyến mãi ổ bánh mì nào hết nhưng vẫn đông người (chen chúc xếp hàng chờ tới lượt) mà trong số đó có cả bộ đội, công an, đảng viên CS đó. Thậm chí có luôn các mẹ liệt sĩ hoặc mẹ nuôi giấu cán bộ cùng các dũng sĩ diệt Mỹ năm xưa nữa.

Dù chính quyền miền Nam VNCH nay đã không còn nhưng người ta vẫn có thể dùng cái Dinh Độc Lập nầy vào các việc khác. Còn cái nhà mồ to đùng ở Ba Đình thì chưa biết sinh lợi cái gì cho đất nước? Hàng năm, nội việc duy trì cảnh quan và trả lương cho đạo quân cấp lữ đoàn (coi sóc cái lăng nầy) rồi đã hết đâu, còn tiền bảo dưỡng xác ướp hóa chất của đồng chí Bác nữa, đã ngốn ngân quỹ cả đống tiền từ tiền đóng thuế của dân Việt trong nước.

Các gã thợ viết trong nước vẫn cứ cái lối viết quanh viết co. Làm cái gì phục vụ cho đảng Cộng Sản VN thì bọn văn nô cũng cố nói là làm cho nhân dân, làm cho Tổ Quốc Việt Nam. Bắt dân Việt ăn mãi bánh vẽ thôi. Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

* Đại Thắng Mùa Xuân, trang 117.

* 30 Tháng 4, trang 34.

Phạm thắng Vũ
Feb 03, 2009.
(còn tiếp)


11/. Giao Liên Tám Trang.

Trên trang báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày thứ Năm 12 tháng 02 năm 2009 trong mục Ký Sự Nhân Vật có bài viết của tay Nguyễn Sỹ Long viết về ” Chiến Công Thầm Lặng ” của một ả (nay đã lên hàng bà ngoại) Việt Cộng tên là Huỳnh Thị Trang tự Tám Trang, ả Việt Cộng Tám Trang nầy khi đó là giao liên Quận Ủy Thanh Khê của Thành Phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1965-1975.

http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.psks.nhanvat.51889.qdnd

Đường link của bài viết.

Theo bài viết (như bài bản muôn đời của đám văn nô Cộng Sản VN) thì Tám Trang đã có sẵn hình ảnh đồng chí Bác trong tim khi ả mới hơn 10 tuổi và khi lớn hơn một chút (13 tuổi) thì ả đã biết hoạt động cho cách mạng (trong nhiệm vụ theo dõi địch). Đọc đến đây ta thấy có các suy nghĩ sau:

– Hình ảnh của cậu bé đuốc sống Lê Văn Tám hay thiếu nhi giao liên Kim Đồng (tuốt ngoài miền Bắc VN) phảng phất ở trong câu chuyện.

– Các chú Tiền, chú Lê (Việt Cộng miền Nam tại địa phương) đã dùng cả con nít (trí óc non nớt của cô) trong các công tác của người lớn. Y chang đám khủng bố Hồi Giáo bên vùng Trung Đông dùng con nít trong các hoạt động gây hấn quân đội Mỹ, Đồng Minh (tại nước Iraq) và quân đội Do Thái (tại vùng dải Gaza).

Nếu chỉ có như vậy không thì tác giả bài viết nầy cũng chẳng thèm viết thêm làm gì nhưng gã văn nô Nguyễn Sỹ Long lại nổ quá sức khi cho ả giao liên nầy làm được các ” chiến công ” như sau:

… Lúc ấy, quận ủy quận nhì yêu cầu Hai Được đi học lái xe để chui vào hàng ngũ của địch. Tám Trang ở nhà nuôi con, nuôi bộ đội và chị còn kiêm luôn nhiệm vụ bảo vệ Bí thư Quận ủy Nguyễn Thanh Năm. Hết thời gian học, Hai Được được tổ chức bố trí lái xe cho Ban công sai của cảnh sát Thanh Khê. Tuy hai người cùng chung trận tuyến nhưng không hề biết nhiệm vụ của nhau. Có hôm, anh dùng xe cảnh sát chở gần 20 bó củi về nhà, trong đó giấu 30 khẩu súng AK. Chị vờ chê củi chưa khô, kéo xuống phơi ngay trước cửa. Tối đến, vợ chồng hì hục khênh vào. Hai Được mới lặng lẽ rút những khẩu súng đưa xuống hầm bí mật.

Một hôm, anh Năm Dừa gặp riêng chị nói: ” Tổ chức giao cho chị nhiệm vụ chuyên chở súng đạn và lương thực về cung cấp cho bộ đội đặc công nằm vùng tại khu vực Thanh Khê. Tôi biết ngoài chị ra không ai có thể làm được. Ý chị thế nào? “. Tám Trang gật đầu quả quyết: ” Tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ “.

Một ngày kia, người đi đường chợt thấy một phụ nữ ăn mặc lịch sự, gánh trên vai mấy bó củi và hai thùng dầu xà lách. Khi qua đồn địch chị bước khoan thai, mỉm cười chào bọn lính. Chúng để chị đi không cần xét hỏi. Tám Trang yên tâm chuyến này chắc thành công dễ dàng. Nhưng khi về gần tới nhà thì một tên lính đi tuần hất hàm hỏi: ” Này bà kia! Gánh cái gì mà nặng dữ vậy? “.

Chị sẽ sàng đặt gánh xuống, từ tốn thưa: ” Dạ! Thưa thầy, tôi lên chợ Ngã Tư mua củi và mấy lít dầu tây. Ông xã tôi theo bà nhỏ đi nhậu xỉn, trúng gió nên tôi mua ít củi về sưởi cho ổng đấy mà “.

– Ông xã bà làm gì mà đổ đốn vậy?

– Dạ, ổng là cảnh sát ở Đà Nẵng đó mấy thầy.

Chị nói như phân bua: ” Mà không biết cảnh sát, lính tráng chi lại say rượu, bồ bịch suốt ngày, rứa thì làm việc ra răng nữa chớ! Nói thật với mấy thầy, tôi mà là thượng cấp thì tôi cho ổng vào tù lâu rồi. Thôi, thầy làm ơn khám lẹ lẹ đi kẻo ổng đợi ở nhà. Thiệt khổ ơi là khổ ” . Nghe vậy, tên lính đi cùng bảo: ” Thôi để bả đi đi. Chồng bả cũng làm việc quốc gia … “. Tám Trang bình tĩnh đặt gánh lên vai, miệng ” cảm ơn mấy thầy ” rồi thong thả bước. Về đến nhà, chị thở phào nhẹ nhõm, lật nắp kéo 4 hòm đạn AK ra khỏi thùng dầu. Những chuyến sau đó, trong vai người buôn chè, chị lại tiếp tục đưa hàng trăm kẹp đạn về hầm bí mật.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù đã trải qua bao hiểm nguy nhưng Tám Trang không thể nào quên được lần trong vai người mua than chở súng về cho bộ đội. Đó là một buổi sáng tháng 6-1967, Tám Trang nhận được tín hiệu từ cơ sở, chị vội vàng lên chợ Hòa Khánh để nhận hàng. Lúc này, Tám Trang đang có thai đứa con thứ 5. Trong đầu chị vụt lên hình ảnh những bao than chờ ngày ở cữ. Tám Trang quyết định giấu 18 khẩu súng AK vào 6 bao than. Được cơ sở giới thiệu, chị thuê một chiếc xe Lam chở than về Thanh Khê. Xe chạy khoảng 2 km, đến đồn cảnh sát Hoà Mỹ thị bị địch chặn lại. Chúng dùng những cây sắt dài chọc thẳng vào bao than. Nhìn cây sắt nhọn chọc vào bao than, lòng Tám Trang như xát muối. Chị biết nếu địch chọc đúng khẩu súng thì chúng sẽ bắn chết chị ngay tại chỗ. Mẹ con chị hy sinh cho cách mạng không phải là điều chị lo lắng, mà điều chị sợ nhất là số súng không về được đến tay bộ đội. Hàng chục chú đặc công nằm vùng trong nhà chị và các cơ sở ở Thanh Khê đang ngày đêm mong mỏi chuyến hàng này. Không có súng, ta không những không đánh được giặc mà còn bị chúng bắt tù đày. Nếu chẳng may hy sinh, không đem được hàng về thì chị có tội với cách mạng. Nhưng nhớ lời anh Năm căn dặn: ” Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bình tĩnh “. Vì thế, mặc cho tụi cảnh sát lục soát, nét mặt Tám Trang vẫn bình thản. Và điều kỳ diệu đã xảy ra. Địch chọc thủng 6 bao than vẫn không thấy gì, chúng để chị đi. 18 khẩu AK về đến nơi an toàn “.

VCTamTrang

(Viet cong Tam Trang)

Trước đó, Cảnh sát, bảo an, dân vệ … thường xuyên kiểm tra nhà của ả Tám Trang nầy vì (nghi nhà chị nuôi Cộng sản) vậy mà gã Hai Được (chồng Tám Trang) nhận chỉ thị của cấp trên đi học lái xe để chui vào hàng ngũ của địch (Cảnh Sát Quốc Gia) một cách dễ dàng (lái xe cho Ban Công Sai của cảnh sát quận Thanh Khê). Vậy thì Ban Sưu Tra Căn Cước-Lý Lịch của Chi Cảnh Sát quận Thanh Khê của chính quyền miền Nam VNCH đóng cửa văn phòng đi đâu hết cả rồi? Còn cho tay Hai Được nầy dùng công xa chở một lúc 30 cây súng trường AK 47 về nhà khơi khơi (nguỵ trang trong gần 20 bó củi). Thời miền Nam VNCH, dân thành thị (như trong Quận Thanh Khê-Thành phố Đà Nẵng của Tám Trang) hầu như có rất ít người nấu ăn bằng củi (vì nguồn củi phải vào rừng mới có mà lúc đó thời chiến tranh, Việt Cộng miền Nam và CS Bắc Việt sống lén lút đầy trong rừng thì làm sao mà trại cây nào dám cho xe be vào rừng khai thác củi được). Thay vào đó họ sử dụng bếp dầu hôi trong việc nấu ăn ở nhà. Rồi lấy đâu ra được gần 20 bó củi đây? Rõ ràng gã văn nô Nguyễn Sỹ Long đã lấy hình ảnh người dân Việt sau ngày 30-4-1975 khi phải đi vùng kinh tế mới (lên rừng chặt cây làm củi mang về thành thị bán cho người dân nấu ăn) nên đã cho đoạn viết nầy về ả giao liên Tám Trang.

VCTamTrang2

(Viet cong Tam Trang)

Ly kì nhất là y đã cho Tám Trang nuốt gọn 9 bức thư (bằng cách giả ăn trầu rồi nuốt trộng luôn vào bụng) và tiêu huỷ 4 lá thư còn lại (bốc đất vò lẫn cục giấy đã được nhai kỹ và dùng hai tay xoa đều trên nền đất của nhà vệ sinh). Tại sao khi còn ở trong nhà mà ả Tám Trang không thủ tiêu 13 lá thư nầy ngay (còn có thời gian mời bọn Cảnh Sát dùng nước)? Lại đợi bị bắt lên xe rồi mới thủ tiêu chúng (khi phải ngồi giữa hai tên Cảnh Sát, chị nghĩ cách phi tang). Trước giờ trong các bài viết của các gã văn nô khác vẫn tả Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hoà luôn là bọn say sưa, chỉ biết chim gái, rất độc ác và là bọn có đôi mắt cú vọ theo dõi chiến sĩ cách mạng từng phút một … Nên bây giờ, Nguyễn Sỹ Long kể về việc thủ tiêu (4 lá thư còn lại) tang chứng bằng cách ” anh linh của các anh hùng liệt sĩ luôn dõi theo bước chân của Tám Trang ” (phò hộ cho Tám Trang làm được các kỳ tích ém mất 4 lá thư bí mật nầy). Đúng là viết lếu viết láo. Ta biết đảng viên Cộng Sản là bọn vô thần, trước đây có bao giờ chúng tin vào niềm tinh tâm linh mà bây giờ lại lôi anh linh của anh hùng liệt sĩ vào câu chuyện nầy (mà anh linh của anh hùng liệt sĩ nào?). Chắc chắn bọn Việt Cộng miền Nam hay bọn CS Bắc Việt chuyên giết hại dân lành vô tội, tàn phá phong hóa của đất nước thì không thể nào chúng có các anh linh ở đây được. Chính bọn Cộng Sản đầu lãnh đã từng ra lệnh cho bọn đàn em ở các địa phương triệt hạ biết bao đền, chùa, miếu trong các đợt chúng gọi là bài trừ văn hóa phong kiến, mê tín tôn giáo. Chúng còn bắt tập trung tất cả các bài vị, sắc phong, bát hương, tủ thờ của từng gia đình một để tập trung vào một chỗ rồi bỏ hư phế mà dân gian thời đó gọi là: Chiến dịch tập trung ông bà, tổ tiên.

VCTamTrang3

(Viet cong Tam Trang)

Có một đoạn mà gã văn nô Nguyễn Sỹ Long nầy viết: ” Không có bằng chứng địch buộc phải thả chị “(ở đây gã văn nô vô tình cho người đọc thấy rõ chính quyền miền Nam VNCH tôn trọng pháp luật nhá). Nhưng rồi gã lại cương: ” Tuy nhiên, bọn dân vệ đã chuẩn bị sẵn bao bố chờ Tám Trang về nhà sẽ thủ tiêu. Nhưng nhờ có người em được cài trong hàng ngũ địch báo cho biết nên chị đã thoát nạn ” (làm như ả Tám Trang nầy lúc đó có Cell phone cầm sẵn trong tay). ” Về nhà gần hai tuần, chị bị địch bắt lại vì có kẻ báo Tám Trang chở súng đạn về cho bộ đội đặc công “. Nếu muốn thủ tiêu Tám Trang thì Cảnh Sát đã giữ ả lại chứ hà cớ gì phải chở về nhà để cho bọn dân vệ (chuẩn bị sẵn bao bố) thủ tiêu. Rồi cũng không cho biết bằng cách nào mà ả Tám Trang nầy thoát nạn (dù là có người em trong hàng ngũ địch báo cho biết). Cái câu bao bố chờ sẵn làm ta liên tưởng tới biết bao cảnh người dân lành vô tội bị bọn công an Việt Minh (thời 1945-1954) bắt trói, bỏ vào bao bố đem vất xuống sông (như trường hợp của nhà văn Khái Hưng tại bến đò Cựa Gà năm 1947) ở trong các vùng sông-rạch của ba miền đất nước Việt.

Cuối bài viết, văn nô Nguyễn Sỹ Long kết thêm câu: ” Chị Trần Thị Khanh, người dân ở quận Thanh Khê cho biết, chị Tám Trang không những anh hùng trong chiến đấu mà còn gương mẫu, nhiệt tình trong các hoạt động của địa phương “. Nhiệt tình hoạt động như vậy thì không biết bà lão giao liên Tám Trang ngày nay có biết đến các vụ dân oan khiếu kiện nhà nước CS tại Hà Nội để đòi lại đất bị đảng viên CS địa phương chiếm đoạt hay không? (trong đó có không ít mẹ liệt sĩ cách mạng bị bọn cường hào ác bá tân thời (là các đồng chí đói rét, run lẩy bẩy đứng trước hiên nhà tranh năm xưa). Hay giao liên Tám Trang giờ chỉ biết nhắm mắt tảng lơ không nghe, không thấy, không biết (cho là cái gì Đảng và Chính phủ CSVN làm cũng đều đúng) như kiểu được các chú, các anh (đồng chí năm xưa) dậy bảo khi phải đối phó với Cảnh Sát miền Nam VNCH.

Gã văn nô Nguyễn Sỹ Long còn nhiều cái phét lác trong bài lắm. Nhưng thôi! Nếu kể thêm thì nhàm tai độc giả.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Feb 14, 2009.
(còn tiếp)


12/. Lại Chuyện Xạo Anh Hùng CS Bắc Việt.

Trên trang báo điện tử có tên là Quân Đội Nhân Dân số Chủ Nhật ngày 15 tháng 3 vừa qua có đăng bài viết của gã văn nô Lê Văn Giang với tựa đề: Trận Đánh ” 1 Thắng 10″ kể về chiến công của 10 đồng chí CS Bắc Việt đầy lùi 15 đợt tiến công của 200 ” lính thủy đánh bộ Mỹ”, tại Đồi không tên-chân dãy núi Cù Đinh, Cam Lộ, Quảng Trị.

Theo bài viết, ngày 26-2-1967, một Tiểu đội 10 gã đồng chí nầy nhận nhiệm vụ bảo vệ kho chứa 3.000 viên đạn H 12 và H 6 để chờ bàn giao cho một trung đoàn khác. Giữ 3.000 (ba ngàn) viên đạn nầy được 2 ngày thì địch (đây là Mỹ) phát giác và tấn công. Tiểu đội CS Bắc Việt (có 3 gã mới nhập ngũ) nầy chỉ được trang bị 4 súng AK47, 6 súng trường, gần một nghìn viên đạn, 60 quả lựu đạn mà đã chống trả lại 15 khẩu trung liên và các loại súng khác của đối phương đồng loạt nhả đạn trong sự yểm trợ của pháo binh bắn phá và 4 máy bay phản lực cùng 2 trực thăng (máy bay lên thẳng) đến không kích. Tiểu đội đã bẻ gãy 10 đợt tấn công của địch cho đến 12 giờ trưa thì bọn địch … tạm nghỉ ngơi (hưu chiến) trong chốc lát để ăn. Giống y như trong các câu chuyện: Trốn và Tìm của trẻ thơ. Đang trốn thì một em giơ tay rồi nói lớn xin tì (tạm nghỉ) để tớ đi … đái, ỉa … hay làm cái gì gì đó.

Bọn địch ăn xong (khoảng 1 tiếng đồng hồ) thì lúc 13 giờ bắt đầu tấn công trở lại (kết hợp cả pháo binh, máy bay phản lực, trực thăng nhưng số lượng bom đạn nhiều hơn, bộ binh trườn, bò thấp hơn … ). Song đều bị thất bại trước tinh thần chiến đấu vô cùng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ tiểu đội. Đến 18 giờ trời sẩm tối thì tiếng súng bộ binh im hẳn, trực thăng, máy bay ném bom cũng về hết, chỉ còn lại các trận địa pháo bắn cầm canh (chắc lại phía địch cũng tạm nghỉ ngơi (hưu chiến) để về nhà ngủ. Ngày mai tính sau). Rồi đại đội chi viện đến và chuyển hết 3.000 quả đạn pháo đi nơi khác an toàn.

Bên địch bỏ lại trận địa 41 xác (lực lượng bị thương chúng chuyển đi hết) còn bên ta (tiểu đội CS Bắc Việt) chỉ có 1 chiến sĩ Nguyễn Nhân Nhê hy sinh (đi gặp các cụ tổ CS Mác-Lê Nin) thôi. Tiểu đội đánh thắng và thu được nhiều vũ khí, chiến lợi phẩm. Thật là một kỳ tích và kỳ tích ” 1 thắng 20 ” của Tiểu đội 10 gã đồng chí nầy đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội ta trên khắp các mặt trận. Tất cả 10 gã trong tiểu đội đều được tặng thưởng Huân Chương Chiến Công Giải Phóng.

http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.psks.phongsu.53862.qdnd

Đường link của bài viết.

1danh20nguoi

Ở đây có cái lấn cấn: 3.000 viên đạn pháo H 6 và H 12 là loại đạn gì mà không hề trầy trụa trong cơn bắn phá của trận địa pháo và máy bay ném bom vậy (sau trận đánh vẫn còn y nguyên)? 3.000 viên đạn nầy có thuốc nổ ở bên trong không hay chỉ là 3.000 viên đạn pháo … ảo (tức là không có thực)?

1danh20nguoi2

Ta biết là H 6 là đạn cỡ 75 ly cho loại súng 6 nòng và H 12 (cũng cỡ 75 ly) cho loại súng 12 nòng. Trong chiến tranh hai miền Nam-Bắc (1954-1975) thì quân đội miền Nam VNCH từng tịch thu được khá nhiều loại súng H 12 nầy của phe CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam. Riêng loại H 6 chỉ thấy sử dụng trong trận Điện Biên Phủ và không thấy dùng loại súng nầy tại các chiến trường thời miền Nam VNCH.

PhaoH6

(Phao H6)

Súng H 6

PhaoH12

(Phao H12)

úng H 12

Chỉ có 10 gã đồng chí mà đánh tan được 200 người lính phía đối phương và sau trận đánh chỉ đi đoong có 1 đồng chí thôi. Kỳ tích như vậy mà không hiểu sao CS Bắc Việt lại phải vét sạch thanh niên đến nỗi còn lôi cả các em bé mới có 15 tuổi đầu cho chiến trường miền Nam (B 2)? Quân đội miền Nam VNCH từng bắt được rất nhiều em bé trai ầy trong các trận đánh. Vẻ ngây thơ, kinh hoàng còn hằn đầy trên nét mặt các em. Tuổi nầy là tuổi đi học. Đâu phải tuổi cầm súng đi đánh nhau. Mà cầm súng chiến đấu cho mục tiêu gì? Chống ngoại xâm hay đi xâm lăng, giết hại đồng bào miền Nam VNCH vô tội ? (làm chết oan cả những đồng bào miền Bắc như gã cán binh Nguyễn Nhân Nhê trong bài kể nầy). Khi bị bắt, cháu nào cháu nấy đều đói lả như ta thấy trong tấm hình một cháu bộ đội của đồng chí Bác dưới đây, đang ăn ngon lành thức ăn từ tay người lính miền Nam VNCH cho. Còn đang tuổi thiếu niên ăn chưa no-lo chưa tới nên chẳng trách, có cháu đã thành liệt sĩ khi mới được 12 tuổi đời. Đối mặt với chiến trường, người trưởng thành trải nhiều trận đánh mà lớ ngớ thì chết như chơi. Vậy mà trong truyện của gã văn nô Lê Văn Giang, gã còn viết là dù đói nhưng các bộ đội của đồng chí Bác đã không đụng đến các thùng đồ ăn của địch (đựng trong thùng rất to). Những gã cán binh này chắc ăn bằng không khí và uống bằng khí trời?

vietcong15tuoitaibudopaugust19672

(Viet cong 15 tuoi tai budop august 1967)

Một tù binh cán binh CS Bắc Việt bị bắt lúc mới 15 tuổi đầu.

lietsi12tuoi2

(Liet si 12 tuoi)

Một mộ phần của cán binh (12 tuổi) của đồng chí Bác. Tội nghiệp đầu xanh, tuổi trẻ.

Cứ lâu lâu, bọn văn nô Cộng Sản trong nước lại sáng chế ra các câu chuyện kiểu kỳ tích như bài viết chống Mỹ-Ngụy năm xưa của gã Lê Văn Giang nầy không ngoài mục đích là lên giây cót tinh thần và để đánh bóng hình ảnh quân đội Cộng Sản VN mà người dân Việt (nhất là tầng lớp trẻ, vào được các trang internet, đọc được các tài liệu thật về cuộc chiến tranh tại Việt Nam) đã biết tỏng tòng tong cái gọi là Quân Đội Nhân Dân nầy chiến đấu vì Tổ Quốc Việt Nam thực hay chỉ chiến đấu cho quyền lợi của bọn Cộng Sản VN.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
March 17, 2009.
(còn tiếp)


13/. Lại Vẽ Thêm Chuyện Về Đồng Chí Bác .

Trên trang báo VnExpress số ra ngày thứ Tư 17 tháng Sáu 2009 có bài viết của Nguyễn Hưng với tựa đề: Vận động kiều bào sưu tầm hiện vật và sáng tác về Bác Hồ. Xin trích các đoạn như sau:

” Tối 16/6, tại Hà Nội, nhiều kiều bào đã tới dự lễ phát động Cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sưu tầm tư liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở ngoài nước.

Ông Trương Mạnh Sơn, Bí thư Đảng ủy ngoài nước, cho biết, cuộc vận động hướng tới người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Qua việc sáng tác, quảng bá các tác phẩm và sưu tầm các tư liệu, hiện vật về Bác Hồ, cuộc vận động nhằm làm cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài nhận thức sâu sắc giá trị tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “.

http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/06/3BA10387/

vandongkieubao

Bài báo của văn nô Nguyễn Hưng.

Cứ mỗi lần các văn nô trong nước viết bài (thổi ống đu đủ) gì về đồng chí Bác thì y như rằng đều kèm theo câu: ” Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh “. Văn nô Nguyễn Hưng nầy cũng vậy khi gã viết: ” Đại diện cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở ngoài nước có mặt tại buổi lễ cũng khẳng định, mặc dù mỗi người có một hoàn cảnh và môi trường khác nhau nhưng tất cả đều hướng về Tổ Quốc, về Bác Hồ. Cuộc vận động là cơ hội tốt để 3,5 triệu người Việt sinh sống tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ bày tỏ lòng yêu nước, tự hào dân tộc, hướng về quê hương đất nước, tình cảm với Bác Hồ kính yêu “.

Bây giờ ai cũng rõ đồng chí Bác (khi chưa ngỏm củ tỏi) có thực sự là người có đạo đức hay không để mà làm cái gương cho người Việt ” nhận thức sâu sắc giá trị “. Người Việt tha hương nào mà không hướng về quê hương đất nước. Con số hàng tỉ Đô La Mỹ (nay đã hơn 8 tỉ) mà mỗi năm Việt Kiều gửi về quê nhà đã đủ nói lên điều đó nhưng không có nghĩa đó là bày tỏ tình cảm với ” Bác Hồ kính yêu được “. Tiền gửi về là để giúp đỡ cho thân nhân còn kẹt lại trong một xã hội độc tài, áp bức và lấy chuyện bần cùng hóa nhân dân là một trong các cách để bảo vệ chế độ . Nếu đất nước Việt không bị đảng CS cai trị thì người dân Việt chắc sẽ chẳng cần đến tiền bạc giúp đỡ của thân nhân sống ờ nước ngoài. Có khi còn gửi giúp ngược trở lại nữa. Việt kiều hầu hết là người yêu nước (chỉ trừ bọn tay sai hoặc đang công tác trong các cơ sở ngoại giao của đảng Cộng Sản VN ở hải ngoại) và lòng yêu nước của họ đã có từ bao lâu nay mà đâu cần phải có cuộc vận động cơ hội tốt của đảng ủy CS ngoài nước nào ở đây.

Ban chỉ đạo cuộc vận động có bao giờ thử cổ súy Việt Kiều biểu tình trước các đại sứ quán, tổng lãnh sự của bọn Tàu Khựa để phản đối vụ xâm chiếm các hải đảo trong vùng Hoàng Sa-Trường Sa, vụ tài hải quân của chúng bắn vào ngư thuyền của ngư dân Việt và gần đây nhất là ra lệnh cấm ngư dân Việt đi đánh cá ngay trên lãnh hải nước Việt xem coi. Không bao giờ ta thấy bọn Cộng Sản VN dám có các việc làm đó. Ai, ở trong nước mà có hành động chống lại bọn Tàu Khựa thì còn bị chúng bắt bỏ tù nữa.

Bài báo viết có đoạn: ” … sưu tầm tư liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở ngoài nước “. Tài liệu (trong nước gọi là tư liệu) về cuộc đời hoạt động của đồng chí Bác ở hải ngoại thì hầu như các sử gia đã tìm thấy hết cả rồi và các vụ sau đây của đồng chí Bác mới thật đáng để ý: Xin làm bồi trên tàu Latouche-Treville để sang Pháp xin với Tổng Thống Cộng Hòa Pháp cùng Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp (hai lá đơn cùng đề ngày 15-9-1911) với nội dung giống nhau là xin được nhận vào học ở trường Thuộc Địa để ra làm quan (tay sai) cho thực dân Pháp. Đồng chí Bác (khi đó là anh Ba Nguyễn Tất Thành) viết một đoạn trong đơn như sau: ” Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi “. Vụ bán tin cho thực dân Pháp bắt cụ Phan Bội Châu (Ngày 30 tháng 6 năm 1925, tại Hàng Châu) để nhận 150.000 đồng bạc Đông dương từ Pháp ((Joseph Buttinger, “A Dragon Embattled” (New York: Praeger, 1967-Tập 1)). Sau cùng là vụ Ngục Trung Nhật Ký mà nay nhiều người đã biết đồng chí Bác đã thuổng từ tay một người tù Tàu già nào đó.

tauPhap

(Tau Phap)

Tàu Latouche-Treville tại cảng Nhà Rồng.

Chắc chắn cái gọi là Ban chỉ đạo cuộc vận động phải biết rõ các chuyện về thời gian hoạt động của đồng chí Bác mà tác giả bài viết kể sơ trên đây. Vậy mà văn nô Nguyễn Hưng vẫn viết câu: ” Cuộc vận động là cơ hội tốt để 3,5 triệu người Việt sinh sống tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ bày tỏ lòng yêu nước, tự hào dân tộc, hướng về quê hương đất nước, tình cảm với Bác Hồ kính yêu “.

HChMinhtrckhiriNga

Đồng chí Bác khi ở nước Nga.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
June 22, 2009.
(còn tiếp)


14/. Nguyễn Ái Quốc Tiếp Thu Tư Tưởng Yêu Dân, Yêu Nước Của Vua Quang Trung-Nguyễn Huệ?

Trên trang báo Sài Gòn Giải Phóng Online số ra ngày Chủ Nhật mùnng 6 tháng 9 năm 2009 có đăng một bài viết (Được trích từ tham luận của gã văn nô tên Đoàn Minh Tuấn) với đầu đề: Tư tưởng yêu dân, yêu nước của Nguyễn Huệ được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu, nâng cao thành chủ nghĩa yêu nước cách mạng … như sau:

… xin trích…

” Theo nhiều nguồn tư liệu tin cậy, trong thời gian cụ Nguyễn Sinh Sắc làm Tri huyện Bình Khê, Nguyễn Tất Thành từ Quy Nhơn lên vùng An Khê thăm và ở với cha gần 1 năm. Học tiếng Pháp với thầy giáo Phạm Văn Thọ, cha bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, và thăm nơi khởi binh của anh em Nguyễn Huệ tìm hiểu, học tập tinh thần của nhà yêu nước, đại anh hùng của dân tộc ta. Tư tưởng thương dân, không chịu áp bức nô lệ của Nguyễn Huệ đã hun đúc tinh thần cách mạng của Nguyễn Tất Thành.

Trong những ngày dạy học ở Phan Thiết, bác sĩ Nguyễn Kinh Chi, trước là học trò Trường Dục Thanh, nơi thầy Thành dạy học, có kể lại: Thầy giáo Thành dạy lớp 3, thường mặc áo bà ba vải, chân đi guốc … Thầy giáo Thành như nhập tâm, bao giờ cũng kể chuyện về Quang Trung, cái thời kỳ ngột ngạt ở Thăng Long của những ngày quân Thanh chiếm đóng, bên trong thì ầm ĩ chuyển mình trăn trở báo hiệu một cơn dông tố cực lớn. Lòng hận thù nung nấu cho nên khi xuất quân ra Bắc Hà, tư tưởng xuyên suốt của Nguyễn Huệ là quyết chiến đấu giải phóng Thăng Long, giải phóng đất nước: ” Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ “. Cái khẩu khí trong lời tuyên cáo trước quân dân ta thuở ấy của Nguyễn Huệ, cũng như của Bác Hồ sau này ” Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào ” vậy.

Có thể nói, đất Tây Sơn-Bình Định đã in đậm trong ký ức Nguyễn Tất Thành, tạo bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của Nguyễn Tất Thành. Tư tưởng yêu dân, yêu nước của Nguyễn Huệ được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và nâng cao thành Chủ nghĩa yêu nước vô sản. Nhân dân Bình Định có quyền tự hào về sự hiện diện của Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Tất Thành. Chắc chắn nơi này sẽ là điểm đến của khách thập phương, khi những di tích về Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Sinh Cung-Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh được phục dựng… ”

… hết trích.

http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2009/9/201588/

BaivietcuavannoveHCM

Bài tham luận của gã văn nô Đoàn Minh Tuấn.

Vì đâu lại có vụ trích dẫn bài tham luận của gã văn nô Đoàn Minh Tuấn nầy? Đọc trên đầu trang của bài viết thì ta biết nó đã được gã văn nô nộp bài (thu hoạch của y) trong dịp gọi là: Hội thảo 100 năm Nguyễn Tất Thành ở Bình Định (1809- 2009). Từ bao lâu nay, đảng Cộng Sản VN vẫn rêu rao tinh thần yêu nước thương nòi của đồng chí Bác nhưng trong khoảng hơn 1 thập niên vừa qua thì người dân ở trong nước (nhất là những người có dịp tiếp cận với mạng internet) đều biết rõ thực sự đồng chí Bác chẳng hề có tinh thần yêu nước Việt, dân Việt một chút gì sất vì:

– Yêu dân Việt thì đồng chí Bác đã không phát động cuộc Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc làm chết hàng trăm ngàn dân lành vô tội (trong thập niên 1950) mà thực sự là vụ cướp không ruộng đất của toàn bộ nông dân miền Bắc vào tay đảng Cộng Sản VN. Ruộng đất lấy từ tay những nông dân bị đấu tố lúc đầu được chia cho các nông dân tá điền để sau đó không lâu thì bắt tất cả tá điền này phải gia nhập vào Hợp Tác Xã làm ruộng tính bằng công điểm (mà lúa khi thu hoạch, tá điền được chia còn ít hơn thời làm cho các địa chủ). Phần lớn lúa thu hoạch đều về tay của nhà nước tức đảng Cộng Sản VN. Coi như cho tay pah3i bây giờ đảng và nhà nước Cộng Sản VN lấy lại bằng tay trái. Còn vụ đấu tố, làm sao có thể chấp nhận lý lẽ một đám người cầm quyền (đảng Lao Động khi đó) đã nhân danh một giai cấp để diệt bỏ một giai cấp khác (dân lành bị kết tội oan uổng) bằng hình thức đấu tố rồi giết chết. Tại sao đảng Cộng sản VN lại tự cho mình cái quyền … giết người như vậy?

– Yêu nước Việt thì đồng chí Bác cũng không bao giờ chỉ đạo cho đàn em Phạm Văn Đồng (có người gọi là Đồng vều mà không hiểu lý do tại sao?) ký cái công hàm (ngày 14 tháng 9 năm 1958) đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, trong đó có đoạn: ” … Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.”.

– Yêu dân Việt thì đồng chí Bác cũng không bày ra cái vụ gọi là Giải Phóng Miền Nam (mà thực chất là xâm lăng miền Nam VNCH) để đẩy vào chỗ chết biết bao nhiêu thanh niên nam-nữ của hai miền Nam-Bắc. Tại sao đồng chí Bác không tiếp tục chọn kiểu phân chia 2 miền như nước Đức và Korea theo như quốc tế đã sắp xếp. Miền nào phát triển kinh tế theo miền ấy để rồi thời gian thì sẽ biết miền nào chọn mô hình đúng cho xã hội của mình? Năm 1954, đất nước Việt bị chia hai (theo Hiệp Định Geneva), lúc đó Cộng Sản Liên Xô theo chủ trương chung sống hòa bình (do gã Nikita Khrushshew Liên Xô đưa ra), đề nghị cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng gia nhập Liên Hiệp Quốc như hai quốc gia riêng biệt vào đầu năm 1957. Giải pháp nầy có thể giúp hai miền sống biệt lập trong hòa bình, thi đua xây dựng và phát triển đất nước, chờ cơ hội thuận tiện sẽ tái thống nhất với nhau. Nhưng miền Bắc dưới chủ trì của đồng chí Bác đã phản đối quyết liệt và vận động với Liên Xô thay đổi chính sách (không có vụ chấp thuận cho hai miền gia nhập tổ chức LHQ nữa) nhằm để đồng chí Bác và đàn em dễ dàng tiến hành việc xâm lăng miền Nam VNCH mà không bị Hội Đồng Bảo An LHQ lên án (và can thiệp) với các chứng cứ xâm lăng của CS Bắc Việt.

– Yêu nước Việt thì đồng chí Bác đã không viết câu: ” đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin ” trong bản di chúc (thay vì đi gặp tổ tiên-ông bà hoặc Quốc Tổ Hùng Vương). Như vậy trong tâm tưởng của đồng chí Bác chỉ hướng về quê hương của các tay tổ Cộng Sản (vì di chúc được viết đi, sửa lại nhiều lần). Đồng chí Bác từng sống ở Liên Xô nhiều năm (hai lần trong các thập niên 1920-1930) và biết rõ việc áp dụng chủ thuyết CS đã làm cho dân chúng nghèo đói và đất nước kiệt quệ như thế nào nhưng đồng chí Bác vẫn mặc, cố tình đem cái chủ thuyết nầy tròng vào đầu vào cổ dân Việt nước Việt để đất nước còn di lụy đến ngày hôm nay.

conghamPhamvanDong

Bản Công Hàm của Thủ Tướng Cộng Sản VN , Phạm Văn Đồng.

Chúng ta ai cũng biết là sau vụ sụp đổ của Liên Xô và khối Đông Âu Cộng Sản (đầu thập niên 1990) thì đảng Cộng Sản VN đã bối rối (khi thấy ý thức hệ CS bị người dân ở các nước kể trên vất vào thùng rác lịch sử) và bị mồ côi (không còn các mẫu quốc CS để các đầu lãnh CS Hà Nội bám cứng vào lý thuyết vô thần-xã hội chủ nghĩa được nữa) nên bọn đầu lãnh CS Hà Nội phải buộc lòng đổi mới (thực sự là bắt chước xã hội tự do để cứu đảng) rồi tự sáng tác ra cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh (mà thực sự đồng chí Bác đã tuyên bố thẳng thừng từ lâu là chẳng có tư tưởng cái mẹ gì ngoại trừ đã (copy) bê nguyên xi các giáo điều của các cụ tổ Cộng Sản thế giới. Giờ đây, gã văn nô Đoàn Minh Tuấn nầy lại viết tham luận gán ghép cho đồng chí Bác tiếp thu tư tưởng yêu dân, yêu nước từ … vua Quang Trung và đồng chí Bác đã nâng cao thành chủ nghĩa yêu nước cách mạng (chủ nghĩa vô sản). Vua Quang Trung được gã văn nô này phát hiện là Ngài cũng có tư tưởng đấy nhá. Thật chói tai và lủng củng trong bản tham luận của y.

Đọc sử Việt thì chúng ta cũng biết là vua Quang Trung (Nguyễn Huệ 1753-1792) đã đánh tan quân xâm lược nhà Thanh trong ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) và sau đó Ngài còn có ý định đòi nhà Thanh trả lại vùng đất Lưỡng Quảng (Quảng Đông-Quảng Tây) về cho nước Việt. Đồng chí Bác tiếp thu tư tưởng yêu nước-yêu dân của vua Quang Trung mà sao lại có vụ công hàm năm xưa vậy, bớ … Đoàn Minh Tuấn?

Bản tham luận viết về đồng chí Bác nhưng gã văn nô Đoàn Minh Tuấn còn lái thêm các đoạn về bố của đồng chí Bác (tri huyện Nguyễn Sinh Sắc) khi gã sáng tác thêm đoạn mới là: ” Giặc nghĩ ra một âm mưu mới, bắt cụ Phó bảng ra làm Tri huyện Bình Khê 1909.” Giặc ở đây là bọn thực dân Pháp và bố của đồng chí Bác bị cưỡng ép phải ra làm quan chứ bản thân của bố đồng chí Bác đâu có muốn. Gã Đoàn Minh Tuấn nhét chữ vào miệng của bố đồng chí Bác câu: cụ nói: ” Các anh về nhà lo làm ăn, tôi đi chuyến này chưa chắc đã làm quan. Vì quan trường là nô lệ giữa chốn nô lệ ” (từ câu: Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ). Sách báo của các sử nô, văn nô trong nước thường viết về bố của đồng chí Bác giống nhau là: ” Cụ thân sinh ra Người (chữ người viết hoa ám chỉ đồng chí Bác) là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929) … đỗ Phó bảng và sống thanh bạch bằng nghề dạy học … Sau khi đỗ phó bảng, bị bọn thống trị thúc ép nhiều lần, cụ ra làm quan nhưng thường tỏ thái độ tiêu cực, không hợp tác với chúng … Vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức. ” (trích trong Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp-NXB Sự Thật, Hà Nội 1975 in lần thứ 4 trang 11-12). Thực sự bố đồng chí Bác đã xin đi làm quan ngay sau khi vừa đỗ Cử Nhân (năm 1894) và trước khi đỗ Phó Bảng (năm 1901) sau đó bị triều đình nhà Nguyễn sa thải chứ không phải bị cách chức mà lý do bị sa thải cũng không phải vì ” vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp ” mà vì đã hành xử tàn bạo với dân chúng. Trong một cơn say rượu, bố đồng chí Bác đã dùng roi mây trừng phạt và đánh chết một người tù (nông dân tên Tạ Đức Quang) vào tháng 1 năm 1910. Gia đình người nầy đã kiện sự việc đó lên cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đã chối rằng không phải vì trận đòn đó mà người nông dân chết nhưng triều đình phạt đánh tri huyện 100 trượng (sắc chỉ ngày 17-9-1910). Sau đó hình phạt đánh 100 trượng được chuyển sang cách hạ bốn cấp quan (giáng cấp) và bị sa thải. Khi đồng chí Bác lưu lạc ra nước ngoài (trong vai chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành) còn viết thư (từ New York ngày 15-12-1912) gửi đến cho viên Khâm Sứ Pháp tại Huế để xin cho bố mình một chức quan nhỏ khác. Lời thư tha thiết ” … cầu mong Ngài (khâm sứ Pháp tại Huế) vui lòng cho cha tôi (tức cựu tri huyện Nguyễn Sinh Sắc) được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài …”

Như vậy chuyện đồng chí Bác tiếp thu tư tưởng yêu nước-yêu dân của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) cũng như chuyện ” cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã tham gia vào phong trào yêu nước, tích cực vận động nhân dân chống sưu thuế ở Trung kỳ-phong trào đầu tiên ở Đông Dương, có ảnh hưởng lớn trong Nam ngoài Bắc, làm cho thực dân Pháp lo lắng ” là chuyện hoàn toàn bịa đặt của gã văn nô Đoàn Minh Tuấn cũng như của các sử nô, văn nô cùng cái gọi là hội thảo 100 năm Nguyễn Tất Thành tại Bình Định nhằm đánh bóng, tăng giá trị trở lại cho đồng chí Bác và thân sinh sau khi ở ngoại quốc (tại Hoa Kỳ) xuất hiện bộ dĩa DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh. Ta thấy hành động của đồng chí Bác cũng như của đám đầu lãnh CS Hà Nội trước sau (từ vụ công hàm của Đồng vều năm xưa cho đến các vụ cắt đất, dâng biển cho Tàu khựa hiện nay) đều tiếp thu từ … các tấm gương của Mạc Đăng Dung và Lê Chiêu Thống chứ không từ các danh nhân-hào kiệt nước Việt nào khác..

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=28611

Đường Link DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh.

Cha (Tri Huyện) say rượu, lạm quyền làm chết một người còn con (Chủ Tịch Nước) say lý thuyết Đại Đồng cũng lạm quyền, gây cho cái chết của … vô số người dân lành vô tội. Ai cũng thấy rõ, vậy mà vẫn còn có những gã văn nô như Đoàn Minh Tuấn viết lếu viết láo kiểu chạy tội như trên đây.

Cha không có công trạng gì với đất nước, vậy mà ngoài cái lăng to đùng (của con trai) ở khu Ba Đình-Hà Nội, đảng và nhà nước Cộng Sản VN còn làm thêm một cái nhà mồ cho bố của đồng chí Bác nữa (tại vùng Cao Lãnh, miền Nam VN). Tất cả cũng đều từ tiền đóng thuế của nhân dân Việt.

langcuanguyensinhsacdec131977

Phần mộ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc.

Saigon1975

Việt Cộng pháo kích bừa bãi vào khu gia cư của người dân miền Nam VNCH. Giải phóng dân lành từ hữu sản thành vô sản.

Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo bà Cố luôn.

Phạm thắng Vũ
Sept 07, 2009.
(còn tiếp)


http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?s=c375b4094d43ca7c53e0799059bba735&t=5150&page=2

September 11, 2009 Posted by | Bọn múa gậy vườn hoang - Phạm thắng Vũ | | 1 Comment

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hoàng Dược Thảo (Radio VNHN)

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hoàng Dược Thảo (Radio VNHN)

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hoàng Dược Thảo (Radio VNHN) from tieudietcongsan on Vimeo.

September 10, 2009 Posted by | Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hoàng Dược Thảo (Radio VNHN) | | Leave a comment