ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

Ngày 2/9 là ngày đại họa của dân Việt do súc vật hồ chí minh và đảng cộng sản việt gian chó đẻ khốn nạn gây ra

Ngày 2/9 là ngày đại họa của dân Việt do súc vật hồ chí minh và đảng cộng sản việt gian chó đẻ khốn nạn gây ra

toiacHCM

thdog2editedzl6

113

Advertisements

August 30, 2009 Posted by | Ngày 2/9 là ngày đại họa của dân Việt do súc vật hồ chí minh và đảng cộng sản việt gian chó đẻ khốn nạn gây ra | | Leave a comment

Sư Sãi Ấn Quang Là Những Tên Giặc Và Nói Láo! – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Sư Sãi Ấn Quang Là Những Tên Giặc Và Nói Láo! – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Nếu con người khi mới sinh ra là, « Nhơn chi sơ tánh bổn thiện »; thì một Phật tử bình thường, hoặc một người khi mới «Thí phát Quy y » họ cũng có thể là một con người lương thiện, họ đều biết trong « Ngũ giới » của nhà Phật, trong đó có « Cấm sát sinh – Cấm vọng ngữ ». Nhưng tiếc thay, vì sau khi họ đã gia nhập vào băng đảng của Ấn Quang rồi, thì gần hết họ đã trở thành những kẻ chuyên môn đi giết người vô tội và nói láo.

hoathuongdonhau

suc vat thich don hau tay sai suc vat ho chi minh

Thichducnhuan

suc vat thich duc nhuan tay sai suc vat ho chi minh

ThichNhatHanh_2

suc vat thich nhat hanh tay sai suc vat ho chi minh

ThichTriQuang2

suc vat thich tri quang tay sai suc vat ho chi minh

Những tên nổi tiếng như: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Trí Dũng,Thích Đức Nhuận, Thích Thiện Minh v…v…. Riêng hai tên Thích Nhất Hạnh và Thích Thiện Minh, trong cái gọi là « Hội nghị Tôn Giáo và Hòa Bình » tại Nhật hồi đầu tháng 10-1970, để sau đó chúng đã đẻ ra cái gọi là « Phái đoàn theo dõi Hòa Đàm Paris », mục đích là để hậu thuẫn cho Cộng sản Hà Nội. Điều này đã chứng tỏ Ấn Quang đã liên kết chặt chẽ với Cộng sản Hà Nội, bọn chúng đã biết trước về Hòa Đàm Paris, nên đã chuẩn bị trước cho bộ tứ Thích Huyền Quang, Thích Thiện Minh, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Tâm ở trong cái « Hội Nghị Tôn giáo và Hòa Bình » này.

Vì khó có thể kể cho hết những tên đã từng làm giặc trong băng đảng Ấn Quang; bới chúng quá nhiều. Tuy nhiên, tôi cũng phải nói đến một số tên với những điều mà chính chúng cũng không làm sao chối cãi cho được như:

Thích Nhất Hạnh, với những lời láo khoét như sau:

« Tại một làng nhỏ, một chiếc xe bò đang đi trên con lộ. Trên xe, một thiếu phụ ôm con, bên cạnh là bà mẹ già. Chiếc xe chất đầy tài sản của họ . Từ trên trời cao, một chiếc trực thăng Mỹ bỗng sà xuống, tiếng máy nổ và tiếng cánh quạt đinh tai nhức óc. Những con bò kéo xe sợ hãi, chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất. Mấy người lính Mỹ từ trực thăng bước xuống. Họ nói rõ: họ muốn mang người thiếu phụ đi với họ. Hai người đàn bà khóc lóc van xin, nhưng vô ích. Cuối cùng người thiếu phụ phải trao đứa con nhỏ cho bà cụ già, rồi để cho mấy người lính Mỹ đẩy lên trực thăng bay đi mất ».

Vậy, chúng ta hãy tưởng tượng thử xem:

1*__ « Tại một làng nhỏ, một chiếc xe bò đang đi trên con lộ… », Thích Nhất Hạnh tả như thấy trước mắt, thế mà hắn không viết ra được cái tên của làng ấy ở đâu? Mà chắc Thích Nhất Hạnh muốn nói đến một « làng nhỏ » trong cái đầu óc ngu xuẩn của hắn là nó ở trong một vùng mất an ninh do Việt cộng kiểm soát, chứ những nơi do chính quyền Quốc Gia kiểm soát thì không bao giờ có cái chuyện ấy xảy ra cho được.

2*__ Chiếc trực thăng của Mỹ không bao giờ dám hạ cánh xuống trên một con lộ, ở một làng nhỏ nơi Việt cộng kiểm soát, nếu không muốn bọn du kích Việt cộng chúng xúm nhau làm thịt.

3*__ Một chiếc xe bò, thì làm gì có tới « những con bò kéo xe sợ hãi chạy tứ tán », vì ai cũng biết những chiếc xe bò ở những « làng nhỏ » chỉ có từ một, đến hai con bò kéo xe, chứ làm gì có đến « những con bò », là nhiều con bò; rồi « những con bò kéo xe sợ hãi chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất ». Như thế, ta thử hỏi, những con bò kéo xe, cổ của chúng đều bị cột dính vào những chiếc xe bò; vậy, khi những con bò này chạy tứ tán, hất hai người đàn bà và đồ đạc xuống đất, thì chắc chắn là chiếc xe bò cùng đồ đạc sẽ đè hai người đàn bà và em bé ấy, không chết thì cũng bị trọng thương; nhưng Thích Nhất Hạnh đã nói cả hai người đàn bà và đứa con nhỏ của thiếu phụ kia lại không có bị trầy sướt một tí gì cả, mà còn bình tỉnh để « khóc lóc van xin những người lính Mỹ » nữa chứ.

4*__ Thích Nhấy Hạnh đã viết « mấy người lính Mỹ » là bao nhiêu??? Nên biết, Trực thăng của quân đội Mỹ có nhiều loại, nhưng không có nhiều người ở trên một chiếc trực thăng Rồi « Họ nói rõ: họ muốn mang người thiếu phụ đi với họ ». Vậy, những «mấy người lính Mỹ » đó « họ nói rõ » là họ đã nói bằng thứ tiếng gì??? Tiếng Anh, tiếng Pháp, hay tiếng Cà-Tu …??? Và hai người đàn bà đã khóc lóc van xin với mấy người lính Mỹ là họ đã nói bằng thứ tiếng gì??? Thật quái đản, hai người đàn bà nhà quê « tại một làng nhỏ » nào đó trong cái bộ óc chó của Thích Nhất Hạnh này, lại có thể nói chuyện « van xin » với người Mỹ một cách dễ dàng như vậy được?!

Trên đây, là một trong vô số những chuyện láo khoét của Thích Nhất Hạnh. Nhưng hình như có một số người đã tin vào tên Đại Láo này, như vừa qua Thích Nhất Hạnh và Cộng sản Hà Nội đã tung tin là « tăng thân Bát nhã » của Thích Nhất Hạnh bị Việt cộng trục xuất. Cái chuyện « trục xuất » chỉ là một trò để lừa bịp thiên hạ.

Vì thế, chỉ khi nào Thích Nhất Hạnh chứng minh được một cách chính xác, về những điều mà hắn đã viết về hai người đàn bà và đứa con nhỏ của thiếu phụ kia, cũng như chiếc xe bò, mà tôi đã nói ở trên là thật, thì chuyện « Việt cộng trục xuất tăng thân » của hắn mới là thật.

Còn một điều nữa là khi cái gọi là « Hội nghị tôn Giáo và Hòa Bình » gồm có bộ tứ: Thích Huyền Quang, Thích Nhất, Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Minh Tâm. Tại « Hội nghị » này, cả bộ tứ này đã đòi hỏi những điều giống như của Việt cộng đã đòi hỏi, và Thích Nhất Hạnh đã phát biểu trước báo chí của ngoại quốc bằng tiếng Anh như sau:

« I would like to repeat that this proposal is not made only by the Vietnamese Buddist delegation at this conference but is the proposal made by the whole Unified Buddist Church in Vietnam in accordance with many other Catholics, Caodaists and Taoists in VietNam.”

(Tôi muốn nhắc lại là đề nghị này chẳng phải chỉ riêng của phái đoàn Phật giáo tham dự hội nghị này, mà là đề nghị của toàn thể giáo hội Phật giáo Thống nhất ở Việt Nam với sự đồng tình của rất nhiều người Công Giáo, Cao Đài và Lão giáo khác ở Việt Nam).

Sau đó, khi bị các báo chí hỏi, có phải Phật giáo Thống nhất có quyền đại diện cho toàn thể nhân dân và Phật tử Việt Nam hay không? thì Thích Thiện Minh đã nhanh nhẩu trả lời bằng tiếng Việt như sau:

“Phật giáo đã đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam từ 11 thế kỷ rồi, và tuy ở Việt Nam cũng có một số các tổ chức Phật giáo khác, nhưng chỉ có chúng tôi là có quyền đại diện cho Phật giáo và Dân tộc Việt Nam mà thôi.”

Câu nói trên đây, đã cho mọi người đều thấy được Thích Thiện Minh đã lộng ngôn và vọng ngữ đến cái mức độ không còn biết dùng đến một từ ngữ nào để nói. Song cho đến hôm nay, thì chứng nào vẫn tật nấy, mà xem ra cái loại siêu vi nói láo nầy chúng đã nhiễm sâu vào đến tận xương, tận tủy của bọn Ấn Quang; như Thích Quảng Độ đã nói:

“Vì ở tù nên không có cả dao, kéo để cắt tóc, cạo râu – Tôi làm bốn trăm bài thơ mà chỉ để ở trong đầu, rồi còn đánh mục lục từ số một, số hai, số, ba … cho đến thứ bốn trăm”.

Riêng về cái chuyện ở tù không có dao, kéo để cạo râu và cắt tóc, mỗi lần nhớ đến là cứ làm tôi buồn cười quá đi thôi. Nên nhớ, sau ngày 30-4-1975, đã có không biết bao nhiêu vị là Quân- Cán- Chính của Việt Nam Cộng Hòa đã vào các nhà tù của Việt cộng, có vị đã ở tù hơn mười năm; nhưng sau khi ra tù có ai thấy vị nào có bộ râu dài như … tóc … của phụ nữ như Thích Quảng Độ đâu??? Ôi! ở tù, rồi về Thanh Minh Thiền Viện, vì không có tiền, nên không có được dao, kéo để cạo râu, cắt tóc; nhưng những hình ảnh đã tràn ngập trên các trang mạng điện tử với hình ảnh của Thích Quảng Độ, một tay cầm loa phóng thanh, tay kia cầm những túi tiền đem phân phát cho “dân oan” giữa ban ngày, ngay trên đường phố!!!

Và cũng vậy, nếu tất cả các vị tù nhân của các trại tù của Việt cộng, mà sau khi ra tù đều có một bộ râu dài như Thích Quảng Độ, thì cái chuyện vì ở tù nên không có dao, kéo để cạo râu, cắt tóc do Quảng Độ và Võ Văn Ái đã nói ra mới là sự thật.

Võ Văn Ái: Đường nào rồi cũng đến … Việt Weekly.

Bởi thầy trò cật ruột, thì phải truyền … nhiễm cho nhau chứ, nên vừa qua Võ Văn Ái đã ngụy biện trên trang điện báo Việt Weekly, vì bài quá dài nên tôi xin trích một đoạn như sau:

“Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng, chứ không phải đòi hỏi cướp chính quyền. Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một Quốc hội Lập hiến. Tôi có thể nói rằng, từ năm 1963 đến bây giờ chưa bao giờ Phật giáo chủ trương cướp chính quyền”.

VoVanAiFaulkner

suc vat vo van ai phan chien thoi cong hoa tay sai suc vat ho chi minh

Võ Văn Ái, lại thêm một lần nói LÁO nữa. Quả đúng như vậy, loại siêu vi nói LÁO này, cứ mỗi ngày chúng càng tăng trưởng nhanh hơn. Điều nầy đã được chứng minh bằng chính những lời của Thích Trí Dũng, người đã dựng Nam Thiên Nhất Trụ tức Chùa Một Cột ở miền Nam, chùa đã bắt đầu khởi công từ năm 1958, và chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì an ninh nên đã đưa tiền cho Thích Trí Dũng để yêu cầu ông ta đi xây chùa nơi khác; song Thích Trí Dũng không chịu, mà vẫn tiếp tục xây chùa, mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng không lấy tiền lại. Sau đó, Thích Trí Dũng còn xây thêm nhiều chùa khác như chùa Phổ Thiên, chùa Phổ Quang v…v… nhưng không phải để thờ Phật, mà để thờ …Việt cộng và súng đạn ở trong chùa. Đặc biệt Thích Trí Dũng đã công khai viết trên sách, báo với cái tựa đề “ Tài Trí Việt Nam”, chính Thích Trí Dũng đã kể lại tất cả căn nguyên, điều đáng kể là Thích Trí Dũng đã nói rõ là đã nuôi giấu tên tướng Việt cộng Trần Hải Phụng, và những tên khác thuộc Lực lượng Biệt động Thành Sài Gòn – Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng, và chính Thích Trí Dũng đã cạy nắp mộ của Ông Ngô Đình Cẩn rồi đem súng đạn, chất nổ TNT bỏ vào trong quan tài, để bắt cái xác chết của Ông Ngô Đình Cẩn phải giữ tất cả số súng đạn và chất nổ đó. Để rồi như chính Thích Trí Dũng đã nói và viết:

“ Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968: chùa Phổ Quang đã là nơi khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất”

Dù sao, tôi cũng thấy vui, vì chính Thích Trí Dũng đã viết, đã nói một cách công khai về chính sách Tự Do Tôn Giáo, dưới Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.

Xin quý độc giả hãy đọc lại bài viết: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân, 1968- 2008, mà tôi đã viết vào ngày 26-01-2008, trước Tết Mậu Tý chưa đầy hai tuần lễ, đã được đăng trên nhiều trang điện báo; đặc biệt là trên Hồn Việt có lời đọc của Ông Chính Khí Việt. Tôi muốn nói: Ấn Quang là một lũ bội nghĩa, vong ân. Ấn Quang phải biết, trước ngày 20- 7-1954, Phật giáo chỉ là Hội phật Học Thừa Thiên-Huế. Sau 20-7-1954, dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, nó đã tiến tới thành “Hội Phật Học Trung Phần”, rồi sau đó Phật giáo đã được tăng trưởng nhanh chóng, các chùa chiền và các Khuôn hội mọc lên như nấm tại miền Nam Tự Do dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Như thế, mà tên Võ Văn Ái còn dám Láo Khoét trên Việt Weekly:

“Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng…”.

Như vậy, vào năm 1958, Thích Trí Dũng đã nhận tiền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm để xây dựng Chùa Nam Thiên Nhất Trụ tức Chùa Một Cột ở Miền Nam, và nhiều chùa khác để nuôi giấu những tên Đặc công, Biệt động thành Sài Gòn – Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng; như thế là không có tự do tín ngưỡng hay sao? Vậy mà cho đến bây giờ Võ Văn Ái vẫn còn dám láo khoét công khai trên Việt Weekly, thì thử hỏi tất cả những gì Võ Văn Ái và Thích Quảng Độ đã nói và sẽ nói, thì với thời gian, những con siêu vi nói LÁO này nó sẽ tăng theo đến mức độ nào nữa chứ??? Tôi nghĩ rằng quý độc giả, trong đó có cả những người thân của tôi đã vì bênh vực Võ Văn Ái mà đã giận hờn tôi; song tôi vẫn tin rằng sẽ có một ngày rồi các vị ấy, sẽ được “khai thị”, sẽ được sáng mắt ra, sẽ thấy, sẽ biết tất cả. Như tôi đã từng viết trước đây: Xin tất cả những người thân của chúng tôi hãy hiểu cho rằng: Từ lúc chào đời, trái tim bé nhỏ của tôi vốn đã khép mình ở phía dưới của khối óc. Chính vì vậy, nên cho dù biết rằng các vị đã rất quý tôi từ bao nhiêu năm qua, nhưng tiếc rằng khối óc của tôi nó lại lớn hơn trái tim đến gấp bội, vì thế, nên tôi phải cam chịu tạm mất người thân của RIÊNG mình, hầu cho trọn vẹn được nghĩa CHUNG. Tôi nhớ trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký, tức Cô Gái Đồ Long, của Kim Dung, có một câu nói của Trương Vô Kỵ mà tôi rất thích:

“ Nếu không thể chọn được cả hai, thì phải chọn lấy cái lớn hơn”.

Và tôi đã chọn việc CHUNG, vì việc CHUNG là cái lớn hơn, mà tôi đã đặt lên trên hết.

Võ Văn Ái đã ngụy biện cho cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung, mùa hè 1966:

Ngoài việc láo khoét “ Cuộc tranh đấu của Phật giáo thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chỉ là một cuộc tranh đấu để đòi hỏi tự do tín ngưỡng…” Võ Văn Ái còn ngụy biện cho những màn chém giết trong cuộc bạo loạn mang bàn thờ Phật xuống đầy đường, trên các cống rãnh tanh hôi tại miền Trung trên tuần báo Việt Weekly như sau:

“ Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”.

Láo, Láo, Đại Láo. Võ Văn Ái là một tên gian manh, láo khoét nhất, có lẽ vì thế mà ông Trời đã đoạn đứt con người của hắn, nên tôi không bao giờ đối diện với Ái cho được. Bởi cố hữu, dù đi hay đứng, tôi cũng đều nhìn thẳng, chứ không nhìn xuống, mà cơ khổ, hễ nhìn ngang thì tôi không bao giờ thấy được mặt mũi của Võ Văn Ái, vì muốn thấy mặt Võ Văn Ái thì bắt buộc tôi phải khom lưng, sụm gối xuống, mệt lắm. Nhưng cái “ tài” nói láo thì tôi xin ngả mũ chào thua Võ Văn Ái. Và chỉ có bọn Việt – gian Cộng- sản, chúng mới gọi chung là “Thiệu-Kỳ” chứ người dân của Miền Nam Tự Do, thì không ai có thể gọi như Võ Văn Ái.

Một điều ai cũng biết là Võ Văn ái đã bỏ nước ra đi từ thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa cho đến hôm nay, Y chỉ biết những chuyện xảy ra trong nước qua những cái loa của những tên giặc Ấn Quang. Thế mà, Võ Văn Ái cũng đã lên án ông Liên Thành. Võ Văn Ái nên nhớ, ông Liên Thành đã sống, đã chiến đấu với cộng sản, để bảo vệ đồng bào tại cố đô Huế, và tôi đây, đã từng bị Việt cộng bắt vào rừng, đã bị Việt cộng đem giam ở dưới hầm đất, tôi cũng đã từng chứng kiến những cuộc thảm sát trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, mùa hè 1966, tôi đã thấy tận mắt những màn hành hạ, đánh đập trẻ em bằng gạch, đá, rồi nổ súng giết chết em Lê Quang San, 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ, của Trường Trung Học an Hải, quận 3, Đà Nẵng, là con của ông bà Lê Quang Khâm, em San đã gục chết ở phía trong cổng chùa Pháp Lâm, tại số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng, chỉ vì cái “tội” chui xuống dưới bàn Phật để tránh đạn của “ Quân đoàn Vạn Hạnh” đã từ trong chùa nầy bắn ra mà thôi. (Xin quý độc giả hãy đọc lại bài Cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966). Mà từ sau ngày 30-4-1975, đồng bào tại xóm chùa này, vì nghèo nên họ đã biến miếng đất nhỏ, trước cổng ngôi chùa này thành một cái chợ chồm hổm, vì chỉ ngồi mà bán những thứ quà vặt; và vì thương tiếc em San, nên những người dân xóm chùa đã đặt tên cho khu chợ nhỏ này là: Chợ Lê Quang San.

Và cũng chính vì cái tên Chợ Lê Quang San nầy, mà trước đây Võ Văn Ái đã giả tạo ra cái “ Thư khiếu nại” rồi nói là của “ Hòa thượng” Thích Quang Thể, đứng đầu Tăng đoàn Bảo vê Chánh pháp ra trước Liên Hiệp Quốc, để đòi phải xóa sạch cái chợ ở trước cổng chùa Pháp Lâm, nơi còn lưu dấu về một cái chết vô cùng đau đớn, với tấm thân quằn quại trên vũng máu, của em Lê Quang San . Mục đích của Ấn Quang qua Võ Văn Ái là để đuổi dân xóm chùa, không cho họ mua bán ở một khu đất nhỏ trước cổng chùa Pháp Lâm, là muốn xóa đi cái tên Chợ Lê Quang San, và để cho người dân Đà Nẵng quên đi về cái chết của em Lê Quang San.

Tôi vẫn nhớ lúc Võ Văn Ái đưa cái “Thư Khiếu Nại” giả mạo nầy của “Hòa thượng” Thích Quang Thể là “ Cố vấn Mặt Trận Tổ Quốc Trung,-Trung bộ” của Việt cộng ra trước Liên Hiệp Quốc, thì tôi đã viết một bài: Thực Chất Của Cái Gọi Là “Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp”, và đã đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong số 576, từ ngày 16 đến 31-01-2000, nơi trang 11-12-13 tiếp đến trang 75-76. Vì tôi không muốn để cho Võ Văn Ái láo khoét và không muốn để cho Võ Văn Ái, là một tên tàn ác, vô đạo, bất nhân, hắn đã cố tình để Giết em Lê Quang San một lần thứ hai nữa, hầu xóa bớt đi một trong vô số những tội ác của Phật giáo Ấn Quang.

Vây, một lần nữa tôi lại phải xin phép quý độc giả để xin được nói lên những lời này: Hỡi Võ Văn Ái vô lương, tàn ác và bất nhân! Ngươi có nghe chăng! những tiếng kêu oán hờn, những tiếng rên xiết, đớn đau, trước khi gục chết trên vũng máu, trước khi bị dập đầu, treo cổ, của những trẻ thơ, của những người đã chết thảm dưới những bàn tay của lũ côn đồ của Phật giáo Ấn Quang!!! Tất cả những oan hồn uổng tử ấy, họ sẽ đòi mạng của ngươi và của cả lũ Ấn Quang. Ngươi hãy buông đao đồ tể, hãy sám hối vì ngươi đã từng đứng trong phong trào Phản Chiến, là một cái vỏ bọc cho những hành vi Cộng sản, Vậy, ngươi chính là một tên Phản Quốc, từng tiếp tay với lũ giặc Ấn Quang để giết hại đồng bào vô tội trong suốt cả chiều dài của lịch sử cả nửa thế kỷ vừa qua.

Võ Văn Ái, ngươi hãy nghe đây: Có bao giờ người dân Việt hiền hòa lại có thể “đòi tự do tín ngưỡng – đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”, bằng cách đánh, giết trẻ thơ vô tội, rồi đốt cháy cả Tòa Thị Chính Đà Nẵng, và đốt cháy sạch sẽ luôn cả hai phường Thanh Bồ – Đức Lợi tại Đà Nẵng, 24-8-1964. Ta hỏi ngươi, tại sao các tôn giáo khác như: Cao Đài, Công Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo … họ không làm như Phật giáo Ấn Quang??? Điều dễ hiểu nhất là đa số họ không theo cộng sản, nhất là họ không phải là những tên côn đồ, đạo tặc.

Võ Văn Ái nên biết, trong suốt gần bốn thàng Trời, vào mùa hè 1966, Phật giáo Ấn Quang đã chiếm hết thành phố Đà Nẵng, bắt các vị như: Giáo sư Nguyễn Hữu Chi, tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, ông Lê Nguyên Long, Trưởng ty Thông tin Quảng Nam, Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang và đồng loạt tấn công các Trụ sở Liên hiệp nghiệp đoàn bắt giam ông Trần Hòa tổng thư ký Liên hiệp nghiệp đoàn, và cũng đã tấn công Trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Đảng bộ miền Trung trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo, và đã bắt hàng trăm cán bộ của VNQDĐ, rồi đem giam chung cùng với tất cả các vị là tù nhân Phật giáo, và các vị đã bị đánh đập trong bốn mươi ngày tại chùa Phổ Đà, tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nên biết, suốt trong thời gian gần bốn tháng ấy, Ấn Quang đã chiếm giữ và nắm quyền hành trên toàn thành phố Đà Nẵng, kể cả Đài phát thanh, chỉ còn mỗi Phi trường, mặc dù có dự định tấn công, song vì sợ quân đội Mỹ nên chưa dám làm, thì chính phủ đã kịp thời ban hành: Lệnh Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh. Vì thế, nên cái gọi là “ Chính phủ miền Trung” do Thích Trí Quang đứng đầu đã tan tành như mây khói. Võ Văn Ái hãy chờ cuốn sách sắp phát hành của ta đây, thì ngươi sẽ được nhìn thấy lại hình ảnh của Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh và cả Thích Huyền Quang “Đệ tứ Tăng thống” của Ấn Quang vào thời trai trẻ, mấy tên này đều đã được Võ Văn Ái đảnh lễ đấy, riêng Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh đã từng đi trên con đường Độc Lập tại thành phố Đà Nẵng trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966, mà ngươi đã nói:

“Thời Thiệu-Kỳ cũng vậy thôi. Cuộc tranh đấu năm 1966 cũng chỉ với mục đích đòi hỏi một chính quyền dân sự và một quốc hội lập hiến”.

Nhưng tiếc rằng, người dân Đà Nẵng đã thường nói với nhau: Phật giáo Ấn Quang đã đòi được cái mạng của một thiếu niên Lê Quang San chỉ mới 16 tuổi, đã nằm gục chết ngay ở phía trong chiếc cổng của chùa Pháp Lâm, tức chùa Tỉnh hội, của Giáo hội PGVNTN (Ấn Quang) tại số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

Về điều này, tôi đoan chắc không phải một tên Võ Văn Ái, mà bất cứ một tên nào và cả băng đảng Ấn Quang cũng không bao giờ làm được một chuyện, mà xem chừng như dễ dàng, nhưng thực ra là một công việc dời non lấp biển, đó là không bao giờ xóa được cái tên Lê Quang San ở trong lòng của người dân Đà Nẵng. Và chắc chắn sẽ có một ngày nào đó, dù là bao lâu nữa, thì tại thành phố Đà Nẵng sẽ có một nơi để:

Tưởng niệm thiếu niên Lê Quang San: Nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của Phật giáo Ấn Quang, trong cuộc bạo loạn bàn thờ Phật xuống đường, mùa hè 1966.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_SuSaiAnQuangLaNhungTenGiacNoiLao.htm

August 27, 2009 Posted by | suc vat thich don hau tay sai suc vat ho chi minh, suc vat thich duc nhuan tay sai suc vat ho chi minh, suc vat thich nhat hanh tay sai suc vat ho chi minh, suc vat thich tri quang tay sai suc vat ho chi minh, suc vat vo van ai phan chien thoi cong hoa tay sai suc vat ho chi minh, Sư Sãi Ấn Quang Là Những Tên Giặc Và Nói Láo! - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền | , , , , , | Leave a comment

SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM – Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trong phong trào các quốc gia Đông Âu đấu tranh dành lại tự do dân chủ từ tay cộng sản trước đây, thế giới được chứng kiến một biến cố quan trọng quen gọi là Mùa Xuân Prague (Prague Spring). Prague là thủ đô của Tiệp Khắc (Czechoslovakia). Mùa Xuân Prague là giai đoạn giải phóng chính trị của nhân dân Tiệp trong thời gian nước này sau Thế Chiến II bị Liên Sô thống trị. Cuộc Cách Mạng khởi đầu từ ngày 05-1-1968 khi nhà cải cách Alexander Dubcek lên cầm quyền tại Tiệp và kéo dài cho tới ngày 21-8-1968 khi hồng quân Liên Sô và các nước trong Hiệp Ước Warsaw tràn vào dập tắt công cuộc cải cách của Tiệp Khắc. Cuộc đấu tranh của nhân dân Tiệp vẫn kiên trì kéo dài dưới hình tức bất bạo động cho đến khi chế độ cộng sản bị hoàn toàn sụp đổ trong biến cố gọi là cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution) ngày 29-11-1989. Tiệp Khắc trở thành nước độc lập tự chủ, dân chủ và tự do.

Có hay không có Mùa Xuân Prague Việt Nam? Ý “Mùa Xuân Prague” trong chủ đề tập chú vào việc Liên Sô xua quân xâm lăng Tiệp Khắc, biến nước này thành một thuộc địa của Liên Sô. Do đó, nhóm chữ “Mùa Xuân Prague VN” được hiểu là việc quân đội Tầu cộng tràn xuống chiếm đóng nước ta, giống như Liên Sô chiếm Tiệp Khắc, biến Việt Nam thành quận, huyện của Tầu như trong các thời Bắc Thuộc trước kia. Dựa trên cơ sở nào để trả lời rằng có hoặc không có việc quân Tầu cộng sẽ tràn xuống xâm lược VN. Bài phân tích dưới đây rút ra từ kinh nghiệm học hỏi được của nước Tiệp Khắc bên Đông Âu để trả lời cho câu hỏi mà tiêu đề trên đặt ra và ước đoán rằng một Mùa Xuân Prague sẽ đến với Việt Nam trong một ngày nào đó, có thể không xa lắm.

I. Biến cố Mùa Xuân Prague tại Tiệp Khắc.

Đảng CS Tiệp thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 1946. Hai năm sau tức là vào tháng 2-1948 với sự hậu thuẫn của Liên Sô, đảng này đã hoàn toàn nắm quyền cai trị Tiệp Khắc, áp đặt nền chuyên chính vô sản kiểu Stalin (Stalinization *) trên toàn quốc, và tuyên bố nền cộng hòa nhân dân Tiệp (people’s republic), mặc dầu trên nguyên tắc Tiệp Khắc vẫn còn là một chế độ đa đảng. Theo giáo điều Marxit, đây là bước đầu tiến tới xã hội chủ nghĩa và sau cùng là cộng sản chủ nghĩa. Chế độ chính trị tại Tiệp Khắc rập khuôn như Liên Sô. Người VN hẳn không ai không biết chuyên chính vô sản kiểu stalin (stalinization) là cái gì, vì từng người chúng ta ít nhiều đã có kinh nghiệm bản thân. Tuy nhiên việc đảng CS Tiệp thi hành chuyên chính đã không gặp thuận lợi. Lý do là vì thứ nhất, chủ trương kỹ nghệ hóa nước Tiệp theo mô hình của Liên Sô của đảng CS Tiệp là một việc làm đi thụt lùi với thực tế nền kinh tế Tiệp Khắc. Nền kỹ nghệ của Tiệp trước Thế Chiến II sánh ngang với các nước Tây Âu, hơn hẳn các nưóc Đông Âu kể cả Nga. Lúc đó, Liên Sô chỉ được đánh giá là một nước kém mở mang trong khi Tiệp Khắc đang trên đường kỹ nghệ hóa đất nước rồi. Thứ hai, tham vọng thay đổi đường lối kinh tế của chủ tịch đảng CS Tiệp Antonin Novotny đụng phải sức cản là khơi dậy đòi hỏi phải có cải tổ chính trị. Tự do dân chủ đã là một nếp sống đã có sẵn của người dân Tiệp Khắc. Đường lối chuyên chính kiểu stalin của CS đi ngược lại nếp sống đó nên gặp phải sức chống đối quyết liệt của các tầng lớp dân chúng, nhất là của Hội Các Nhà Văn, của sinh viên và tầng lớp trí thức.

Từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp Khắc bước vào thời kỳ trì trệ nghiêm trọng, và sự chống đối của dân chúng trở nên gay gắt hơn. Đảng CS buộc phải dần dần giải trừ chuyên chính vô sản (de-stalinization *) và nới lỏng các quyền tự do dân chủ. Tháng giêng 1968, Alexander Dubcek, một người có tinh thần cải cách, thay thế Novotny làm bí thư thứ nhất đảng CS Tiệp. Ông đưa ra một đề án gọi là Chương Trình Hành Động (Action Program) để tự do hóa Tiệp với sự cam kết thi hành những việc làm cụ thể như ban hành quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, bãi bỏ kiểm duyệt, tự do hội họp, có thể thành lập chính phủ đa đảng, và nền kinh tế đặt căn bản trên việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng hơn là dựa vào nền kỹ nghệ nặng, sức lao động, và nguyên liệu thô. Tuy nhiên chương trình cải cách của Dubcek cũng chỉ mới là những hứa hẹn và có tính cách vá víu, không đi từ căn bản là dứt bỏ luôn chủ nghĩa CS, vì độc tài toàn trị luôn luôn và hoàn toàn đối kháng với tự do dân chủ cả về mặt lý thuyết lẫn hành động. Dubcek vẫn chủ trương tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marxit-Leninit, vẫn đứng chân trong Hiệp Ước Warsaw và khối Comecon. Ông chủ trương cải tổ là để giữ cho đảng CS Tiệp có một bộ mặt nhân bản hơn được gọi là mô hình mới xã hội chủ nghĩa Tiệp (new model of Czechoslovak socialism).

Việc bãi bỏ kiểm duyệt báo chí đã đưa tình thế đi nhanh hơn việc thi hành các cam kết cải cách của Dubcek và vuột khỏi bàn tay kiểm soát của ông ta. Trước tình hình đó, đảng CS Tiệp không còn cách giải quyết nào khác hơn là dùng biện pháp trấn áp để tái lập uy quyền. Nhưng kết quả ngược lại. Tình hình càng ngày càng rối ren hơn, nhất là sau khi có sự ra đời của Hiến Chương 77 vào đầu năm 1977. Lãnh đạo Liên Sô Leonid Brezhnev và các lãnh tụ CS Đông Âu khác lo sợ vị thế của khối CS bị suy yếu đi, nên Brezhnev phải cố gắng chấm dứt hay ít nhất giới hạn sự thay đổi tại Tiệp Khắc. Nhưng ông ta không thành công vì mọi sự đã trễ rồi. Cuối cùng quân đội của khối Warsaw do Liên Sô lãnh đạo đã tiến vào đất Tiệp ngày 21-8-1968 chấm dứt chương trình cải cách của Alexander Dubcek.

II. Chuyên Chính Vô Sản Tại Việt Nam

Có thể phân chia chính sách chuyên chính của VGCS ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là chuyên chính triệt để từ khi CS chiếm được miền Nam từ 1975 cho đến 1986. Giai đoạn 2 gọi là thời kỳ mở cửa từ năm 1986 đến nay. (Xin lưu ý, trong bài này, chúng tôi chỉ khảo sát chế độ CS tại VN từ 1975 trở về sau).

1. Giai Đoạn Chuyên Chính Triệt Để

Như đã thấy trên đây, đảng CS Tiệp Khắc áp dụng chuyên chính vô sản chỉ 12 năm (1948 – 1960) họ đã tự nhận ra mình lạc hướng và tìm biện pháp điều chỉnh. Biện pháp là làm theo ý nguyện của nhân dân Tiệp, trở về với con đường tự do dân chủ. Điều bất hạnh cho họ là tự do và dân chủ lại là những khái niệm mâu thuẫn với giáo điều Marxit. Bởi lẽ đó, Liên Sô rất lo sợ nên phải đem quân trấn áp và dập tắt ngay cuộc cải cách tại Tiệp.

Vấn đề VN thì có khác. Đảng cộng sản VN cũng biết rất rõ khát vọng tự do dân chủ của nhân dân, nhưng không những chúng đã không đáp ứng như Tiệp Khắc, mà còn luôn luôn dùng biện pháp đàn áp để tiêu diệt. Có thể nói rằng trong suốt 34 năm kể từ ngày chiếm được miền Nam, VGCS chưa hề bao giờ chứng tỏ một hành động cụ thể nào được coi là có ý tháo gỡ nền chuyên chính (de-stalinize), trái lại chúng luôn dùng mọi thủ đoạn để xiết chặt thêm sức mạnh của chuyên chính mà chúng gọi là bạo lực cách mạng. Xin dẫn chứng một số các thí dụ điển hình sau đây như những việc:

– Tập trung cải tạo quân cán chính chế độ VNCH và tất cả những thành phần bị chúng nghi ngờ là nguy hiểm sau khi chúng chiếm được miền Nam.

– Đổi tiền VNCH, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, đuổi dân thành thị miền Nam đi vùng kinh tế mới. Tất cả đều có mục đích bần cùng hóa người dân, biến nhân dân miền Nam thành nô lệ cho đảng CS.

– Cô lập, uy hiếp, và răn đe lãnh đạo giáo hội của tất cả các tôn giáo để tách giáo dân, tín đồ ra khỏi tôn giáo. Quốc doanh hóa các giáo hội.

– Quốc hữu hóa toàn ngành giáo dục, toàn bộ truyền thông đại chúng. Bỏ tù hầu hết những nhà văn nhà báo của chế độ VNCH.

Với những chính sách chuyên chính cơ bản trên, chỉ 4 năm sau khi VGCS chiếm được miền Nam thì mọi gia đình đã trở thành khánh kiệt, đất nước xơ xác. Xã hội miền Nam không mấy chốc đã bắt kip bước lùi của xã hội miền Bắc. Gia đình tan rã. Nhân tâm ly tán. Mọi người trở thành vô sản đồng đều. Toàn bộ sinh hoạt xã hội được các nhà văn nhà báo mô tả là một xã hội trại lính. VGCS đã thực sự nhìn thấy chúng thất bại. Nhưng thay vì tháo gỡ chuyên chính như Tiệp Khắc, chúng lại càng chuyên chính triệt để hơn và đưa ra những chính sách lừa bịp tinh vi hơn.

2. Giai Đoạn Đổi Mới hay Mở Cửa

Chuyên chính (Stalinization) mục đích là để củng cố chế độ và giữ vững đảng. Đứng trước những bế tắc chính trị và xã hội, đảng CS Tiệp đã can đảm gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinization) để cứu nguy đất nước. VN thì không thế, trong hoàn cảnh nào đảng CSVN cũng nắm vững chuyên chính. Với chính sách mở cửa, việc chuyên chính của VGCS có biến thái, nhưng thay đổi một cách rất tinh vi ngõ hầu lòe bịp dư luận.

Năm 1986, đứng trước nguy cơ bị diệt vong, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng lúc đó, đưa ra chính sách cởi trói với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”. Ý nghĩa như người ta hiểu là gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinize) để cứu đảng. Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Sự cởi trói của Linh là một quả lừa vĩ đại. Bọn báo nô trong nước chưa kịp vui mừng vì tưởng được tha hồ ăn nói thì đã lại bị khóa mõm liền tức thì. Trong khi VGCS đổi mới về kinh tế, chúng lại bóp nghẹt hơn về nhân quyền và các quyền chính trị. Và, thay vì trả lại quyền tư hữu cho toàn dân, đảng VGCS lại chỉ lo tư bản hóa các đảng viên của chúng. Chính sách đổi mới của VGCS đưa đến kết quả là đảng viên càng ngày càng trở thành giầu sụ, ngược lại dân chúng càng ngày càng nghèo kiết. Ngày nay các đảng viên đảng CS đứa nào cũng giầu sụ. Bọn này kết hợp lại thành một tầng lớp mà người dân đặt cho cái tên là “tư bản đỏ”. Lũ tư bản đỏ nắm hết mọi nguồn huyết mạch kinh tế trong nước và hoạt động y hệt như Mafia. Nói đến Mafia người ta đã sợ. Mafia nắm quyền cai trị đất nước thì người dân làm sao mà sống nổi. Đặc thù này của VGCS là một tai họa khủng khiếp nhất nhân dân VN phải gánh chịu kể từ ngày lập quốc. Bọn tư bản đỏ càng ngày càng bóc lột tàn nhẫn đến tận xương tủy người dân. Nhân dân VN vì thế càng càng càng trở nên lầm than, kiệt quệ. So sánh với Tiệp Khắc, từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp bị đình trệ khiến đời sống người dân Tiệp trở nên khó khăn. Mới chỉ là khó khăn thôi chứ chưa đến nỗi đói khổ. Ở VN, thanh niên phải bán sức lao động ở nước ngoài để nuôi gia đình. Con gái bán thân tứ xứ hầu kiếm miếng ăn. Ngay tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi xưa kia người dân có tiếng là làm chơi ăn thiệt, thế mà hiện nay nhiều gia đình trở thành thiếu ăn, thiếu mặc. Theo thống kê của một số cơ quan nước ngoài, trong những năm gần đây quả thật kinh tế VN có phát triển, nhưng sự phát triển chỉ tập trung tại một số thành thị và cho một số người nhất định là các đảng viên đảng CS và thân nhân của họ. 90% dân chúng không hưởng được lợi ích gì từ sự phát triển, trái lại họ càng ngày càng trở nên vô sản đích thực. Khoảng cách giầu nghèo càng ngày càng trở nên trầm trọng đúng với câu dân gian thường nói: kẻ ăn không hết người lần không ra. Ngay chính trong bọn cán bộ CS, có người nhận định, chỉ có trở lại chuyên chính vô sản (re-stalinize) thì mới giải quyết được vấn đề.

Từ tình trạng nghèo đói, xã hội VN rơi vào thảm trạng băng hoại đạo đức chưa từng thấy. Nền móng gia đình bật tung từ gốc rễ, trật tự xã hội hoàn toàn bị đảo lộn, những giá trị tinh thần từ hàng ngàn năm nay mất sạch, học đường là nới buôn bán chữ nghĩa và bằng cấp, tinh thần tôn sư trọng đạo đã trở thành lỗi thời, con ngưòi trong xã hội sống và cư xử với nhau bằng dối trá, lừa đảo, và bịp bợm. Một xã hội mất gốc và tan nát không có một bàn tay nào ngăn cản từ giới cầm quyền như thế, chỉ còn cách giải thích duy nhất đây chính là chính sách và đường lối của đảng VGCS. Ngu dân và lưu manh hóa người dân để dễ cai trị đã tỏ ra có một số tác dung nào đó. Cụ thể là việc VGCS sử dụng những thành phần đầu trộm đuôi cướp để trấn áp những người dân lương thiện đứng lên đòi quyền sống như chúng ta thấy trong các cuộc tranh đấu của giáo dân tại Thái Hà và Tam Tòa hiện nay. Công an lùa bọn thanh niên đầu gấu từng có tiền tích và cả chính công an mặc thường phục xông vào tấn công và hành hung những giáo dân tập trung cầu nguyện một cách hòa bình. Chủ đích của công an là khiêu khích giáo dân bạo động đánh trả bọn đầu gấu để chúng có lý do ra tay đàn áp mạnh. có thể gọi đây là phương pháp “lấy độc trị độc” trong y học cổ truyền. VGCS tạo ra một tầng lớp xấu trong xã hội và dùng nó để chế ngự những người đối lập với cường quyền. Về lâu về dài phương pháp lấy độc trị độc này không biết hiệu nghiệm đến đâu, nhưng bè lũ VGCS không có đứa nào học những lời dậy bảo của tiền nhân: nuôi ong tay áo, hay gậy ông đập lưng ông. Tất cả đó là thành quả của chính sách đổi mới. Tất cả mọi đường lối chính sách chỉ là để bảo vệ và duy trì quyền hành, nhưng đồng thời gây tác dụng ngược là tạo ra bất công và từ đó đưa đến tranh đấu.

III. Nguy Cơ Mất Nước Trước Mặt

Đặt căn bản lý luận trên định đề chân lý của Marx: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh, chúng ta có thể khẳng định rằng dưới chế độ cộng sản hiện nay, cuộc đấu tranh của nhân dân VN là tất yếu, và càng ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn chứ không thể nào giảm cường độ, bởi lẽ dễ hiểu là bất công tại VN càng ngày càng chồng chất theo thời gian chứ không bao giờ vơi đi cả. Mọi diễn biến của tình hình tự nó đi theo cái qui luật luẩn quẩn là càng đấu tranh thì càng đàn áp, và càng đàn áp lại càng đấu tranh quyết liệt hơn. Yếu tố thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân VN rõ ràng bắt nguồn từ việc áp dụng mù quáng chuyên chính vô sản (Stalinization) của đảng VGCS. Chuyên chính hay mở cửa cũng vậy, đều là con đường một chiều không có lối rẽ, thô bạo, triệt để, tàn nhẫn, và rừng rú khiến cho người dân không thể chịu đựng nổi phải đứng lên tranh đấu. Đường lối chuyên chính tại VN gay gắt và thúc bách hơn rất nhiều nếu so sánh với của Tiệp Khắc vào thời điểm Mùa Xuân Pruague. Cuộc tranh đấu này vì thế chắc chắn sẽ rất cam go.

Mặc dầu VGCS nhận thức rất rõ nguy cơ, chúng cũng đã có đề ra những biện pháp hóa giải, nhưng tựu trung chỉ là trò lừa gạt. Thí dụ như để chấn hưng đạo đức xã hội và lấy lại lòng tin của quần chúng, chúng lại bắt buộc người dân phải học tập đạo đức của Hồ Chí Minh. Muốn làm hòa với đồng bào miền Nam, nhất là những người đã bỏ nước ra đi, chúng triệt hạ nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, áp lực chính quyền Indonesia phá bỏ trại tỵ nạn Galang. Thay vì dân chủ hóa đất nước, chúng dựng lên các tổ chức ma, những tên tranh đấu cuội ở trong cũng như ngoài nước để vô hiệu hóa các hoạt động cứu quốc của những người yêu nước chân chính.

Các cuộc tranh đấu ở trong nước, đặc biệt của GH Công Giáo theo thời gian đang dần dần lớn lên trông thấỵ, từ các vụ lẻ tẻ rải rác nhiều nơi, đến Thái Hà là một xứ đạo lớn tại thủ đô, và nay đến Tam Tòa với qui mô giáo phận. Tam Tòa là một dilemma lớn đối với VGCS. Chúng không thể nào giải quyết nổi. Nếu nhưọng bộ, đảng CS chứng tỏ thế yếu. Hàng ngàn, hàng vạn Tam Tòa khác sẽ nổ ra vì người dân không còn sợ nữa. Cũng chẳng có ai sợ kẻ yếu bao giờ. Nếu VGCS thắng và thắng bằng đàn áp thì lòng căm thù CS sẽ càng được nuôi dưỡng và càng lớn lên. Một ngày nào đó lửa Tam Tòa sẽ lại bùng cháy lại. Cần làm sao tinh thần TamTòa tồn tại. Ngọn lửa Tam Tòa chắc chắn sẽ dần dần lan rộng sang các giáo xứ, giáo phận khác. Tiếp theo là đến công nhân chống bất công, đòi quyền lợi, phong trào dân oan khắp nơi đòi đất, đòi nhà, trí thức, sinh viên, học sinh xuống đường chống Tầu cộng xâm lược v.v. Cho đến khi công an và quân đội VGCS phải run sợ trước sức mạnh của nhân dân và không còn khả năng đàn áp được dân nữa thì vấn đề VN sẽ đi vào con đường cùng là quân đội Tầu cộng bắt buộc phải can thiệp.

Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao Tầu lại phải (chữ PHẢI nhấn mạnh) đem quân vào can thiệp. Có nhiều lý do, nhưng cái lý do chính là miếng mồi VN quá béo bở nuốt đã gần xong, không thể nhả ra được nữa. Và thứ hai là hiện nay không có một thế lực quốc tế nào có đủ khả năng can thiệp vào chuyện này của Tầu. Chỉ có nước Mỹ, nhưng Mỹ đang sa lầy tại nhiều nơi trên thế giới. Nhất là vào lúc này khuynh hướng phóng túng chủ bại đang nắm quyền tại Mỹ. Việc Tầu đem quân vào VN như thế là tất nhiên, nhưng có thể là do VGCS yêu cầu, và cũng có thể không.

1. Tầu can thiệp do VGCS yêu cầu – Cả cộng sản Tầu lẫn VGCS đều có nhu cầu gắn bó liên hệ với nhau mặc dầu trên căn bản chủ tớ. Điểm này thiết tưởng khỏi cần phải giải thích thêm vì đã quá hiển nhiên rồi. Có 3 lý do khiến đảng VGCS phải cầu cứu quận đội Tầu che chở. Thứ nhất, Chúng ta đã rõ, đối với VGCS thì thà để mất nước chứ không bao giờ chịu mất đảng. Nếu VGCS đã dám bán đất bán biển để mưu sự tồn tại thì tại sao chúng không dám yêu cầu Tầu đưa quân bảo vệ khi sinh mạng đảng của chúng bị lâm nguy? Thứ hai, VGCS đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân dân VN, cái tội ác lớn nhất là tội bán nước, cho nên chúng không còn con đường quay trở lại với Tổ Quốc nữa vì sợ nhân dân trả thù. Thứ ba, mỗi tên VGCS, nhất là từ cấp ủy trở lên hiện nay đều là triệu phú dollar. Chúng rất sợ mất cái đầu, sợ mất tiền bạc, và sợ gia đình khó tránh họa, nước đến chân không còn chạy đi đâu được nữa.

Hiện nay quân đội Tầu đã sẵn sàng ở biên giới, ở Hải Nam, ở Trường Sa và Hoàng Sa. 375.000 lính tầu dưới cái vỏ công nhân đang làm việc tại VN chỉ cần thay áo mang súng vào là thành một đạo quân hùng mạnh rồi. Các làng Tầu ở Móng Cái, Hải Phòng, Hội An, Đà Nẵng, Chợ Lớn, Hà Tiên cũng có thể là những trại lính Tầu sẵn sàng hữu dụng khi cần đến. Tuy nhiên cũng có thể là cả Tầu lẫn VGCS sẽ cần đến một tờ giấy lộn quen gọi là “Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương” để một bên tránh bị mang tiếng xâm lược, và bên kia không bị mang tiếng bán nước. Hiệp ước này có thể đã có sẵn, cũng có thể sẽ có trong tương lai. VGCS sẽ dựa vào cơ sở pháp lý này để cầu cứu với Tầu cho có hình thức phải đạo. Nên biết rằng có tới trên 2/3 thành viên Trung Ương đảng CS Tiệp biểu quyết chống việc Liên Sô chiếm đóng Tiệp. VGCS hẳn sẽ không được như thế.

2. Tầu tự động can thiệp không do VGCS yêu cầu – Cho dù vạn nhất VGCS không yêu cầu can thiệp thì Tầu cộng cũng sẽ đem quân chiếm đóng VN vì lý do như đã trình bầy trên. Còn có lý do khác mang nét đặc thù Hán tính là tham vọng bành trướng của người Tầu. Tầu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội xâm lăng VN. Xưa nay người Tầu vốn coi VN là một phần lãnh thổ của Tầu, là cửa ngõ giao thương, cũng là bức tường giống như Tây Tạng, Tân Cương, Triều Tiên che chắn cho nước Tầu được kín đáo. Vì thế, nhân cơ hội này Tầu không can thiệp mới là chuyện lạ. Xưa nay lý của kẻ mạnh bao giờ cũng hữu lý. Trong bến cố Mùa Xuân Prague, Brezhnev đã tự đưa ra học thuyết (doctrine) riêng để đem quân vào Tiệp Khắc: Liên Sô có quyền can thiệp bất cứ khi nào một quốc gia trong khối Đông Âu có ý định chạy theo chủ nghĩa tư bản (U.S.S.R has the right to intervene whenever a country in the Eastern Bloc appeared to be making a shift towards capitalism). Tại sao Hồ Cẩm Đào lại không biết đưa ra một học thuyết tương tự? Như chúng tôi vừa nói, lý của kẻ mạnh luôn luôn là có lý kia mà.

IV. Kết Luận

Đã có người la lên: mất nước rồi! Mất nước rồi! Tiếng kêu la thảm thiết này không phải là không có lý do. Xét về nhiều mặt, VN thực tế kể như đã mất nước rồi. Về kinh tế, dân ta xài đồ Tầu tới 70%. Về văn hóa, người Việt đọc truyện Tầu, xem phim ảnh Tầu từ thành thị đến thôn quê. Về chủ quyền quốc gia, các vi phạm lãnh thổ, lãnh hải, bắn giết ngư dân không lãnh đạo VN nào dám mở miệng. Người Tầu ra vô VN không cần giấy tờ gì hết. Về lãnh đạo, chóp bu là một thằng Nùng ngu si ngốc nghếch, con rơi của thằng Hồ bán nước, hai thằng nắm thực quyền điều hành đất nưóc hiện nay là Nguyễn tấn Dũng thủ tướng, và Nguyễn Chí Vịnh tổng cục trưởng T2 an ninh tình báo là anh em ruột, con của thằng Nguyễn Chí Thanh, một tên tay sai trung thành tuyệt đối của Tầu cộng. Như thế không mất nước thì còn là gì? Có hai cách mất nước. Mất nước êm thấm như kiểu mưa dầm thấm đất, và mất nước qua một cuộc xâm lăng ồ ạt. Mất nước kiểu mưa dầm thấm đất thì hiện chúng ta thấy rồi đấy. Chỉ còn chuyện này là một ngày nào đó Bộ Quốc Gia Giáo Dục VGCS bắt các thầy cô dậy con em: Tổ tiên chúng ta là người Hán thì chỉ chừng ba, bốn thế hệ nữa, con Rồng cháu Tiên sẽ biến thành con cháu Văn, Võ Đế là xong thôi. Rất tiếc trước đây Thống Chế PéTain dậy trẻ nít Annam: tổ tiên ta là người Gaulois (nos ancêtres sont des Gaulois) trễ quá. Nếu ông cầm quyền nước Pháp lâu tí nữa thì có lẽ chúng ta biến thành tây Phú Lãng Sa hết rồi. Còn như mất nước qua việc quân Tầu ồ ạt tràn sang chiếm đóng nước ta thì không chừng lại là cái may. Chắc chắn sẽ có chết chóc, sẽ có tàn phá, và sẽ có khổ đau. Nhưng thà là thế, chúng ta sẽ có được nhiều lợi thế. Lợi thứ nhất là cái biến cố sẽ làm thức tỉnh toàn dân Việt để mọi người đoàn kết cứu nước. Ai yêu nước, ai theo giặc sẽ lòi ra hết thôi. Lợi thứ hai là chúng ta có bằng chứng cụ thể để đánh thức lương tri và lương tâm thế giới. Họ sẽ giúp đỡ chúng ta. Cho dù mất nước cách nào thì cũng là Mùa Xuân Prague đến với Dân Tộc VN. Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm (1968 – 1990) mới dành lại được độc lập tự chủ. Còn VN thì bao lâu chưa thể biết trước được. Cha ông ta chiến đấu chống Tầu cả ngàn năm kia mà.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(*) Trong bài này quí bạn đọc gặp các chữ Chuyên Chính hoặc Chuyên Chính Vô Sản và Tháo Gỡ Chuyên Chính mà chúng tôi dịch từ các chữ Stalinization và de-Stalinization trong tiếng Anh. Thật ra Chuyên Chính, chữ tương đương trong tiếng Anh ngưòi ta thường dùng là Totalitarianism hoặc Dictatorship, và Tháo Gỡ Chuyên Chính tức Dân Chủ Hóa, chữ tương đương là Democratize. Ở đây chúng tôi dịch chữ theo cái ý của sự việc, nếu có sai ngữ pháp thì xin quí vị thứ lỗi cho. Thành thật cám ơn.

Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm mới dành lại được độc lập tự chủ, còn VN thì không thể biết được là bao lâu.

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_SeCoMuaXuanPragueVietNam.htm

August 17, 2009 Posted by | SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM - Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất | | Leave a comment

súc vật thích quảng độ súc vật võ văn ái phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh hãy xem gương đấu tranh của giáo dân Tam tòa

súc vật thích quảng độ súc vật võ văn ái phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh hãy xem gương đấu tranh của giáo dân Tam tòa


Sóng thần Tam Tòa tiếp tục nổi dậy! – Trần Thanh

2009_08_16_TamToa1_Tranthanh

2009_08_16_TamToa2_Tranthanh

Ngày 15/8/2009 tiếp tục là ngày Lịch Sử khi có trên HAI TRĂM NGÀN giáo dân Công Giáo thuộc giáo phận Vinh xuống đường biểu tình, tố cáo tội ác của bọn việt gian cộng sản. Lúc 8 giờ sáng, các con đường dẫn đến xã Ðoài đã bị tắc nghẽn vì dòng xe cộ đủ loại của các giáo dân nườm nượp đổ về, cờ xí của giáo hội tung bay rợp trời. Ðồng bào ở hải ngoại nhìn thấy những hình ảnh phóng sự trên internet, không khỏi kính phục tinh thần đấu tranh dũng cảm, bất khuất của đồng bào trong nước nói chung và của giáo dân Công Giáo thuộc giáo phận Vinh nói riêng. Xin nhớ, con số HAI TRẰM NGÀN NGƯỜI không phải là ít! Và đây mới là cuộc ra quân sơ khởi của giáo hội Công Giáo để dằn mặt bọn giặc. Trong tương lai, có thể sẽ có những cuộc biểu tình trên quy mô toàn quốc, từ MƯỜI ÐẾN HAI MƯƠI TRIỆU NGƯỜI mà lực lượng nòng cốt sẽ là các đồng bào Công Giáo! Hai mươi triệu người là một phần tư dân số, thừa sức lật đổ chế độ cộng sản! Bọn việt gian cộng sản phải liệu hồn. Chính toàn dân sẽ là người đào hố chôn cái chế độ cộng sản phi nhân, tàn ác của chúng bay!

Những kẻ ác đã và đang bức hại những con cái của Chúa, chắc chắn sẽ bị NGÀI trừng phạt!

Người viết bài này đã xem đi xem lại những hình ảnh phóng sự sống động, nóng hổi, được gởi ra từ trong nước rất kịp thời và càng xem thì càng kính phục khí thế đấu tranh rất dũng cảm của đồng bào trong nước. Ai dám nói dân tộc Việt Nam là hèn? Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Toàn đâu, nhân dịp này hãy chống con mắt lên mà xem để thấy ai hèn? Người dân hèn hay những tên dân chủ cuội hèn? Ngày tàn của chế độ cộng sản đã điểm rồi. Toàn dân sẽ cùng nhau đứng dậy để làm một cuộc cách mạng Tháng Tám lần thứ hai!

THỬ SO SÁNH HAI CUỘC BIỂU TÌNH:
Cách đây khoảng 11 năm, tại phố Bolsa, tiểu bang California, có tên khùng Trần Văn Trường treo cờ máu của việt cộng và hình tên Hồ tặc trong tiệm sang băng lậu của hắn. Việc làm ngu xuẩn này của hắn đã chọc giận cộng đồng người Việt tỵ nạn, đưa đến một cuộc biểu tình kéo dài suốt 55 ngày đêm, mà cao điểm, có nhiều lúc số lượng người tham gia đã lên đến khoảng 20 ngàn người!

Người viết bài này đã tham gia cuộc biểu tình trong nhiều đêm và đã chứng kiến nhiều hình ảnh rất đẹp và cảm động. Trong nhiều đêm, có những buổi văn nghệ tự phát do khoảng 200 nghệ sĩ từ khắp nước Mỹ và nhiều nước khác cùng về tham dự. Họ đã thay phiên nhau ca hát nhạc đấu tranh liên tục, suốt từ chiều đến 10 giờ đêm! Số lượng khán giả ban đêm lên đến khoảng 20 ngàn người, tất cả đều ngồi bệt dưới đất, cùng vỗ tay ca hát với các nghệ sĩ, hát những bản nhạc đấu tranh hùng tráng chống cộng sản. Các đài truyền hình lớn nhất của nước Mỹ như CNN, CBS, NBC đều có máy bay trực thăng, “đậu” ngay trên đầu khán giả để làm truyền hình phóng sự trực tiếp!

Xen lẫn giữa những tiết mục văn nghệ là những lần đồng bào và các nghệ sĩ cùng nhau hô vang câu khẩu hiệu “đả đảo cộng sản”. Trong đêm tối, tiếng thét của 20 ngàn đồng bào đã vang đi rất xa, tới mức những cư dân ở cách xa khoảng 10 cây số vẫn còn nghe!

Một điểm hết sức đặc biệt là tuy số người biểu tình tập trung rất đông đảo như vậy nhưng lực lượng cảnh sát Mỹ tại địa phương không phải nhọc công làm việc để duy trì trật tự. Lý do vì tinh thần tự giác của đồng bào rất cao. Ðông đúc đến như thế, người đứng chật cứng các nẻo đường, vậy mà không hề có một vụ xô xát hay một sự việc đáng tiếc gì xảy ra. Ngoài ra, những cựu quân nhân VNCH đã tự động đứng ra làm trật tự viện, điều hành giao thông, giữ gìn an ninh, trật tự. Tuy không phải là cảnh sát viên, không mang súng ống nhưng những sự hướng dẫn của họ đều được đồng bào tuân hành răm rắp.

Sau 10 giờ đêm, đồng bào tự động giải tán để trả lại sự yên tĩnh cho khu phố. Tuy nhiên, luôn luôn có khoảng 100 người tình nguyện ở lại, thức trắng đêm để phong tỏa, bao vây tiệm sang băng lậu của tên Trần Văn Trường. Trước khi ra về, đồng bào, theo sự kêu gọi của ban tổ chức biểu tình đã tự động thu dọn vệ sinh rất sạch sẽ, đến mức sáng ngày hôm sau không có ai ngờ nơi khu phố ấy, vào ban đêm đã từng có 20 ngàn người ngồi bệt dưới đất biểu tình hàng 5,6 tiếng đồng hồ! Những người tình nguyện đêm không ngủ đều được đồng bào trong khu phố Bolsa đem bánh mì, cà phê, thuốc lá, tiếp tế rất dồi dào. Mọi người đều đối xử với nhau hết sức thân mật như anh em một nhà vì tất cả cùng chung lý tưởng quyết tâm chống cộng tới cùng, nhất quyết không bao giờ để cho lá cờ máu có cơ hội xuất hiện tại hải ngoại. Ngọn lửa ái quốc đó đến ngày hôm nay – 11 năm sau – vẫn còn giữ vững, bằng chứng là lá cờ máu của giặc cộng vẫn không thể nào mọc mũi sủi tăm được, vừa ló mặt chỗ nào là bị đồng bào ta triệt hạ ngay lập tức. Ðiều này làm cho bọn việt gian cộng sản tức hộc máu mồm!

* Những điểm tương đồng giữa hai cuộc biểu tình, Bolsa và giáo phận Vinh:

– Cả hai cùng có chung mẫu số là đấu tranh cho Công Lý và Tự Do.

– Những người biểu tình có tinh thần tự chế cao, có kỷ luật trật tự.

– Những người biểu tình có ý chí đấu tranh rất cao, sẵn sàng hy sinh những việc riêng cho mục tiêu đấu tranh chung cho toàn dân tộc.

– Những người biểu tình đều rất căm thù bọn giặc việt gian cộng sản phản dân, hại nước.

* Những thuận lợi của cuộc biểu tình tại phố Bolsa:

– Biểu tình tại nước Mỹ, nơi mọi quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng.

– Cảnh sát giữ gìn trật tự cho những người biểu tình được tự do thể hiện những quyền của người dân được ghi trong hiến pháp.

* Những thuận lợi của cuộc biểu tình tại giáo phận Vinh:

– Những người biểu tình là những người Công Giáo có Ðức Tin, được Ðấng Toàn Năng che chở.

– Họ là những người có tổ chức, có đoàn thể, do Giáo Hội Công Giáo lãnh đạo.

– Số lượng người trực tiếp tham gia khoảng 250 ngàn người và sẽ còn tăng mạnh trong những đợt sắp tới! Những lời cầu nguyện của họ sẽ chắp cánh bay đi khắp thế giới!

– Họ được toàn dân trong và ngoài nước ủng hộ, được sự hậu thuẫn của trên một tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên toàn thế giới.

* Những khó khăn của cuộc biểu tình tại giáo phận Vinh:

– Những người biểu tình đang chiến đấu ngay trước mũi súng AK của kẻ thù. Họ đang trực tiếp chiến đấu ngay trong hang hùm, ổ rắn!

– Bọn việt gian cộng sản đang tìm đủ mọi cách để phá hoại hàng ngũ của những người đấu tranh bằng cách gây nên sự chia rẽ giữa các giáo dân và những người ngoại đạo.

– Bọn giặc thuê mướn bọn côn đồ, xã hội đen trà trộn vào hàng ngũ giáo dân để hành hung các tín đồ.

Tuy nhiên, càng khó khăn, nguy hiểm, càng nhiều thử thách chừng nào thì càng chứng tỏ những đức tính sáng ngời của người Công Giáo, ví như vàng thật không bao giờ sợ lửa!

Những người Công Giáo trong nước đã dám công khai chiến đấu, thách thức ngay trước họng súng của kẻ thù, cái chết có thể nói là trong gang tấc. Bọn giặc đã đàn áp, đánh đập các giáo dân và ngay cả các linh mục đến đổ máu nhưng điều này không làm cho những người Công Giáo nhụt chí mà trái lại họ càng đấu tranh mạnh mẽ hơn trước.

Qua so sánh hai cuộc biểu tình tại Bolsa và Vinh, chúng ta thấy rằng cuộc biểu tình tại giáo phận Vinh khó khăn và nguy hiểm hơn gấp bội phần. Ðiều này đã làm cho toàn dân và cả thế giới phải kính phục và nhiệm vụ của chúng ta tại hải ngoại là phải ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi hỏi Công Lý của các giáo dân Công Giáo trong nước.

NHỮNG ÐIỀU ÐÁNG GHI NHẬN:

Qua hai lần “diễn tập”, tại tòa Khâm Sứ Hà Nội và tại Thái Hà, lần này cuộc đấu tranh của giáo hội Công Giáo tại Vinh đã tiến lên một bước rất mạnh mẽ. Ðó là họ đã tát thẳng cánh vào mặt kẻ thù chớ không cần lịch sự, ôn hòa như trước nữa. Một vài ví dụ:

1. Bản Thông Cáo số 3, ban hành ngày 27/7/2009 của Tòa Giám Mục Giáo phận Vinh đã gọi thẳng bọn công an là những “quân vô lại”! Ðây là lần đầu tiên trong suốt hơn 60 năm cầm quyền, bọn việt gian cộng sản đã bị một cơ quan của Giáo Hội Công Giáo tát thẳng vào mặt bằng một văn bản có ký tên đóng dấu hẳn hoi!

Ðối với bọn giặc cướp nước, bán nước thì phải tát thẳng vào mặt bọn chúng như vậy là đúng!

2. Trong lần biểu tình ngày 15/8/2009 lần này, chúng ta thấy những băng rôn với những câu khẩu hiệu lên án bọn giặc rất mạnh mẽ mà trong suốt 60 năm nay chưa có bất cứ một tôn giáo, đoàn thể nào – kể cả những cuộc biểu tình được tổ chức tại hải ngoại – dám căng những tấm băng rôn như vậy! Ví dụ:

– Cầu nguyện cho giáo dân Tam Tòa bị công an Quảng Bình đánh đập dã man và bắt giữ.

– Chính quyền Quảng Bình hãy ngừng ngay hành động man rợ!

– Chính quyền Quảng Bình phải chịu quả báo về hành động của mình!

– Cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về Công Lý và những người yêu mến Giáo Hội.

Những người Công Giáo đã lên án thẳng thừng chính quyền cộng sản là CHÍNH QUYỀN MAN RỢ! Chúng ta ai cũng biết, chỉ có loài quỷ dữ hoặc ác thú mới man rợ mà thôi; loài người, kể cả bọn côn đồ cũng chưa chắc đã dám man rợ, ví dụ như ăn thịt người! Và họ đã công khai giương tấm biểu ngữ này ngay trước mắt kẻ thù!

(Họ lên án như vầy là đúng vì bọn công an Quảng Bình đã hăm dọa sẽ băm xác những vị linh mục rồi quăng xác của họ xuống biển cho cá ăn!)

Bây giờ, xin hỏi mấy tổ chức đấu tranh ở hải ngoại, liệu có tổ chức nào dám căng những tấm biểu ngữ như những đồng bào trong nước đang làm hay chưa? Xin nhắc lại, họ đang làm những việc này ngay trước họng súng của kẻ thù, chớ không phải tại những nơi rất an toàn như ở hải ngoại! Hay là các vị lại viện cớ “người quốc gia là người lịch sự, có học”, không thể dùng những lời lẽ nặng nề đối với kẻ thù!

(Ðây chỉ là ngụy biện của những tên hèn nhát hoặc đấu tranh cuội, tay sai của cộng sản)

Những người trong nước đang trực diện đấu tranh với kẻ thù, cái chết có thể đến với họ trong gang tấc, và họ đã dám tát thẳng vào mặt kẻ thù những cái tát như trời giáng. Trong khi đó, tại hải ngoại, những người biểu tình (do băng đảng Việt Tân tổ chức) thì y như những con rùa rụt cổ, trốn kỹ trong cái mu rùa, trân trọng gọi bọn giặc là “chính quyền Hà Nội” hoặc “nhà cầm quyền Hà Nội”!

Thật là hèn nhát và nhục nhã, những kẻ đấu tranh cuội do băng đảng Việt Tân lèo lái! Những kẻ này không đáng đi xách dép cho những giáo dân Công Giáo đang đấu tranh ở trong nước! Sống tại hải ngoại, ở ngoài vòng kềm tỏa của bọn giặc mà hèn nhát như thỏ đế, nhục còn hơn con chó! Ðáng lẽ các giáo dân thuộc giáo phận Vinh phải là những người được định cư tại Mỹ mới đúng. Họ mới xứng đáng là những người tỵ nạn đúng nghĩa. Còn những tên đấu tranh cuội tại hải ngoại do bọn Việt Tân lèo lái, thì nên bị tống cổ về nước, nhốt trong mấy cái chuồng khỉ trong sở thú để cho du khách quốc tế tới chiêm ngưỡng!

Mỗi một giáo dân Công Giáo trong nước là một chiến sĩ thật sự chớ không phải là … âm binh, lính ma, lính kiểng, mười ngàn quân kháng chiến tại biên giới Thái Lan của mặt trận Phở Bò, ngày nay biến dạng thành băng cướp Việt Tân!

3. Trong bài viết của linh mục Nguyễn Văn Thống, tựa đề “Giáo phận Vinh mừng Mẹ Lên Trời, Ngày lịch sử 15/8/2009”, đã đề cập, đã có 6 vị thánh tử đạo thuộc giáo phận Vinh, từ thời chúa Trịnh đến THỜI CỘNG SẢN CAI TRỊ. Thầy Phê Rô Nguyễn Khắc Tự bị xử giảo năm 1940.

Ðiều này cho thấy, đã có thánh tử đạo do bị bọn việt gian cộng sản sát hại. Do đó, cuộc đấu tranh của các giáo dân thuộc giáo phận Vinh ngày hôm nay cũng trên tinh thần sẵn sàng làm thánh tử đạo.

4. Hai tấm hình chụp được đưa lên mạng làm cho chúng ta phải khâm phục tinh thần đấu tranh của những linh mục và các con chiên của họ.

Một tấm hình cho thấy một vị linh mục hiên ngang đi đầu đoàn biểu tình gồm hàng ngàn người với biểu ngữ và cờ xí rợp trời. Vị linh mục không khác gì vị tướng, luôn dẫn đầu đoàn quân ra trận! (Chớ không phải là …. biểu tình tại gia, biểu dương lực lượng và lòng “dũng cảm” bằng cách nằm trùm mền dưới gầm giường!)

Một tấm hình khác cho thấy hai thiếu nữ, khoảng chừng 14 tuổi, cầm tấm bảng với giòng chữ “Tam Tòa Vững Tin”. Hai em cũng dẫn đầu đoàn biểu tình gồm toàn thiếu nữ. Khẩu hiệu “Tam Tòa Vững Tin” cũng là một cái tát vào mặt bọn việt gian cộng sản! Các giáo dân đã xác định họ luôn “VỮNG TIN” thì có khác gì thách đố bọn giặc! Ðặc biệt sự thách đố này do các em nữ, tuổi mới chừng 14!

5. Không những các giáo dân không sợ bọn giặc, lên án bọn giặc mà còn RĂN ÐE bọn chúng bằng câu khẩu hiệu: “Chính quyền Quảng Bình phải chịu QUẢ BÁO về hành động của mình”.

Như vậy, chúng ta thấy cường độ đấu tranh của đồng bào Công Giáo trong nước ngày càng mạnh. Họ vừa lên án, vừa tấn công và răn đe bọn giặc. Giai đoạn “xin-cho” đã qua rồi. Bây giờ là lúc phải đứng thẳng lên để đấm vào mặt kẻ thù! Ðấu tranh ngay trong lòng địch mà họ đã dám tấn công bọn giặc thì chúng ta phải rất bái phục, kêu họ bằng thầy! Câu khẩu hiệu “Quả Báo” này chính là một cú đấm thẳng vào mặt bọn giặc, chớ không phải là một cái tát!

Chúng tôi tin chắc là nếu đưa câu khẩu hiệu này cho mấy tổ chức “đấu tranh” ở hải ngoại thì chắc là không ít kẻ sẽ tái xanh mặt, run như cầy sấy, không dám giương biểu ngữ lên. Họ sẽ viện cớ khéo léo “người quốc gia lịch sự” để từ chối!

KẾT LUẬN:

Nhìn hình ảnh, biết chiến thắng. Những tấm hình phóng sự đã làm cho những người ở hải ngoại tin tưởng vào lực lượng đấu tranh ở trong nước. Có những người vừa xem hình xong đã phải buột miệng kêu lên: “Cách mạng tháng Tám đến nơi rồi!” Phải nói là những giòng người cuồn cuộn đi biểu tình, khí thế hừng hực làm cho những người ở hải ngoại cũng lên tinh thần, muốn về nước để tham gia. Riêng đối với bọn công an thì vừa cầm súng vừa … run! Dường như có uy lực linh thiêng nào đó từ trên cao làm cho bọn giặc chỉ còn cái hình thức hung hăng bên ngoài nhưng trong lòng tên nào cũng thấp thoáng thấy cái ngày tàn của chế độ cộng sản đã tới rồi!

Mong rằng, các tôn giáo khác trong nước như Phật Giáo, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo hãy nhanh chóng nhập cuộc đấu tranh, yểm trợ cho “sư đoàn dù” Công Giáo. Nếu tất cả mọi tôn giáo cùng đồng lòng đoàn kết chặt chẽ, cùng nhất loạt nổi dậy thì bảo đảm chế độ việt gian cộng sản sẽ không có cơ hội để tổ chức “đại hội Việt kiều” vào cuối năm nay hoặc đại hội đảng lần thứ 11 vào năm tới!

Xin được ngả nón chào kính phục các đồng bào Công Giáo trong nước đang dũng cảm đối đầu với bọn việt gian cộng sản.

Trần Thanh
Ngày 16 tháng 8 năm 2009

http://tinparis.net/vn_index.html

August 16, 2009 Posted by | Sóng thần Tam Tòa tiếp tục nổi dậy! - Trần Thanh, súc vật thích quảng độ súc vật võ văn ái phản chiến thời cộng hòa tay sai súc vật hồ chí minh hãy xem gương đấu tranh của giáo dân Tam tòa | , | Leave a comment

What is the ‘Feed over Email’ system?

What is the ‘Feed over Email’ system?

The US government is testing ‘Feed over Email’, a new technology that will allow web users in countries with internet censorship to bypass the blocks put in place by their political leaders. Here, we explain what FoE is, and how it works.

In countries such as Iran and China, access to information is tightly controlled. Newspapers and television stations have traditionally been state-run, toeing the party line, but the internet age has made it much more difficult for governments to ensure citizens are not exposed to controversial or contradictory information, or news from other countries that may inflame the anger or sensibilities of the populous.

China, famously, has its “Great Firewall”, an internet filter designed to prevent access to pornography, unapproved news websites, and even information about the banned group Falun Gong. The Great Firewall “sniffs out” web searches for censored material, and when it matches those searches against a blacklist of topics or words, access to those sites is halted on the servers.

The Chinese government has abandoned plans to roll out its Green Dam software on every computer in the country. This tool would effectively have bought censorship directly in to the home, stopping at source any searches or web use deemed inappropriate by the government.

None the less, it demonstrates the determination of repressive regimes to crack down on free access to information, and has sparked efforts from outside organisations to ensure such technical constraints can be circumvented.

Feed over Email is one of the most recent efforts. It’s a new technology being pioneered by the Broadcasting Board of Governors, a US federal agency, to get around the blocks put in place by government censors.

Traditionally, one of the ways governments have been able to block access to information has been by blacklisting the unique internet protocol address used to identify “inappropriate” sites. Websites can get around this by changing their IP addresses, or sending users to proxy servers, which disguise which site the user is attempting to connect to. But governments are growing increasingly savvy, and continuously block the new IP addresses and proxy servers as they are assigned, engaging websites in an endless and impossible cat-and-mouse game.

So, researchers are looking at ways of harnessing existing internet technologies to avoid this problem, which is where Feed over Email comes in. Sho Ho, a researcher for the Broadcasting Board of Governors, believes email could be the solution.

Internet users in China or Iran would need to open an email account with a company based outside of their own country, such as Yahoo! and Google’s Gmail, to overcome one of the first initial censorship hurdles. That would then allow them to use their email as what Ho calls a “proxy-less RSS reader”.

In other words users could be sent a specially formatted email containing feeds from external news outlets. It would be similar to sending an email with HTML code in it, says Ho, and could prove to be the ideal workaround.

The user would decide what news feeds they want to receive, and when the Feed over Email server receives their request, it would be able to email those feeds back to the user’s email address and display the feeds on the user’s screen, without them needing to retrieve those articles from the internet.

Ho says that although the process sounds complicated, the system is actually relatively easy to use, and the RSS feeds can be quickly erased if the user comes under scrutiny from the authorities. Feed over Email is flexible enough to handle not only text-based news feeds but also small files and podcasts. In time, the service might even be able to be applied to mobile phones, allowing people in countries where that’s the predominant means of accessing the internet to enjoy the same kind of freedom of information as those using computers.

http://www.telegraph.co.uk/technology/6028780/What-is-the-Feed-over-Email-system.html

August 15, 2009 Posted by | What is the 'Feed over Email' system? | | Leave a comment

suc vat nguyen chi thien tay sai suc vat ho chi minh

suc vat nguyen chi thien tay sai suc vat ho chi minh


Nguyễn Chí Thiện Soán Đoạt Thi Phẩm Vô Đề – Lê Trung Nhân

NguyenChiThien_1

suc vat nguyen chi thien tay sai suc vat ho chi minh

Kính thưa các bậc Cao Minh Tiền Bối

Thưa quý độc giả trong nước cũng như hải ngoại.

Loạt bài viết này xác định về con người thật của thi sĩ Vô Danh người đã viết ra tập thơ Vô Đề. Trong gần 30 năm qua hàng trăm ngàn độc giả người Việt cũng như người ngoại quốc đã nêu ra nhiều nghi vấn chung quanh tập thơ Vô Đề để xác nhận tác giả Vô Danh. Hôm nay để giải đáp các câu hỏi đó trong loạt bài viết này Lê Trung Nhân xin đưa ra một cái nhìn rất mới để đọc giả khắp nơi hiểu thêm về con người thật của tác giả Vô Danh qua tập thơ Vô Đề. Những giải đáp này dựa trên các câu thơ trong tập thơ Vô Đề một thiên trường ca bất tử của nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh tiêu diệt tập đoàn Việt Gian Hồ Chí Minh cũng như các thế lực gian ác đã và đang tiếp tay giúp đỡ bọn Việt Gian Cộng sản hiện nay.

Trong một dịp nào đó một người “Anh ?” đưa tập thơ này cho ông Châu Kim Nhân. Sau đó tập thơ này đã đến tay ông chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong. Ông chủ nhiệm VNTP đã cho in tập thơ này để phổ biến theo sự mong ước của tác giả, với tên tác giả là Khuyết Danh (Vô Danh), dưới tên đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam” do nhà sách Tú Quỳnh in ấn và phát hành vào năm 1980. Nhưng tập thơ đã bị một nhóm người vì mưu đồ bất chính họ đã phỏng tay trên cho in ra và đặt tên cho tập thơ Vô Đề là: “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”, nhưng vẫn để là tác giả Khuyết Danh …

Theo một nguồn tin “mật” đến nay đã được tiết lộ cho người viết thì chẳng có người Anh hay nhân viên sứ quán Anh nào từ Hà Nội đưa tập thơ ra hải ngoại cả . Nhắc lại: Không có người Anh hay nhân viên sứ quán Anh nào từ Hà Nội đưa tập thơ ra hải ngoại. Nhưng một điều chắc chắn người viết có thể tiết lộ là tập thơ Vô Đề được đưa ra hải ngoại do một Linh Mục từ Việt Nam đem ra nước ngoài . Thời gian này Đức Thánh Cha John Paul II vừa lên ngôi Giáo Hoàng. Ngài nhậm chức vào ngày 16 tháng 10 năm 1978. Tức khoảng một (1) năm trước khi tập thơ Vô Đề được một Linh Mục nói trên mang đi từ Việt Nam ra ngoại quốc để phổ biến. Thời gian tới đây sẽ tiết lộ thân thế vị linh mục khả kính này. Ngài đã không quản ngại và bất chấp đến cái chết có thể đe dọa tính mạng của ngài để mang tập thơ Vô Đề ra hải ngoại …. Đến nay tháng 8/2009 có lẽ Hà Nội khi đọc bài viết này mới biết rằng mình đã bị một quả lừa để đời. Nhưng đã muộn .

Sau đó Cộng sản Hà Nội vì nhìn thấy những nguy hiểm với những vần thơ trong tập thơ Vô Đề có sức thuyết phục quần chúng trong và ngoài nước rất cao, nên chúng vội vàng tung ra một nhân vật có xuất sứ rất mơ hồ tên là Nguyễn Chí Thiện. Vậy ai tạo dựng lên chuyện Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề từ năm 1980? Và với mục đích gì!. Phần dưới đây Lê Trung Nhân sẽ lần lượt phân tích từng bài thơ một để so sánh sự khác biệt giữa Nguyễn Chí Thiện người đã soán đoạt tập thơ Vô Đề, đồng thời để hàng triệu độc giả Việt cũng như ngoại quốc hiểu thêm sự thật và con người rất thật của Nguyễn Chí Thiện hiện đang sống tại Hoa Kỳ .

Tác giả Vô Danh là ai mà ông đã dâng hết trái tim yêu cho tổ quốc Việt Nam, ông là ai mà ông đã dâng hết cả cuộc đời của ông cho đất nước trong công cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù Cộng sản cũng như kẻ nội thù tay sai cho Cộng Sản. Tác giả Vô Danh không muốn ai tuyên dương ông, tác giả Vô Danh chỉ muốn mọi người Việt Nam phải hiểu thật rõ tội ác của bọn thực dân đỏ Cộng sản. Tập thơ Vô Đề đã trở thành bia miệng lịch sử cho nhiều thế kỷ nữa để cho ngàn đời sau hiểu rằng đã có một giai đoạn trong thế kỷ 20, dân tộc Việt đã bị chính những kẻ Nội Xâm, Nội Thù Cộng sản du nhập một chủ nghĩa và chính sách cai trị bóc lột nô lệ người Việt Nam kinh khiếp nhất gọi là Cộng sản Mác Xít, Lê Nin Nít do Hồ Chí Minh đem về để tàn phá đất nước và dân tộc Việt Nam tới mức kiệt quệ, diệt chủng như chúng ta đã nhìn thấy ngày hôm nay .

Trong đống bùn Cộng sản hôi thối nhơ nhớp đã nở ra một đóa “Hoa Vô Danh” chúng ta có thể gọi là đóa “Hoa Sen Vô Danh”. Hoa Sen Vô Danh đã sống và nở lên giữa lòng chế lao tù Cộng sản, dù đang sống trong cảnh đau khổ đày đọa nhưng ông vẫn nuôi một ý chí mãnh liệt là phải phanh phui, tố cáo, tội ác của bọn ác quỷ lưu manh, tàn bạo tàn ác, tự nhận là Cộng sản, chúng đã làm cho cả nước Việt đã trở thành một trại tù cung cấp lao động nô lệ. Ông phải tố giác tội ác của chúng cho cả thế giới này hiểu rằng: toàn dân Việt đã trở thành tù nhân nô lệ của chế độ sài lang Cộng sản. Con người Việt Nam từ trẻ con cho đến người già đều bị chúng bắt ở tù trong, tù ngoài, tù đủ cách, đủ kiểu, nhân dân Việt Nam đã bị một bọn quỷ mang mặt người cộng sản hành hạ bằng đủ loại cực hình, làm cho toàn thể dân tộc Việt đang sống dở, chết dở.

“Hoa Sen Vô Danh” ông đã kín đáo làm thơ diễn tả nỗi kinh hoàng của cả một dân tộc phải sống dưới ách tàn bạo nghiệt ngã của Cộng sản, cảnh tù tội khủng khiếp mà hàng nhiều triệu người dân Việt đã và đang phải gánh chịu. “Hoa Sen Vô Danh” (tác giả Vô Danh) muốn phổ biến tập thơ mang theo tất cả nỗi cơ hàn tủi nhục của cả dân tộc Việt phải được đem ra cho thế giới biết, cho nhân loại và cho hậu thế, mà không bao giờ nghĩ đến được vinh danh hay nổi danh và nhất là để lãnh giải thưởng dù là giải thưởng nào. Tác giả Vô Danh hiện nay đang sống đâu đó trên mảnh đất Việt Nam , có thể sau khi tiêu diệt Cộng sản xong thì người ta mới có thể công bố tông tích của ông ? Nhưng dù muốn hay không có lẽ sau này chúng ta phải đặt ra một Ủy Ban truy tầm tung tích thi sĩ Vô Danh để chúng ta có thể vinh danh ông trước lịch sử, trước dân tộc, trước Văn Học Quốc Gia và Thế Giới.

Tác giả Vô Danh có lẽ cũng không muốn đưa ra tên tuổi để ông được nổi danh, nổi tiếng, nguyện vọng duy nhất của ông là tập thơ làm bằng máu và nước mắt của cả một dân tộc cũng như của ông đã làm trong khoảng 20 năm dài phải được phổ biến với thế giời bên ngoài. Tập thơ đã thể hiện sự đau khổ thầm lặng và ghê rợn của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới bạo quyền Cộng sản công an trị! Hoa Sen Vô Danh là người duy nhất có đủ tài năng thực hiện những án văn thơ bất tử để thể hiện sự đọa đày của cả ột dân tộc trong ngục tù Cộng sản. Khi tập thơ được đưa ra hải ngoại thì tập thơ tồn tại với lịch sử văn học trong dân gian, và được phổ biến thành tài liệu chống Cộng, trở thành nhân chứng bia miệng về tội ác Cộng sản, và đó là điều quan trọng và cần thiết, nên thời đó Cộng sản Hà Nội vô cùng lo sợ. Vì vậy chúng phải lập ra cả một kế hoạch rộng lớn và tinh vi để đối phó tình hình cũng như chận đứng các cuộc cách mạng bạo lực có thể xảy ra trên cả nước .

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung tập thơ Vô Đề, thì Hà Nội đã tìm được một người tương đương về tuổi tác với ông Vô Danh, nhưng kiếm một người có trình độ Pháp văn khá như thi sĩ Vô Danh ở miền Bắc vào năm 1980 có lẽ không phải dễ! (đọc giả nên nhớ Nguyễn Chí Thiện không biết Pháp mà chỉ được cho học thuộc lòng vài đoạn văn Pháp và học thuộc lòng một số truyện Tây phương. Điều này đã được chứng minh tại khách sạn Ramada Inn qua sự “giảo nghiệm” đọc văn “chính tả” của bà chủ nhiệm chủ bút hệ thống báo Sài Gòn Nhỏ là bà Đào Nương – Hoàng Dược Thảo. Ban đọc cũng có thể xem buổi “giảo nghiệm” này qua hệ thống youtube – link dưới đây .

Toàn bộ buổi họp báo Nguyễn Chí Thiện ngày 25-10-2008 tại Little Saigon – Nam California. phần 5/12

http://www.youtube.com/watch?v=9-egPeaV0DM

http://www.youtube.com/user/vietnamexodus

Dù sao thì người ta cũng chỉ biết đến Nguyễn Chí Thiện sau năm 1979, hay là sau khi tập thơ Vô Đề của thi sĩ Vô Danh đã được phổ biến tại hải ngoại. Sau khi đào tạo và huấn luyện Nguyễn Chí Thiện trở thành tác giả “tập thơ Vô Đề”, Cộng sản đã cho lệnh các báo chí ngoại vi của chúng ở hải ngoại phải gây ấn tượng với tên tuổi Nguyễn Chí Thiện chính là tác giả tập thơ Vô Đề, đến nỗi mỗi người Việt hải ngoại đều yên chí tác giả Vô Danh chính là Nguyễn Chí Thiện! Những người được Cộng sản cho xuất ngoại để phao tin và làm “nhân chứng” như: ông Trần Nhu và Minh Thi cũng được Cộng sản gài khéo cho ở cùng “tù” với Nguyễn Chí Thiện, để ông Thiện “đọc thơ” cho họ nghe và gây ấn tượng là họ đã gặp thi sĩ Nguyễn Chí Thiện!

Người viết bài này kính cẩn mong rằng thi sĩ Vô Danh dù tuổi đã cao nhưng cầu chúc cho ông có nhiều sức khỏe. Nếu ta hiểu Cộng sản thì chúng ta phải hiểu rằng chúng lợi dụng bất cứ một tình huống nào để đạt mục tiêu tuyên vận chính trị của chúng ở hải ngoại. Lê Trung Nhân cũng sẵn sàng đón nhận mọi sự đóng góp thêm, kể cả sự phê phán của quí độc giả để giúp cho vấn đề lịch sử, một nghi án thơ văn, được sáng tỏ, rõ ràng.

Tháng 11 năm 1995, một con bài rất đặc biệt và quan trọng của Cộng sản Hà Nội có tên là Nguyễn Chí Thiện đã được đưa sang Mỹ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, Nguyễn Chí Thiện có một lý lịch quá khứ rất mơ hồ và nhiều mâu thuẫn. Mặc dù Cộng sản Hà Nội đã nhiều năm khổ công đào tạo dàn dựng con bài Nguyễn Chí Thiện, nhưng sau một thời gian ngắn đến Mỹ nhiều người đã nhìn ra chân tướng Nguyễn ChíThiện một tên gián điệp văn hóa. Đặc biệt nhất là về lý lịch của Nguyễn Chí Thiện do chính Nguyễn Chí Thiện tự khai rất mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Ví dụ như về cuộc đời “tù” đến những 27 năm dài của Nguyễn Chí Thiện “bị” cùm kẹp, tra tấn, đói khát và nhất là Nguyễn Chí Thiện bị “bệnh” ho Lao đến thời kỳ thứ 3 (hết thuốc chửa trị). Nhưng hiện nay vào tháng 8 năm 2009 người ta vẫn còn thấy Nguyễn Chí Thiện khỏe mạnh dù tuổi đã 70 nhưng Nguyễn Chí Thiện hút thuốc lá liên miên và không có triệu chứng bệnh tật gì cả và theo lời của nhà văn Phan Nhật Nam cũng là “hiền huynh của Nguyễn Chí Thiện cho biết thì Nguyễn Chí Thiện đã hút hết 1 bao (gói) thuốc lá mỗi ngày. Mặc dù trước đây Nguyễn Chí Thiện có tiết lộ rằng Nguyễn Chí Thiện bị bệnh “Ho Lao” và “mỗi lần ho như vậy thì tôi (Thiện) khạc ra cả cốc máu” (sic) (xin đọc giả vào địa chỉ website dưới đây để nghe lại). Nay trong loạt bài: Nguyễn Chí Thiện Soán Đoạt Thi Phẩm Vô Đề. Lê Trung Nhân xin lần lượt nêu lên hàng trăm điểm mâu thuẫn vô lý chính cá nhân rất thật của Nguyễn Chí Thiện nói ra và tư tưởng của tác giả Vô Danh trong tập thơ Vô Đề (từ đây xin gọi là tác giả Vô Danh và thơ Vô Đề để dễ nhớ), mà từ nhiều năm qua ít có ai đọc và để ý từng bài từng câu thơ trong tác phẩm trường ca Vô Đề bất tử này .

Thường thì trong lãnh vực tình báo, gián điệp thì người ta có thể hóa trang, giả dạng, đánh cắp các tài liệu mật, đánh tráo các tin tức có tính cách bí mật quốc gia để làm “phản tin”. Người A có thể hóa trang thành ông B ..v.v.. điều này đối với các tay tổ gián điệp nhà nghề thì thật rất dễ dàng như họ lấy đồng trong túi . Nhưng riêng tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh thì thật là khó đánh tráo hay ăn cắp . Vì sao ? Vì Tư Tưởng thì không bao giờ có thể đánh cắp hay đánh tráo được . Quả thật trong tập thơ Vô Đề tác giả Vô Danh đã tiên đoán được điều này và ông đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tập thơ của ông , vì lẽ viết trước cho nên ông đã dùng những ngôn từ cũng như mốc thời gian và đặc biệt là tư tưởng của ông đã lồng trong nhiều bài thơ , khiến cho đối phương nếu có đánh tráo hay đánh cắp cũng trở nên phản tác dụng, vì không hiểu tư tưởng của tác giả trong tập thơ Vô Đề đã chuyên chở những gì và thơ (tôi) tâm sự hay nói với ai (“bạn hay Thù”). Vì vậy nhân vật Nguyễn Chí Thiện đã có một thời gian dài do nhiều tổ chức tình báo thượng thặng bao che, nhưng cuối cùng rồi thì cũng bị lật mặt và ngày nay rõ ràng Nguyễn Chí Thiện là tên tình báo gián điệp cho Cộng sản Hà Nội đang nấp dưới vỏ bọc người quốc gia để chống Cộng dùm cho đảng và để cứu đảng thoát khỏi tình hình bế tắc và đặc biệt là những bế tắc từ giữa năm 2008 cho đến nay .

Trong loạt này viết này Trung Nhân sẽ lần lượt nêu ra từng bài thơ một, từng điểm cũng như từng mốc thời gian trong tập thơ Vô Đề, để chứng minh Nguyễn Chí Thiện là người không có tư tưởng đấu tranh gì cả . Nguyễn Chí Thiện chỉ là người được Hà Nội và giới “tình báo” … Tầu đào tạo để soán đoạt tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh với nhiều dụng ý … (trong một bài khác sẽ viết ra . Loạt bài viết này Lê Trung Nhân chỉ chủ ý cho đọc giả khắp nơi hiểu rằng Nguyễn Chí Thiện chỉ là một tên tay sai được đưa sang Mỹ để đánh lừa người Việt tị nạn Cộng sản). Nhưng tựu chung lại thì vẫn là ngăn chận một cuộc cách mạng võ lực có thể xảy ra bởi những người Việt Quốc gia Chân chính trong nước cũng như hải ngoại .

Mời quý đọc giả đọc bài “Nếu Một Ngày Mai” là một trong 198 bài thơ trong tập thơ Vô Đề để thấy Nguyễn Chí Thiện không đủ tuổi đời và sự hiểu biết để viết ra bài thơ này, thì làm sao Nguyễn Chí Thiện có thể viết ra nhiều bài thơ khác trong tập thơ Vô Đề ?!

Bài 1:

“Nếu Một Ngày Mai …”

1) Nếu một ngày mai tôi phải chết

2) Thời lòng tôi cũng chẳng tiếc đời xuân

3) Đời đáng yêu đáng quý vô ngần

4) Song đau khổ đã cướp phần hương sắc

5) Trong đêm vắng nhìn sao buồn xa lắc

6) Hồn chìm buông theo quá vãng thời gian

7) Trong phút giây quên thực tế bạo tàn

8) Quên tất cả nỗi cơ hàn cay đắng…

9) Giòng lịch sử đưa tôi về mấy chặng

10) Những lâu đài cung điện thuở vàng son

11) Cảnh hiển vinh kiệu võng với lọng tròn

12) Cảnh hàn sĩ canh tàn còn đọc sách

13) Tôi gặp lại những nhà nho thanh bạch

14) Sống an bần, xa cách bụi phồn hoa

15) Những gái quê trong trắng, hiền hòa

16) Ngồi giặt lụa bên bờ hồ nước tóe

17) Tôi mơ thấy những hội hè vui vẻ

18) Những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong

19) Tôi vuốt ve bao hình ảnh trong lòng

20) Tim còn vọng tiếng hò ngân bát ngát

21) Tiếng nhịp nhàng thoi cửi lướt trên khung

22) Tôi mến yêu cảnh rừng núi mịt mùng

23) Đầy hiểm bí và tràn lan sức sống

24) Tôi thương nhớ cả tiếng cồng báo động

25) Cả những con đường, những hắc điếm âm u

26) Cảnh chiến chinh ngựa hí với quân hò

27) Tôi cũng thấy tâm hồn tôi đuối đắm!

28) Tại làm sao? Rõ ràng tôi biết lắm

29) Cuộc đời xưa còn có những vua quan

30) Bao bất công còn đầy rẫy lan tràn,

31) Sao tôi chỉ mơ toàn hương sắc thắm

32) Toàn sắc mầu lộng lẫy đượm hồn thơ

33) Mà lãng quên bao bóng dáng nhạt mờ?

34) Phải chăng vì cuộc sống bây giờ

36) Đầy ung độc tự buồng gan, lá phổi

36) Còn xưa là mụn lở ở da thôi!.

Thơ Vô Đề tác giả Vô Danh (1960)

Bài thơ trên tác giả Vô Danh viết vào năm 1960 được chia ra làm 7 đoạn. Trong đó có 5 đoạn ngắn mỗi đoạn 4 câu và 2 đoạn dài hơn 4 câu. Đoạn số 5 từ câu 17 đến câu 23 (7 câu). Đoạn 7 từ câu 28 đến câu 36 (9 câu). Người đọc thơ chỉ nhìn cách sắp câu thơ thì cũng đã hiểu tác giả viết bài thơ này phải có dụng ý rõ ràng.

1) Nếu một ngày mai tôi phải chết

2) Thời lòng tôi cũng chẳng tiếc đời xuân

3) Đời đáng yêu đáng quý vô ngần

4) Song đau khổ đã cướp phần hương sắc

Từ câu 1 đến câu 4 tác giả rất yêu mến cuộc đời nhưng hiện tại cuộc sống quá đau khổ khi nhìn chung quanh người người ai cũng than oán và nếu sống mà không làm gì được cho cuộc sống, cho xã hội (cuộc đời) này được hạnh phúc thì thà như chết đi để không nhìn thấy cảnh đau khổ nửa, cho nên khi ông đang sống hôm nay nhưng chỉ muốn mình được chết ngày mai thôi .

Câu 1 &2 Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 thì đến năm 1960 mới 21 tuổi thì làm sao có thể “chẳng tiếc đời xuân”. Câu 3&4 “song đau khổ đã cướp phần hương sắc”, “cướp phần hương sắc” câu này chúng ta phải hiểu rằng tác giả đã lớn hơn cái tuổi 21 và được nhiều người biết đến trong quá khứ nên mới có “hương” (có danh tiếng) và nay “hương” đã bị “cướp” (ám chỉ công sản) mất đi nên ông mới viết rằng “cướp phần hương sắc”. Hương và sắc đã mất cũng là thời của tuổi trai trẻ đã qua đi .Vì cuộc sống hiện tại dưới sự cai trị của tập đoàn sài lang Cộng sản, ông đã nhìn thấy thân ông cũng như những người chung quanh ông đã sống quá đau khổ.

5) Trong đêm vắng nhìn sao buồn xa lắc

6) Hồn chìm buông theo quá vãng thời gian

7) Trong phút giây quên thực tế bạo tàn

8) Quên tất cả nỗi cơ hàn cay đắng…

Từ câu 5 đến câu 8. Trong những đêm tối tác giả ngồi hồi tưởng lại thời gian quá khứ đã đi xa vào quên lãng, bỗng trong giây phút phải đối diện với thực thế quá tàn bạo của chế độ sài lang Cộng sản, trong lòng tác giả như bừng lên sức sống quên đi những nỗi cơ hàn, cay đắng, tàn bạo trước mắt. Trong những đêm vắng lặng ngồi nhìn các vì sao trên trời tác giả hồi tưởng lại cuộc đời đã qua. “Quá vãng thời gian” là cả một quá khứ xa xôi, chứ trong một thời gian ngắn 5 hay 7 năm thì không thể gọi là quá vãng thời gian được. Câu 6 “quá vãng thời gian” là cả một quá khứ xa xôi.Vậy Nguyễn Chí Thiện ở tuổi (21) của năm 1960 thì không thể gọi là “quá vãng thời gian”

9) Giòng lịch sử đưa tôi về mấy chặng

10) Những lâu đài cung điện thuở vàng son

11) Cảnh hiển vinh kiệu võng với lọng tròn

12) Cảnh hàn sĩ canh tàn còn đọc sách –

9) Giòng lịch sử đưa tôi về mấy chặng .

Tức là thời gian sinh hoạt của lịch sử dài đăng đẳng, lịch sử quá khứ cuộc đời của tác giả chia ra làm “mấy chặng”. Từ câu 9 đến câu 12 tác giả hồi tưởng lại thời gian của cuộc đời mình đã thấy đã sống qua nhiều chặng đường lịch sử của đất đất nước.

10) Những lâu đài cung điện thuở vàng son .

11) Cảnh hiển vinh kiệu võng với lọng tròn

Vậy “lâu đài cung điện thuở vàng son” là tuổi nào? Thuở nào. (lập lại) Chí Thiện sinh năm 1939 đến năm 1960 Nguyễn Chí Thiện được bao nhiêu tuổi để thừa hưởng “lâu đài cung điện” của “thuở vàng son”. Gia đình Nguyễn Chí Thiện thì nghèo hèn. Vì “Bố mẹ chỉ có cái nhà ở phố Lò Đúc phải bán đi (vào năm 1956) chữa bệnh “hết mẹ” nó cả tiền” (sic) (lời của Nguyễn Chí Thiện), thì làm sao Thiện có “cái “thuở vàng son”?!. Năm 1945 Cộng sản đã vào Hà Nội thì Nguyễn Chí Thiện chỉ mới được 6 tuổi làm sao Thiện có được cái “thuở vàng son”. Năm 1954 chia đôi đất nước thì Nguyễn Chí Thiện với 16 tuổi đầu (tuổi hỉ mủi chưa sạch) thì làm sao Thiện biết được “Cảnh hiển vinh kiệu võng với lọng tròn”.

Trong lứa tuổi nào trước năm 1945 (trước khi Cộng sản vào Hà Nội) thì mới còn thấy được cảnh ông Nghè vinh qui có kiệu võng có lọng tròn. Vậy xin lấy mốc thời gian vào năm 1945 thì tác giả bài thơ này đã ở tuổi 20 hay 25 tuổi có học, gia đình khá giả nên ông có đi thi, cho nên ông mới đủ hiểu biết để mơ cái cảnh vinh qui có võng, có lọng. Cảnh ông Nghè vinh qui bái tổ thì mới có cảnh: “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau”. Vậy chắc rằng sinh năm 1939 thì không bao giờ được thấy để có thể mơ mộng cái “cảnh hiển vinh kiệu võng với lọng tròn”.

Người và cảnh phải sống cùng thời và xảy ra trong thời đại đang sống đó nên tác giả mới nối tiếc quá khứ để viết ra lời thơ trên.

12) Cảnh hàn sỉ canh tàn còn đọc sách. Khi Cộng sản vào chiếm Hà Nội vào năm 1945 thì chắc chắn không bao giờ còn nhìn thấy “cảnh hàn sỉ canh tàn còn đọc sách”. Năm này (1945) Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 mới lên 6 tuổi (lập lại). Và một điều chắc chắn là khi Cộng sản vào Hà Nội năm 1945 thì tất cả các sách vở xưa chúng thường gọi là sách vở “đồi trụy” của thời phong kiến phải bị “trưng thu” (tịch thu) và cấm đọc. Nên cảnh các “hàn sỉ canh tàn còn đọc sách” thì rõ ràng là cảnh các ông Đồ Nho xưa trên dưới 30 tuổi, nằm chong đèn đọc sách vào ban đêm. Thời Pháp đã Tây học rồi mà hàn sĩ vẫn còn nối tiếc thuở xa xưa Nho học, nên hàn sĩ vẫn sống cảnh thanh bần và vẫn còn đọc sách (Nho học). Vì sau năm 1945 miền Bắc là xã hội Cộng sản và dĩ nhiên là không bao giờ còn có Nho Học trong xã hội Cộng sản.

13) Tôi gặp lại những nhà nho thanh bạch

14) Sống an bần, xa cách bụi phồn hoa

15) Những gái quê trong trắng, hiền hòa

16) Ngồi giặt lụa bên bờ hồ nước tóe

13) Tôi gặp lại những nhà nho thanh bạch

14) Sống an bần, xa cách bụi phồn hoa

Khi người Pháp ký hiệp ước để vào lại Việt Nam thì đã không còn một xã hội Việt Nam với ông Nghè, ông Tú, ông Cử (tri huyện) có một đời sống thanh bạch hơn người, những thành phần Nho Học này đã không còn có địa vị trong xã hội như trước. Người Pháp họ loại bỏ các khoa thi Nho ông Nghè, ông Tú, ông Cử để trám vào đó bằng ông Huyện, ông phủ, ông thư ký lục hay ông Tham Tá . Nên thời đó có thơ rằng:

* Biết rày thuở trước đi làm quách

* Chẳng ký không thông cũng cậu bồi.

Tú Xương

Những người như ông Tú Xương, ông Cử đã thất thời lỡ vận, họ bị loại hẳn ra ngoài lề xã hội, họ sống nghèo nhưng thanh bạch, thì cảnh sống này phải là cảnh sống ở thôn quê chứ không thể là cảnh sống thành phố ở Hà Nội hay Hải Phòng nơi Nguyễn Chí Thiện sinh ra và lớn lên. Vì lỡ vận nên những lớp người này họ đã lui về quê ẩn thân, tránh xa nơi phồn hoa đô hội của thị tứ. Những nhà Nho này đã “sống an bần xa cách bụi phồn hoa” đây cũng là cảnh sinh thái của xã hội thôn quê miền Bắc, miền Trung Bắc thời đó.

Vậy chắc chắn tác giả tập thơ Vô Đề phải là người lớn tuổi sinh và lớn lên trước năm 1930 và chắc chắn cả miền Bắc sau năm 1945 thì không ai còn biết hay nghe nói đến “những nhà Nho thanh bạch” có lối sống thanh bần khép kín này nửa .

15) Những gái quê trong trắng, hiền hòa

16) Ngồi giặt lụa bên bờ hồ nước tóe

2 câu này diễn tả cảnh bình yên của một xã hội mà cảnh sống này chỉ có trước năm 1945 mà thôi. Thời đó mỗi tỉnh thì có 1 hay 2 xã ví dụ như Nam Định thì có xã phương Đễ Diệp, làng Hành Thiện hay làng Báo Đáp thì mỗi làng như vậy họ có hàng trăm khung cửi, khi các cô gái đã dệt xong vải thì đem đi giặt, nhưng vải thì vẫn còn sợi nên họ phải đem ra suối ngâm nước, ngâm nước xong rồi đập, đập xong thì ngâm với hồ. Sau đó lại đem phơi, vải ngâm hồ phơi khô thì lúc đó vải mới cứng lên để xếp thành xấp vải. Vậy thì năm 1945 trở đi thì tất cả đều phải trưng dụng vào hợp tác xã, trai gái thì xung vào các khu “hợp tác xã” hay đi vào “du kích” để khủng bố hay bắn giết đồng bào hoặc canh chừng lẫn nhau, thì làm sao còn có “những gái quê trong trắng, hiền hòa”, còn đâu cái cảnh “với em anh chăn tầm, với em anh dệt lụa, ta sẽ là vợ chồng !”. Cảnh ngâm vải để “giặt lụa bên bờ hồ nước toé” chắc chắn không thể xảy ra trong xã hội Cộng sản sau năm 1945. Một điều đọc giả và các thế hệ sinh sau năm 1945 hay sau này nên nhớ rằng: những cô gái dệt vải, dệt lụa không phải là những gia đình nghèo khó. Mà ngược lại những cô gái này là con cái của những gia đình khá giả vào thời trước năm 1945, nhà nào nuôi tằm dệt lụa, hoặc dệt vải phải là những gia đình giàu có, chỉ một khung cửi dệt vải thì xem như là một gia sản lớn của những gia đình nghèo khổ rồi. Vậy sinh vào năm 1939 thì Nguyễn Chí Thiện đã “thấy” cảnh dệt lụa này ở đâu ? hay Nguyễn Chí Thiện đã “sống” với cảnh này vào lúc nào để nhìn cảnh gái quê trong trắng … ngồi dệt lụa? . Nếu thấy thì thấy khi nào với cái tuổi lên 6 này để viết thành thơ ?!

17) Tôi mơ thấy những hội hè vui vẻ

18) Những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong

19) Tôi vuốt ve bao hình ảnh trong lòng

20) Tim còn vọng tiếng hò ngân bát ngát

21) Tiếng nhịp nhàng thoi cửi lướt trên khung

22) Tôi mến yêu cảnh rừng núi mịt mùng

23) Đầy hiểm bí và tràn lan sức sống

17) Tôi mơ thấy những hội hè vui vẻ

18) Những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong

Câu 17 trên đây thiết nghĩ ở đây phải mở một dấu ngoặc để giải thích cho đọc giả khắp nơi hiểu rõ thế nào là “hội hè vui vẻ”.

Đối với phong tục tập quán của người Việt Nam tự xa xưa, đất nước Việt đã là một đất nước nông nghiệp, nên người Việt từ xưa chỉ có đi làm vào vụ mùa mà thôi. Tức là mùa lúa chín thì đi gặt lúa hoặc vào mùa đi cấy lúa. Lúa mùa chín vào tháng 5 thì đi gặt, khoảng tháng 6 thì hết việc. Ngày đi gặt đem lúa về, để đến đêm đêm mới đập lúa. Trăng tháng 5 thì sáng tỏ và trong vắt nên trai gái thức suốt đêm vừa hát, vừa hò, vừa đập lúa và những ngày mùa như vậy với “những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong” thì đâu đâu cũng vui như ngày hội mở .

Trong một năm người dân sống trong cảnh thanh bình đó họ chỉ làm việc chừng độ 3 tháng rưởi thì xong việc. Sau đó rồi nghỉ ngơi vì nhà nông thì chỉ có bao nhiêu việc làm đó thôi. Vì là một nước văn minh nông nghiệp cho nên họ thảnh thơi, vì thảnh thơi mới có nhiều lễ hội đình đám. Vì vậy từ ngàn xưa trong dân gian ông cha ta đã có những câu ca dao như sau:

– Tháng giêng ăn Tết ở nhà

– Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

– Tháng tư đong đậu nấu chè

– Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng 5

…………………………………..

Ca Dao

“Tôi mơ thấy những hội hè vui vẻ”. Miền Hà Đông cách Hà Nội vài chục cây số, từ Bông Đỏ đi vào thì có “hội Chùa Hương”. Bài thơ “đi Chùa Hương” của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đã nói lên cảm nghĩ của ông khi ông đi dự lễ “hội Chùa Hương” (* xin xem bài Đi Chùa Hương ở phần cuối). Lễ “hội Chùa Hương” được tổ chức gần một tháng chứ không phải vài ngày, nên lễ hội Chùa Hương này đã qui tụ rất đông người, có thể nói thời đó mà có khoảng 500 ngàn người từ khắp nơi xa xôi họ đổ về Hà Đông để dự buổi lễ hội này. Từ Thanh Hóa trở ra cách khoảng 160 cây số từ người giàu có đến kẻ trung lưu hay người nghèo, đâu đâu người ta cũng tấp nập đổ về đây xem lễ hội này. Người giàu có thì đi ngựa hay võng lộng. Người nghèo thì cơm nắm, gạo gói thì họ gánh hay quảy và đi bộ. Đây là hình ảnh rất thật của hội Chùa Hương trong những ngày lễ hội như bài thơ “đi Chùa Hương” thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đã mô tả.

Lễ hội chùa Thầy ở Quảng Yên thì tổ chức khoảng 10 ngày. Chùa Vạn Kiếp thờ Đức Thánh Trần, chùa Linh Tự thờ Tướng quân Trần Khánh Dư. Nam Định thì có hội Đồng Phù. Lễ Hội đền Mẹ Liễu Hạnh tức Công Chúa Tiên Dung. Lễ hội từ đầu tháng 3 cho đến mồng 10 tháng 3. Lễ hội 2 vị Nữ Anh Hùng Trưng Trắc, Trưng Nhị. Từ Nam Định, Thanh Hóa, Thái Bình hàng vạn bàng dân, người người chen nhau đi xem lễ hội như nước chảy, đường đi rợp người. Còn những lễ hội khác như: Bơi Đăm, Rước Giá, Hội Thầy, Bơi Thuyền, Hội Đánh Cờ Người (nữ sĩ Hồ Xuân Hương có mô tả qua bài thơ “Cờ Người”). Trai gái đứng xen lẫn vào nhau chen nhau để xem hội vô cùng vui nhộn . Tiếng cười tiếng nói không lúc nào dứt. Chứng tỏ những lễ hội và cảnh tả như trên không thể nào có được sau năm 1945 lúc đó Nguyễn Chí Thiện mới lên 6 tuổi. Vậy chắc chắn cảnh tượng này không bao giờ có trong tư tưởng của Nguyễn Chí Thiện để Thiện có thể “cảm hứng” và viết ra những vần thơ trên.

Ở đây chúng ta phải hiểu tác giả tập thơ Vô Đề chắc chắn phải sống và lớn lên trong những thập niên 30’s, 35’s và 40’s, nên ông mới có thể ngồi mơ tưởng nhớ lại thế nào là “thấy những hội hè vui vẻ” mà ông đã diễn tả những cảnh “hội hè” ở câu 17.

Từ sông Lục Đầu ngoài biển đi vào chừng 10 cây số nơi đó có đền thờ Đức Thánh Trần mà con dân Việt ai ai cũng biết đó là đền Vạn Kiếp, đi qua đền Vạn Kiếp chừng 10 cây số nửa thì đến đền thờ đức Trần Khánh Dư gọi là đền Linh Tự. Ngày xưa “hội hè” ở những khu đền này vô cùng đông đúc. Vào ngày lễ hội những ông Từ chăm sóc đền thờ tự thường để trước đền một cái Nông (nông lớn bằng 3 cái nia dùng để phơi thóc – lúa) để đựng tiền do khách thập phương khắp nơi tụ tập về lễ hội vui chơi ở đây họ tặng tiền (loại tiền kẽm ngày xưa) cho đền để hương khói quanh năm. Người cho 1 đồng, 5 đồng 10 đồng họ bỏ vào cái nông này. Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo thì chỉ có một nông đầy tiền, còn đền thờ Đức Trần Khánh Dư có đến 3 cái nông nhưng tiền đầy nông và còn chảy rớt ra bên ngoài đất. Nói như trên để thấy rằng văn hóa người Việt Nam chúng ta từ xưa cho đến nay không chuộng Vua nhưng chuộng những công thần và thờ người Anh Hùng. Vậy dịp đây xin viết lại những sự kiện lịch sử để các em, các cháu nhỏ ngày hôm nay hiểu được cũng như biết thêm về văn hóa của người Việt Nam chúng ta .

Trong thời nhà Trần 3 lần đánh đuổi quân Mông Cổ. Trận Vân Đồn (Vân Đồn tức vịnh Hạ Long bây giờ) là trận chiến quyết định chiến tình thuở đó. Tướng công Trần Khánh Dư đã thắng quân Nguyễn Hộ trong trận đánh quyết định này (Đức Thánh Trần đã biết trước quân tiếp viện cho nên Ngài đã sai tướng công Trần Khánh Dư nhận lãnh trách nhiệm quan trọng này). Nguyễn Hộ đã đưa khoảng 500 chiếc thuyền chở lương thực với 50 ngàn quân từ Quảng Đông tiếp viện cho mặt trận Bạch Đằng Giang đang bị quân đội của Đức Thánh Trần vây hảm. Quan quân nhà Nguyên chỉ có một độc đạo là phải đi qua vịnh Hạ Long để đến Bạch Đằng giang

Là một vị tướng tài ba và am hiểu địa hình (vì có một thời tướng Trần Khánh Dư đã sống và đi khắp vùng Lục Đầu để đốt than kiếm sống khi bị các tôn thất nhà Trần từ bỏ?!) nên Tướng Trần Khánh Dư đã dễ dàng bày binh bố trận để chiến thắng quân tiếp viện Nguyễn Hộ. Vừa tiêu hao quân viện trong trận Vân Đồn vừa thiếu lương thực để tiếp tế cho quân Nguyên trên sông Bạch Đằng cho nên quân Nguyên đã thua to trên cả hai mặt trận. Nếu tướng công Trần Khánh Dư không thể chiến thắng trận Vân Đồn thì Đức Thánh Trần cũng khó lòng có thể chiến thắng quân Nguyên tại khúc sông Bạch Đằng để chấm dứt nạn đao binh. Vì vậy ngay cửa đền của tướng công Trần Khánh Dư có hai câu đối rằng:

– Vân trận thắng ư đằng trận lược.

– Linh Từ so tự Kiếp Từ cao .

dịch nghĩa:

Nếu không thắng trận Vân Đồn thì làm sao có thể thắng được trận Bạch Đằng ?. Vậy nếu đem ra để so sánh thì chiến công bên nào cao hơn.

Như trên có nói trong các ngày lễ hội, trước đền tướng công Trần Khánh Dư có đến 3 nông tiền nhưng đầy ấp rải ra ngoài đất. Như vậy chúng ta đủ thấy họ đi xem lễ hội bên khu đền thờ tướng công Trần Khánh Dư đông đúc đến mức nào. Đây cũng là một cách thầm kín ghi công những người công thần của đất nước. Nhưng tựu chung thì vẫn là Đức Thánh Trần đã toàn diện bày binh bố trận và cuộc chiến vẫn do Ngài điều khiển.

Với văn hóa của người Á Châu nói chung. Là người anh hùng thì ở đâu cũng giống nhau và chỉ có người anh hùng mới được kính mến mà thôi. Tướng Lý Long Tường có công giúp dân tộc Triều Tiên dẹp giặc Kim nay đã gần 1000 năm qua tên ông vẫn còn được người dân Triều Tiên thờ phụng gọi là “Bạch Mã Tướng Công” và người Triều Tiên cũng không phân biệt ông là người Việt hay người Đại Hàn.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật đảo chánh Pháp, một viên Tướng người Nhật có đi ngang qua sông Bạch Đằng nghe uy danh của Đức Thánh Trần nên ông xin được vào thăm đền Vạn Kiếp. Khi vào đền viên Tướng người Nhật này thấy 2 câu đối trước đền rằng:

– Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí

– Lục Đầu vô thủy bất thâu thanh

Khi đọc xong 2 câu đối trên dù là kẻ đang thắng trận nhưng viên Tướng người Nhật (tác giả quên tên) cũng phải quỳ xuống ngưỡng mộ người anh hùng (chứ không phải như tên Việt Gian Hồ Chí Minh để “Bác bác, tôi tôi” với Đức Thánh Trần, một hành động ngu xuẩn lại hổn láo với tiền nhân). Ông cuối đầu bước vào làm lễ bái. Lễ bái xong vì lòng cảm xúc nên ông làm lại bài thơ rằng:

– Thanh kỳ biệt hữu thử giang san

– Sản xuất anh hùng biểu thế gian

– Kiếm khí do kinh hồ lỗ phách

– Thu thanh túc sái thủy xàng xàng

nghĩa:

Đất nước non xanh này đẹp đẽ biết bao cho nên mới sinh ra người anh hùng làm tiêu biểu cho thế gian. Kiếm khí của Ngài đã làm thất vía kinh hồn quân thù Mông Cổ. Khi tôi đi qua đây nhìn sông Bạch Đằng nước chảy cuồn cuộn (thuỷ xàng xàng). Tôi nghe tiếng quân sĩ của Ngài hò reo khi xung chiến với quân Hồ (quân Nguyên – quân Hồ lỗ phách – dã man). Như trên đã nói các dân tộc Á Châu luôn quý người anh hùng bất kể chủng tộc hay màu da.

18) Những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong

19) Tôi vuốt ve bao hình ảnh trong lòng

Sau năm 1945 cả miền Bắc đều vào “hợp tác xã” thì làm gì còn có cảnh “những đêm vàng đập lúa dưới trăng trong” nửa. Vậy chắc chắn cảnh sinh hoạt “đập lúa dưới trăng trong” phải là sinh hoạt của thời gian từ năm 1930 đến trước năm 1945. Đến đây tác giả Vô Danh đã chứng con người của ông với một kiến thức quảng bác già dặn trước khi Cộng sản vào chiếm Hà Nội năm 1945, (bạn đọc nên luôn nhớ Nguyễn Chí Thiện khai Thiện sinh năm 1939) năm này Nguyễn Chí Thiện mới lên 6 tuổi.

Ở miền Bắc thời xa xưa đó nơi nào cũng có hát Trống quân, hát Đúm, hát Hò, hát Quan Họ .v.v.. như ở vùng Bắc Ninh đâu đâu cũng có. Bởi vì tháng giêng, tháng hai, tháng ba làng nào cũng có “hội hè vui vẻ” thanh niên nam nữ già trẻ đều lễ hội vui chơi hát xướng như vậy và đó cũng là phong tục văn hóa của người Việt ta từ xưa đều như vậy. Nhưng sau năm 1945 thì làm sao còn có những cảnh như trên, và đến năm 1954 thì chia đôi đất nước cả miền Bắc đều bị kềm trong gọng kềm sắt nóng của Cộng sản, thì lại càng không bao giờ nghe tới những cảnh “hội hè vui vẻ” như câu thơ trên tác giả đã diễn tả.

Đến đây bạn đọc phải đọc lại câu số 9 (“giòng lịch sử đưa tôi về mấy chặng”) để thấy chặng đường lịch sử trước năm 1945 và sau năm 1945 khi Cộng sản đã làm chủ tình hình miền Bắc, những sinh hoạt xã hội hoàn toàn khác nhau mà tác giả Vô Danh đã sống qua. Nên khi so sánh hai chế độ tác giả Vô Danh vẫn mơ tưởng đến cái thời “phong kiến” dù sao thì nó vẫn còn đẹp đẽ và nhân bản gấp trăm ngàn lần xã hội Cộng sản sau năm 1945. Đó là lý do tại sao tác giả vẫn mơ tưởng về một quá khứ để có thể: (“tôi vuốt ve bao hình ảnh trong lòng”) nghĩa là phải có sống trong bối cảnh xã hội thời xa xưa đó, cho nên người ta mới lưu luyến mới “vuốt ve” để giữ “trong lòng” những “hình ảnh” đẹp đó. Người bình thường nếu chỉ nghe nói hay thuật lại thì làm sao có thể biết được những “hình ảnh” nào đó để có thể “vuốt ve” hay cảm xúc cảnh sống xã hội đó mà viết lên thành thơ?!. Để dẫn chứng; trong bài thơ “Trái Tim Tôi” được viết năm 1975, tác giả Vô Danh có nói thơ của ông là những sự thật, ông viết ra những gì ông đã nhìn thấy và chứng kiến tận mắt, những gì ông viết ra không hư cấu, không bịa đặt, không tưởng tượng (“thơ của tôi kém phần tưởng tượng” – Thơ của tôi – 1975).

20) Tim còn vọng tiếng hò ngân bát ngát

21) Tiếng nhịp nhàng thoi cửi lướt trên khung

Dù quá khứ đã qua đi nhưng khi hồi tưởng lại thì trong lòng tác giả Vô Danh vẫn còn tưởng nhớ. Nhớ những tiếng hò của các cô thôn nữ với những đêm trăng đập lúa, nhớ những tiếng hát của những cô “gái quê trong trắng hiền lành” trong khi “ngồi giặt lụa bền bờ hồ nước toé”. Nhớ những con đường dẫn ông vào nơi chiến khu, nhớ những chòi canh “hắc điếm”. Những tiếng hò, tiếng hát ngân ngân nga theo điệu hát Quan Họ, hát Trống quân, hát Đúm, hát Hò ..v.v.. . Ông cũng không thể nào quên “những tiếng nhịp nhàng thoi cửi lướt trên khung”, như trên đã nói tới. Những cảnh núi rừng đầy yêu thương và tràn lan sức sống.

22) Tôi mến yêu cảnh rừng núi mịt mùng

23) Đầy hiểm bí và tràn lan sức sống

“Cảnh rừng núi mịt mùng” âm u của những chiến khu xa xôi. Vậy tác giả phải là người ở tuổi sinh ra và lớn lên trước thập niên 40’s, phải sống ở tuổi nào trong thời kháng chiến chống Pháp mới được biết đến những chiến khu của thời buổi cách mạng đó! Những chiến khu của Cụ Phan Đình Phùng ở miền Trung. Cụ Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) ở Yên Thế. Cụ Nguyễn Thiện Thuật ở Bãi Sậy và hàng trăm nơi hội tụ các nghĩa quân ở rải rác khắp vùng rừng núi Bắc Việt. Những nơi bí mật mộ quân khởi nghĩa, những chiến khu nằm trong rừng sâu bí hiểm không ai biết của các nghĩa quân nói trên. Những nơi đó chính là nơi tàng chứa sức sống của cả một dân tộc trong thời đất nước bị đô hộ. Và rõ ràng nhất là câu 24 và 25 dưới đây tác giả Vô Danh diễn tả đúng về những tổ chức kháng chiến vào thời đó.

24) Tôi thương nhớ cả tiếng cồng báo động

25) Cả những con đường, những hắc điếm âm u

Điểm độc đáo của tác giả Vô Danh là ông cho chúng ta biết rõ ràng ông đã “thương nhớ cả tiếng cồng báo động” và những “hắc điếm âm u”. Chỉ có những vùng núi rừng là nơi ẩn thân của các kháng chiến quân, những nơi được mệnh danh là “hoa địa cách mạng” người ta mới dùng tiếng “cồng” để báo động. Trong những vùng rừng núi âm u, đâu đâu cũng có những “hắc điếm” (hắc điếm ở đây là chòi canh hay là vọng gác của các nghĩa quân kháng chiến, những vọng gác này được ngụy trang và đặt trên các tàng cây cao trong rừng nên gọi là “hắc điếm”). Trên các “hắc điếm” người ta nổi lên những tràng “cồng” để “báo động” khi thấy địch quân xâm nhập vào các vùng kháng chiến này. Những “hắc điếm âm u” này nằm cách xa tổng hành dinh của chiến khu từ 5, 10, cho đến 15 cây số và tùy theo từng vùng và vọng gác này lại thông tin đến những vọng gác kia. Vì vậy địch quân muốn tấn công vào các tổng hành dinh trong chiến khu không phải là chuyện dễ làm.

Chỉ cần một câu thơ trên đây thôi cũng đủ xác định rất rõ ràng rằng tác giả Vô Danh đã có một quá khứ đi làm cách mạng chống Pháp vào những thập niên 30’s – 40’s, thập niên 30’s hay 40’s lúc đó có thể Nguyễn Chí Thiện chưa sinh ra hoặc mới chỉ lên 2 hay lên 3 tuổi, thì làm sao Nguyễn Chí Thiện có thể viết nổi những câu thơ như trên ?!. Dựa trên những câu thơ trong bài thơ này và chỉ một bài thơ này thôi cũng đủ cho chúng ta thấy tác giả Vô danh nhiều tuổi hơn Nguyễn Chí Thiện). “Cồng” là một dụng cụ ngày xưa người ta dùng để thông tin hay báo động từ những vùng chiến khu xa xôi hay các bản làng nằm sâu trong rừng núi, họ gọi nhau hay báo tin cho nhau bằng tiếng Cồng. Cồng được khoét một mặt nhưng khi đánh lên thì tiếng vang lại vọng đi rất xa. Tiếng Cồng có thể vang đi từ 4 đến 5 cây số đường chim bay trong rừng. Trong những chiến khu xa xôi thời đó người ta dùng Cồng đánh theo từng nhịp 1, 3, 5 hay đánh theo từng hồi liên tục hay đứt đoạn để làm mật hiệu liên lạc hay thông báo trong tình trạng khẩn cấp. Ví dụ: khi đánh 5 tiếng đứt đoạn nhau là mật hiệu cho biết có địch xâm nhập vào vùng kháng chiến hay đánh một hồi 9 tiếng là mật hiệu cho biết các kháng chiến quân phải sẳn sàn trong tư thế chiến đấu hay lẫn trốn. Tấn công bên phải sườn núi hay tấn công bên trái tất cả phải nhất nhất nghe theo tiếng Cồng mật hiệu. Những mật lệnh bằng tiếng Cồng này đều thay đổi hàng ngày để tránh tình trạng nhầm lẫn .v.v..

AlibabaThien_Cong

Cồng Chiêng

Lý do đó sau năm 1945 tác giả Vô Danh mới có thời gian ngồi tưởng nhớ lại những quá khứ đã qua. Ông thương nhớ kỷ niệm, thương nhớ các đồng chí ngày nào của ông trong thời gian kháng chiến. Vậy Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 đến năm 1945 Thiện mới tròn 6 tuổi thì làm sao Nguyễn Chí Thiện có thể hiểu được tiếng cồng trổi lên trên những hắc điếm kia để mà “thương nhớ cả tiếng cồng báo động”?. Nguyễn Chí Thiện mới tròn 6 tuổi thì làm sao Thiện nhớ “cả những con đường” dẫn đến “những hắc điếm âm u” trong rừng?. Và chúng ta cứ dễ dải, cứ cho đến năm 1954 Nguyễn Chí Thiện mới được 15 tuổi, thì Thiện đi “kháng chiến” ở đâu?!. Chiến khu nào còn mãi đến năm 1954 để Nguyễn Chí Thiện thốt lên “tôi thương nhớ cả tiếng cồng báo động” hoặc nhớ “những con đường” dẫn vào “những hắc điếm âm u” .

26) Cảnh chiến chinh ngựa hí với quân hò

27) Tôi cũng thấy tâm hồn tôi đuối đắm!

Ngày xưa và có thể cả đến ngày hôm nay người ta dùng ngựa để chuyển quân lương hoặc xung trận đánh nhau, cho nên khi tưởng nhớ lại những cảnh xung trận có tiếng ngựa hí có tiếng quân reo hò. Tác giả Vô Danh cảm thấy tâm hồn ông đắm đuối. Ông yêu nước say mê với tất cả bầu nhiệt huyết nên mới dám quyết tâm từ bỏ tất cả để đi làm cách mạng. Tưởng mong đất nước mình sẽ có ngày được giải phóng. Đến đây thì chúng ta có thể kết luận chắc chắn 100% rằng Nguyễn Chí Thiện không thể là tác giả tập thơ Vô Đề. Nguyễn Chí Thiện tuổi đời còn quá nhỏ để hiểu hay biết về những chiến khu chống Pháp và những năm 1935 hay 1940 hay trước năm 1945. Một điểm quan trọng nửa là Nguyễn Chí Thiện không thể là tác giả của bài thơ “Nếu Một Ngày Mai” này. Như vậy Nguyễn Chí Thiện nếu không là kẻ soán đoạt tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh, thì Nguyễn Chí Thiện là gì nhỉ ? Ai đã giúp Nguyễn Chí Thiện thực hiện được mưu đồ này ?!

28) Tại làm sao? Rõ ràng tôi biết lắm

29) Cuộc đời xưa còn có những vua quan

30) Bao bất công còn đầy rẫy lan tràn,

31) Sao tôi chỉ mơ toàn hương sắc thắm

32) Toàn sắc mầu lộng lẫy đượm hồn thơ

33) Mà lãng quên bao bóng dáng nhạt mờ?

34) Phải chăng vì cuộc sống bây giờ

36) Đầy ung độc tự buồng gan, lá phổi

36) Còn xưa là mụn lở ở da thôi!.

Và cuối cùng dưới đây tác giả Vô Danh so sánh 2 chế độ. Một là chế độ Vua, Quan trước năm 1945 và Hai là chế độ Cộng sản sau năm 1945 trở đi trên đất Bắc. Bọn cộng sản chỉ giỏi tuyên truyền bịp bợm rằng: “bọn phong kiến vua, quan tàn ác, cho nên người dân cần sự “giải phóng” khỏi ách nô lệ phong kiến.

Nếu hỏi “tại làm sao” tôi biết?. Vì tôi (Vô Danh) đã sống qua mấy chặng đường lịch sử này (lập lại câu 9 – “giòng lịch sử đưa tôi về mấy chặng”) nên tôi hiểu biết để so sánh giữa thời “phong kiến bạo tàn” và thời “cộng sản ấm no” (xem bài thơ Xưa Lý Bạch – 1967). Cộng sản thường rêu rao rằng những bất công của xã hội thời “phong kiến” thì đầy rẫy. Có!, nhưng khi đã sống dưới chế độ cộng sản cai trị, thì tác giả vẫn thấy “chế độ phong kiến vua, quan” vẫn còn thua xa bọn thực dân đỏ cộng sản về sự tàn ác và phong kiến. Cho nên ông vẫn xem quý xã hội vua, quan hay “phong kiến”, và những cái “bất công” của xã hội “phong kiến” kia xem ra cũng chẳng có gì so với tội ác, bất công của chế độ lang sói cộng sản. Những bất công xưa chẳng có gì đáng kể, mà ngược lại nó còn là “những sắc mầu lộng lẫy”. So với cuộc sống trong xã hội cộng sản thì những bất công khi “xưa là mụn lỡ ở da thôi!”. Còn bất công ở “cuộc sống bây giờ” trong xã hội cộng sản, đó là những “ung độc tự buồng gan, lá phổi”.

Chế độ vua, quan “phong kiến” như vậy, nhưng tác giả Vô Danh ông vẫn xem đó là một chế độ còn tươi đẹp hơn ngàn lần chế độ thực dân đỏ cộng sản hiện hành. Những “bất công” trong thời vua, quan “phong kiến” nếu có chăng cũng chỉ là trái táo, trái cam, ký gạo, ký nếp để đem đi biếu ông Xã, biếu ông Huyện. Chứ không có chuyện ức chế, cướp bóc trắng trợn hay hảm hiếp đê tiện cuộc sống của người dân đến tận cùng cảnh khổ như chế độ thực dân đỏ cộng sản ngày nay. Sau năm 1945 và 1954 người dân đất Bắc bị mất trắng tay từ ruộng vườn, tài sản, nhà cửa và cả vợ con đều mất trắng.

31) Sao tôi chỉ mơ toàn hương sắc thắm

32) Toàn sắc mầu lộng lẫy đượm hồn thơ

33) Mà lãng quên bao bóng dáng nhạt mờ?

Vua, quan xưa cũng có những bất công ở những nước Á hay Âu khác, nhưng ít xảy ra lộ liễu ở đất nước Việt Nam . Vì đặc biệt chỉ có Việt Nam mới có chế độ “triều đình hương đản”. Đây là một chế độ mà nhiều quốc gia ngày nay được xem là xứ “tự do” nhưng có thể nói chưa thực hiện được guồng máy “Triều Đình Hương Đản” như ở Việt Nam trong thời “phong kiến”. Trong một vài khác sẽ nói rõ như thế nào chế độ “triều đình hương đản” để các thế hệ bây giờ và mai sau hiểu rõ hơn. Trãi dài lịch sử Việt hầu như các triều đại Vua, Quan của Việt Nam không có chế độ “Phong Kiến” (phong tước và kiến ấp) như Trung Hoa.

Để kết thúc bài viết này qua bài thơ “Nếu Một Ngày Mai” trên đây. Chúng ta thấy tác giả Vô Danh đã dẫn chứng từng thời gian quá khứ của lịch sử, những chuỗi ngày mà ông đã sống qua trong bối cảnh đất nước “thanh bình” thời đó. Ông cũng chứng minh cho chúng ta thấy ông là người hiểu biết và đã đi qua mọi miền đất nước. Ngược lại Nguyễn Chí Thiện chưa đủ tuổi đời lịch lãm và chỉ được “đào tạo” để học để thuộc lòng tập thơ Vô Đề để Nguyễn Chí Thiện phải đóng kịch như một diễn viên. Chỉ cần đọc một bài thơ “Nếu Một Ngày Mai” trên đây thôi chúng ta cũng đủ thấy Nguyễn Chí Thiện với tuổi “con nít” của thời xa xưa đó, nên Nguyễn Chí Thiện không thể nào là tác giả của bài thơ “Nếu Một Ngày Mai” này. Đã gần 14 năm trôi qua đến nay chúng ta không phải nghi ngờ gì nửa khi đi đến kết luận: Nguyễn Chí Thiện đã soán đoạt tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh.

Xin quý đọc giả đón đọc bài số 2 vào lần tới. (Tập thơ Vô Đề tổng cộng 198 bài thơ và 188 đoản khúc được tác giả Vô Danh gọi là “Những Ghi Chép Vụn Vặt”). Xin quý vị đón xem.

Lê Trung Nhân

(*Đi Chùa Hương)

Nguyễn Nhược Pháp

Hôm nay đi chùa Hương.

Hoa cỏ mờ hơi sương

Cùng thầy me em dậỵ

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao;

Lưng đeo dải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới;

Tay cầm nón quai thao.

Me cười: “Thầy nó trông!

Chân đi đôi giép cong

Con tôi xinh xinh quá!

Bao giờ cô lấy chồng?”

— Em tuy mới mười lăm

Mà đã lắm người thăm

Nhờ mối mai đưa tiếng,

Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,

Vì thầy bảo người mai

Rằng em còn bé lắm,

Ý đợi người tài trai.

Em đi cùng với me,

Me em ngồi cáng tre.

Thầy theo sau cưỡi ngựa,

Thắt lưng dài đỏ hoe

Thầy me ra đi đò,

Thuyền mấp mênh bên bờ.

Em nhìn sông nước chảy,

Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần.

Đời mấy kẻ tri âm?

Thuyền nan vừa lẹ bước,

Em thấy một văn nhân…

Người đâu thanh lạ thường!

Tướng mạo trông phi thường.

Lưng cao dài, trán rộng.

Hỏi ai nhìn không thương?

Chàng ngồi bên me em

Me hỏi chuyện làm quen:

“Thưa thầy đi chùa ạ?

Thuyền đông, giời ôi chen!”

Chàng thưa vâng thuyền đông,

Rồi ngắm giời mênh mông,

Xa xa mờ núi biếc,

Phơn phớt áng mây hồng.

Giòng sông nước đục lờ.

Ngâm nga chàng đọc thơ!

Thầy khen hay, hay quá!

Em nghe ngồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, bến Đục qua,

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói:

“Nam vô A-di-đà !”

Réo rắt suối đưa quanh.

Ven bờ, ngọn núi xanh,

Dịp cầu xa nho nhỏ.

Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,

Bao nhiêu là khỉ ngồị

Tới núi con voi phục,

Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây,

(Thuyền ta đi một ngày)

Lên cửa chùa em thấy

Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau,

Em không dám đi mau,

Ngại chàng chê hấp tấp,

Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ,

Trầm hương khói toả mờ

Hương như là sao lạc

Lớp sóng ngươì lô nhô.

Chen vào thật lắm công.

Thầy me em lễ xong

Quay về nhà ngang bảo:

“Mai mới vào chùa trong”

Chàng hai má đỏ hồng

Kêu với thằng tiểu đồng

Mang túi thơ bầu rượu:

“Mai ta vào chùa trong”

Đêm hôm ấy em mừng!

Mùi trầm hương bay lừng.

Em nằm nghe tiếng mõ,

Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời

Mơ nhiều … viết thế thôi

Kẻo ai mà xem thấy,

Nhìn em đến nực cười.

Em chưa tỉnh giấc nồng,

Mây núi đã pha hồng.

Thầy me em sắp sửa

Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo veo,

Hoa đỏ, ti’m, vàng leo

Vì thương me quá mệt,

Săn sóc chàng đi theo.

Mẹ bảo: “Đường còn lâu

Cứ vừa đi ta cầu

Quan-thế-âm Bồ-tát

Là tha hồ đi mau.”

Em ư ? Em không cầu,

Đường vẫn thấy đi mau.

Chàng cũng cho như thế.

(Ra ta hợp tâm đầu)

Khi qua chùa Giải Oan

Trông thấy bức tường ngang,

Chàng đưa tay lẹ bút

Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen hay

Chữ đẹp như rồng bay.

(Bài thơ này em nhớ

Nên chả chép vào đây)

Ôi! Chùa trong đây rồi!

Động thẳm bóng xanh ngời.

Gấm thêu trần thạch nhũ,

Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Mẹ vui mừng hả hê:

“Tặc! Con đường mà ghê!”

Thầy kêu mau lên nhé,

Chiều hôm nay ta về.

Em nghe bỗng rụng rời!

Nhìn ai luống nghẹn lời!

Giờ vui đời có vậy,

Thoáng ngày vui qua rồi!

Làn gió thổi hây hây.

Em nghe tà áo bay,

Em tìm hơi chàng thở!

Chàng ôi, chàng có hay?

Đường đây kia lên giời

Ta bước tựa vai cười,

Yêu nhau, yêu nhau mãi!

Đi, ta đi, chàng ôi!

Ngun ngút khói hương vàng,

Say trong giấc mơ màng,

Em cầu xin Giời Phật

Sao cho em lấy chàng.

Nguyễn Nhược Pháp

http://www.hon-viet.co.uk/LeTrungNhan_NguyenChiThienSoanDoatTacPhamVoDe.htm

August 15, 2009 Posted by | Nguyễn Chí Thiện Soán Đoạt Thi Phẩm Vô Đề - Lê Trung Nhân, suc vat nguyen chi thien tay sai suc vat ho chi minh | , | Leave a comment

suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh

suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh


Thích Quảng Độ Còn Tránh Đâu Được Nữa? – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Quý độc giả đã đọc qua bài viết “Đại Hội Chó Gặm Xương” của ông Trần Thanh. Riêng tôi, vốn thận trọng nên phải chờ, phải tìm cho ra sự thật cái bản văn về cái “Đại Hội” đó thì mới viết bài này.

Cũng vậy, sau khi Quảng Độ đưa ra “Lời Kêu Gọi: Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự – Biểu Tình Tại Gia”, 29-3-2009, thì tôi đã viết một bài đầu tiên, rồi sau đó phải chờ cho hết tháng năm mới viết bài: Đã Qua Rồi Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự, kế đến là bài “Hòa thượng Thích Quảng Độ” có phải là một “Nhà Đấu Tranh- Chống Cộng” hay không? Và vì chính bài này mà Võ Văn Ái đã dùng cái “Phòng thông tin Phật giáo Quốc tế – Cơ quan Phát Ngôn Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” tức Ấn Quang, qua cái “Thông cáo báo chí” để đánh tôi, chẳng những vậy, tên ốn Lài, ý quên ún Lài, còn kêu gọi cả dân tộc và Phật tử Việt Nam, hãy tập trung lực lượng để đánh Hàn Giang Trần Lệ Tuyền nữa . Và những cái miếng giẻ này đã được đem chưng lên ở nhiều trang báo. Kẻ đáng nói là Đinh Thạch Bích, nghe nói là một cựu Luật sư mà chẳng lẽ lại NGU đến cái mức độ không hiểu được những cái chức của Võ Văn Ái đã ghi trong cái gọi là “Thông cáo báo chí” thực sự nó còn thua cả một miếng “tã” của phụ nữ, thế nhưng Đinh Thạch Bích cứ trân trọng đội trên đầu, bằng cách đem chưng lên cái nghĩa trang điện tử Exodus. Và qua cái “Thông cáo báo chí” này Võ Văn Ái đã kết thúc bằng một câu:

“Nay bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền viết hàng chục bài vu cáo vô bằng Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ và hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, dù bà ta chưa xác nhận căn cước Cộng sản của bà, thì người Việt dân tộc nói chung và người Phật tử nói riêng cũng không thể tin và nể trọng bà nếu không nói là quyết liệt lên tiếng chống đối sự giảo hoạt và gian dối của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền”.

Sau khi những cái miếng “tã” của phụ nữ này đã được Đinh Thạch Bích đem đội lên đầu rồi, thì tôi mới viết bài: Trả Lời Võ Văn Ái. Nhưng, tiếc rằng vì không có thời giờ, nên tôi đã không vào các trang báo của Cộng sản Hà Nội ; vì thế nên đã không biết rằng cái “Hội Nghị Việt Kiều Toàn Thế Giới Lần Đầu Tiên” nó đã được thông báo công khai trên các trang điện báo của Cộng Sản từ ngày 22-5-2009. Nghĩa là Đảng Cộng Sản Việt Nam đã công khai thông báo về cái “Hội nghị” này ngay trong cái “Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự” của Thích Quảng Độ. Do đó, tôi đã không đề cập đến trong các bài viết trước đây.

Nhưng hôm nay, sau khi đọc bài viết của ông Trần Thanh, thì tôi đã vào các trang báo của Việt Cộng thì mới hay rằng cái “Hội nghị Việt Kiều Toàn Thế Giới Lần Đầu Tiên” đã được đăng công khai chính thức trên các trang: Thông Tấn Xã Việt Nam, Pháp Luật, Báo Mới, Việt Nam. net, tinmoi.vn, baovietnam.vn, vietbao.vn, maivo.com, socbay.com v…v… và những trang điện báo của các “Tòa Đại Sứ” các “Bộ Ngoại Giao” của Cộng sản Hà Nội và còn nhiều trang nữa, từ cái “Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự” của Quảng Độ. Những bản “Thông báo” này tôi đã lưu giữ, vì sợ sau này lỡ bị xóa đi, thì Quảng Độ – Võ Văn Ái sẽ to mồm, lớn tiếng sẽ cho là tôi vọng ngữ.

Như vậy, có kẻ nào nếu mắt chưa đui và đầu óc không có ngu đần, mà không hiểu được rằng: “Lời Kêu Gọi Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự” với “Lời Kêu Gọi Số 03, là do Đảng Cộng Sản Hà Nội thông qua chính Thích Quảng Độ đã đưa ra, để mở đường cho cái “Hội nghị Việt Kiều Toàn Thế Giới Lần Đầu Tiên” vào tháng 11 tới đây. Mọi chuyện đều đã quá rõ ràng. Nhưng trước đây qua cái “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái còn già mồm để chửi bới và chụp mũ tôi là cộng sản. Chẳng những thế mà Võ Văn Ái còn kêu gọi:

“… người Việt dân tộc nói chung và người Phật tử nói riêng cũng không nể trọng bà nếu không nói là quyết liệt lên tiếng chống đối sự giảo hoạt và gian dối của bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền”.

Và sau đó, để đáp lại những lời kêu gọi của Võ Văn Ái, thì đã có cả một bầy nhâu nhâu nhảy ra sủa bậy ; trong đó có cả tên là thân nhân của tên Sát Thủ Lê Văn Hảo, đệ tử ruột của Diệp Trương Thuần tức Thích Đôn Hậu: Chánh Đại Diện Phật Giáo Miền Vạn Hạnh (miền Trung). Lê Văn Hảo là con của cụ Lê Văn Tập, gốc Huế đã vào lập nghiệp từ lâu tại Đà Nẵng, cụ Lê Văn Tập là chủ hãng xe Traction, Đà Nẵng-Huế, có một căn nhà rất khang trang tại số 49, đường Hùng Vương, Đà Nẵng. Ngoài ra còn có những tên khác, ban đầu thì đã gọi tôi bằng “thằng Hàn Giang” rồi “Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn – Trần Thanh – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền chỉ là một người vì HGTLT đã viết “chúng tôi” tức là có “nhiều người”. Những tên này đều giống như một bầy chó ở trong làng, khi chúng nghe tiếng của một con chó sủa, dù nó cũn cỡn nằm khoanh không đủ hai vòng, nhưng nó lại được lũ chó kia phong cho cái chức đầu đàn ; vì thế, khi con chó này sủa lên một tiếng là chúng thi nhau sủa, mặc dù chúng không hề biết, không hề thấy một cái gì cả. Sau này, vì trên diễn đàn có kẻ đã cho biết tôi là một phụ nữ, nhưng vì không hề biết gì về tôi cũng như gia cảnh của tôi ; nên chúng đã dựng lên đủ thứ chuyện trên đời.

Nhưng đặc biệt nhất, là có một tên đã dám nói: “… Đã vào nhà Trần Lệ Tuyền ở Đà Nẵng và đã ngủ lại hai đêm, tôi thấy ở tầng lầu trên thì vợ chồng Trần Lệ Tuyền thờ ông Nguyễn Thái Học, còn ở tầng dưới thì là một động đĩ, Trần Lệ Tuyền nó dốt, không biết viết gì cả, những bài viết đó là do một tên thứ 15, trong Bộ Chính Trị của cộng sản viết cho trần Lệ Tuyền ký tên mà thôi” (à mà sao hắn biết một tên nào đó đứng thứ 15, trong Bộ chính trị của VGCS nhỉ?). Như vậy, cả lũ chó này nên biết và nghe cho rõ đây nè: Ngay chính Võ Văn Ái hiện đang cùng có mặt tại nước Pháp mà còn không dám nói là Hàn Giang Trần Lệ Tuyền dốt, không biết viết đó nhé. Còn khi tôi viết CHÚNG TÔI, là vì chữ KHIÊM, nên tôi muốn dùng hai từ chúng tôi, để làm nhẹ đi; bởi vì “Cái tôi nó đáng ghét”.

Song thấy vẫn chưa đủ, chúng bèn lôi cả ông Liên Thành ra chửi, chúng đã viết “trong những ngày Tết Mậu Thân, 1968, tại Huế, Liên Thành đã nằm trốn trên mái nhà, và ăn, ngủ, ỉa, đái trên mái nhà, chứ không biết gì cả”. Như thế, quý độc giả đã thấy chó bầy là vậy đó, cã lũ chúng nhâu nhâu lên sủa, cũng hơi khó chịu một chút, nhưng đường ta, ta cứ thẳng tiến, vì chúng cũng chẳng làm cho ai rơi rớt một sợi lông tơ nào ; chính chúng cũng biết như vậy; song cái mục đích chính của lũ chó này chúng đang cần phải đến là cái Đống Phân đã ủ lâu ngày ở Hà Nội. Thế sao bây giờ khong thấy Đinh Thạch Bích lên tiếng??? Nhanh lên chứ Đinh Thạch Bích, coi chừng chúng sẽ xí phần hết đó, vì chậm trễ lỡ có gió mưa, thì nó sẽ ôi, sẽ vữa hết, uổng lắm Đinh Thạch Bích ạ.

Tôi còn nhớ trước đây, khi ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng cho đăng những bài viết của các vị Mắt Thần, Bách Linh, Bạch Long Gàn Bát Sách v…v… và của tôi nữa thì lũ này cũng đã khủng bố, đe dọa ông Hồ Anh. Rồi đến lúc ông Hồ Anh đã in cuốn sách Trong Lòng Địch của ông Trần Trung Quân, thì cả ông Hồ Anh và ông Trần Trung Quân đã bị chúng chửi bới và hành hung nữa. Tôi vẫn nhớ cách đây sáu năm về trước, lúc ấy tôi thường xuyên đến sinh hoạt với các hội đoàn tại Paris, tôi đã gặp ông Trần Trung Quân nhiều lần, có lần sau phần thuyết trình của tôi, khi tôi nói: Cho dù bọn Việt cộng có móc trái tin của chúng ra, rồi đem để trên bàn trước mặt tôi, thì tôi cũng nói đó là trái tim heo, khi vừa dứt câu này, thì ông Trần Trung Quân từ trên bàn Chủ Tọa Đoàn, ông đã vừa đi vừa giơ hai tay, và đi thật nhanh đến chỗ tôi và nói: “Tôi xin được bày tỏ, là tôi rất đồng ý với câu nói này của chị “. Sau đó, ông mời tôi đi uống cà phê, rồi chúng tôi và ông Trần Trung Quân đã trở nên thân thiết, tôi rất tâm đắc với cuốn sách Trong Lòng Địch của ông, ông cũng đã cho tôi biết thêm nhiều điều lắm, khi tôi nói, muốn trích những bài viết của ôngđể đăng trên các báo, thì ông Trần Trung Quân đã nói: “Bà muốn trích bao nhiêu cũng được”. Vậy, “Quân tử nhất ngôn” đấy nhé. Tuy nhiên, nếu tôi muốn, thì chỉ trích đoạn mà thôi, vì vốn luôn luôn tôn trọng tác giả, nên tôi không bao giờ lấy trọn cả bài viết của một tác giả nào để đem vào bài viết của mình.

Thích Quảng Độ có còn Tránh Đâu được nữa hay không?

Xin thưa rằng Quảng Độ vốn già mồm, lại cộng thêm với cả Đảng Cộng sản Hà Nội, nên có thể vẫn còn tiếp tục làm cò mồi, vì bọn Việt gian Cộng sản vẫn còn cần phải gom trọn tất cả người Việt tỵ nạn VGCS, ở khắp năm châu, nên Quảng Độ vẫn phải đóng vai trò “tranh đấu- chống cộng”, bằng cách “Biểu Tình Tại Gia- Bất Tuân Dân Sự” hoặc có thể Hà Nội sẽ đạo diễn cho Quảng Độ đóng thêm nhiều vai trò khác, mà chưa ai có thể biết trước, trừ Hà Nội và Quảng Độ. Tuy nhiên, dù Quảng Độ Ngụy Biện bằng cách nào chăng nữa, thì cũng không bao giờ lừa bịp được những người TRÍ được. Bởi, trước kia Quảng Độ đã che, đã dấu thật kỹ cái bộ mặt thật làm Cộng sản của mình, cho dù nhiều người đã biết nhưng khó có thể nói. Nhưng giờ đây, cái mặt nạ của Quảng Độ đã rơi xuống, Quảng Độ đã hiện nguyên hình là một trong những tên Giặc đã từng góp tay cùng lũ Giặc Ấn Quang, đã liên thủ cùng đảng Cộng sản Hà Nội, để đánh đổ cả hai Nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, đã từng gieo rắc quá nhiều tang thương và máu lệ, đã giết hại không biết bao nhiêu những đồng bào vô tội, trên khắp mọi miền của đất nước. Nhân đây, tôi xin ghi lại một đoạn của một bài thơ cũ để luận tội lũ Giặc Ấn Quang và Đảng Cộng sản Hà Nội. Kính mời quý độc giả cùng đọc:

Ai gây nên cảnh bể dâu?

Trẻ thơ vô tội, vấn đầu khăn tang.

Ai gây binh lữa lan tràn?

Dân quê đói khổ, xóm làng quạnh hiu!!!

Ai gây nên cảnh tiêu điều?

Con thơ đứng đợi mái lều chờ cha!!!

……………………………….

Xin trả lời: Những kẻ đã gây nên những thảm cảnh ấy, là Phật giáo Ấn Quang và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trở lại với cái “Hội Nghị Việt Kiều Toàn Thế Giới Lần Đầu Tiên”.

Theo như sự thông báo chính thức trên các trang điện báo của Cộng sản Hà Nội ngay từ ngày 22 tháng 5 năm 2009; là “Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự” của Quảng Độ. Thì đã quá rõ ràng rồi. Chúng ta chỉ còn chờ cho đến ngày “Hội Nghị” này được khai diễn tại Việt Nam, lúc ấy mọi người được biết sẽ có bao nhiêu con chó về để tham dự cái “Hội Nghị Chó Gặm Xương” như ông Trần Thanh đã viết. Ôi! những con chó hai chân!!! Những con như Đinh Thạch Bích đã già đầu, là một cựu Luật sư, ; song có lẽ vì là cựu, vì đã ăn cháo lú, nên đã không còn biết cái lẽ khinhtrọng ở trên đời này nữa, cũng như những tên đã ở trong danh sách ủng hộ cho diễn viên kiêm thi sĩ với “bốn trăm bài thơ tù, chỉ nhớ ở trong đầu và còn dánh mục lục từ số một, số hai, số ba, đến số bốn trăm: Vọng Ngữ Thích Quảng Độ.

Vậy, hỡi những kẻ đã từng ngoác mồm, chỏ mõ để chửi bới những người đã nói lên lẽ thật, và những người đã viết trong cuốn “Hòa thượng Thích Quảng Độ là Cội Tùng Trước Gió” mà ông Đặng Phúc đã gọi là “tội cùng chúng nó hay tội mình trước đó”. đã tung hô « Hòa thượng Thích Quảng Độ là Đóa Sen N..ở trong L…ò…n. Vì thế, để cho được công bình với những công lao của những “Đại Văn Háo” đã từng đặt bút để viết cuốn sách này ; nên tôi cũng sẽ tung hô đến cả hàng triệu lần rằng: Giáo sư Lê Trung Khảo là Đóa Sen N… ở trong L… ò, Võ Văn Ái là Đóa Sen N…ở trong L…ò, một Đóa Sen khác cũng đã N …ở trong Lò Tôn Đại Bịp. Nhưng chưa hết đâu, tuần tự rồi sẽ còn nhiều Đóa Sen nữa cũng sẽ N…ở trong L…ò…n, trong thời gian tới tôi sẽ cố gắng ghi chép thật đầy đủ tất cả vào một danh sách là: Những Đóa Sen đã N…ở trong L..ò…ò… để sau này, con, cháu, chắt, chít… của những kẻ này còn biết rằng mình là “Hậu Duệ” của: Những Đóa Sen đã N…ở Trong L…ò…n.

Đến đây, tôi phải xin phép quý độc giả để dừng lại đôi phút, để mời quý vị hãy cùng đọc lại những lời của Quảng Độ và Võ Văn Ái đã nói với nhau, và đã đăng trên báo Quê Mẹ đến nhiều lần nữa, để hiểu thật sâu sắc rằng: Tại sao sau khi Thích Quảng Độ đã đưa ra “Lời Kêu gọi” Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự”, thì vào ngày 22-5-2009, Đảng Cộng sản Hà Nội đã chính thức đưa lên các trang điện báo của Cộng sản về cái “Hội Nghị Việt Kiều Toàn Thế Giới Lần Đầu Tiên”.

Kính mời quý độc giả cùng đọc lại:

“Thích Quảng Độ: Đúng rồi. Bởi vì từ đầu mình phải biết xét. Cái gì nó cũng có cái dĩ nhiên. Khi hợp tác, phải hai bên đều có lợi thì mình mới làm được chứ? Việc làm ăn ngoài đời cũng thế …”

Võ Văn Ái: Vâng ạ. Cái gì cũng phải đồng đẳng và bình đẳng chứ …”

Thích Quảng Độ: Đúng. Đồng đẳng! Mà ít nhất là hai bên cùng có lợi. Ông lợi cái này, tôi được lợi cái kia. Cũng như mình hợp tác trao đổi để cùng làm …”

Và cho đến hôm nay thì “đôi bên đều đã có lợi” rồi. Vậy, những Đóa Sen đã từng N…ở… ở Trong L…ò…ò. N, còn chần chờ gì nữa, mà hãy nhanh tay, mạnh chân lên, để cùng nhau tiến về Hà Nội, kẻo cái đống phân đang chờ ở đó, nó sẽ bị những con chó khác chúng liếm trước thì uổng lắm đấy.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

——————————————————————————–

Hội nghị Việt kiều toàn thế giới lần đầu tiên
Trang nhất: Xã hội:

Hội nghị Việt kiều toàn thế giới lần đầu tiên

22/05/2009 | 21:20:00

Theo thông báo số 1 của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, Hội nghị “Người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất” sẽ diễn ra tại Hà Nội, từ ngày 19 đến 24/11/2009.

Hội nghị được tổ chức nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, theo chương trình hành động năm 2009.

Theo thông báo này, chủ đề của Hội nghị là “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước.”

Hội nghị sẽ có sự tham gia của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; lãnh đạo Bộ Ngoại giao; các bộ, ngành Trung ương và địa phương, cùng hơn 1.000 đại biểu kiều bào trên khắp thế giới.

Hội nghị là diễn đàn hết sức quan trọng, phát huy trí tuệ, chất xám của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm đóng góp hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Hội nghị tượng trưng cho tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc cùng hướng về cội nguồn.

Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài kính mời đại diện đông đảo kiều bào ta tại các nước về dự Hội nghị. Liên quan đến nội dung chương trình, Ủy ban sẽ liên tục có những thông báo cụ thể trên các phương tiện thông tin đại chúng

(TTXVN/Vietnam+)

Trên dây la một trong những bản Thông Báo của Đảng Cộng sản Hà Nội đã được đăng chính thức và công khai,trên nhiều trang điện báo khác, mà tôi đã ghi ở trong bài này. Quý độc giả, nếu muốn thi vào các trang ấy, thì sẽ tìm thấy.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_ThinhQuangDoConTranhDauDuoc.htm

August 13, 2009 Posted by | suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh, Thích Quảng Độ Còn Tránh Đâu Được Nữa? - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền | , | Leave a comment

suc vat trieu giang nancy bui nguyen tay sai suc vat ho chi minh

BBT Vietland Trả Lời Thư Bà Triều Giang Nancy Bùi về việc nhà văn Đỗ Văn Phúc

Kính thưa bà Triều Giang Nancy Bùi

Chúng tôi nhận được lá thư của bà gửi cho báo chí ngày 12 tháng 8 năm 2009 nêu lên về phiên tòa mà bà cho rằng những điều mà nhà văn Đỗ Văn Phúc viết về bà là không đúng sự thật.

Trong lá thư bà có nêu lên một câu mà theo chúng tôi bà đã nói láo một cách trắng trợn như sau:

“Chúng tôi tha thiết mong mỏi quý vị hãy tìm hiểu cặn kẽ vấn đề trước khi đi đến kết luận. Vì nếu không, quý vị vô tình tiếp tay với ông Phúc trong việc đánh phá người quốc gia một cách vô tội vạ, khi cần lãnh trách nhiệm lại tìm cách kéo cộng đồng vào để lãnh trách nhiệm thay thế cho ông. Chúng tôi tin tưởng vào sự sáng suốt và công minh của các vị trưởng thượng, quý đồng hương, quý cơ quan truyền thông người Việt Hải ngoại và sự cộng bằng của luật pháp Hoa Kỳ”.

Bà tự cho bà là người quốc gia trong lá thư và nhiều lần bà cho rằng bà không liên hệ hay buôn bán gì với các doanh thương “nhà nước CSVN”.

Chúng tôi có bằng chứng bà là người buôn bán trực tiếp với doanh thương CSVN để chuyển Càfê từ Việt Nam qua Mỹ.

(1) Bà Nancy Bùi là CEO của Doanh Thương Triumph Coffee Inc ở Austin Texas, vào năm 2003 trong lúc đảng CSVN đang tìm cách đưa thương hiệu, sản phẩm của họ ra nước ngoài, bà là người giúp đưa Càfê từ doanh thương VC ra nước ngoài. Bà Nacy Bùi liên hệ với công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn A&B của CSVN tại Gò Vấp để trực tiếp đem loại Càfê của công ty nầy qua đường giây của doanh thương của bà là Triumph Coffee Inc.

(2) Năm 2004 Bà Nacy Bùi tiếp tục làm công việc chuyển hàng cho doanh thương VC ra nước ngoài qua một công ty khác là công ty Bamboo O, công ty cà phê rang xay đóng hộp tại Saigon.

(3) Gia đình bà trước năm 1975 có những vườn trồng càfê rộng lớn tại Miền Trung Việt Nam, vào khoảng tháng 10 năm 1990 gia đình bà đã được CSVN trả lại một số vườn Càfê tại Trung Phần với một kế ước là cho gia đình bà thuê 99 năm trên những mảnh đất đó.

Kính thưa bà Nacy Bùi, bà tự cho bà là người Quốc Gia và còn cho rằng nhà văn Đỗ Văn Phúc là đánh phá “người quốc gia”. Nếu bà cho bà là người Quốc Gia thì xin bà hãy trả lời những việc làm của bà mà chúng tôi đã nêu lên trên đây.

Chúng tôi dám chắc với bà lần nữa là chúng tôi có bằng chứng về những điều chúng tôi nêu trên về những hoạt động của bà trước đây. Lá thư nầy BBT Vietland sẽ phổ biến rộng rãi trên báo chí truyền thông.

Chúng tôi sẽ gửi những bằng chứng đã nêu trên tới tòa khi thấy cần thiết.

Kính thư

Đặng Quỳnh Như

Vietland Editor

——————————————————————————–

Thư Của Triều Giang Nancy Bùi:

Austin, ngày 12 tháng 8 năm 2009

Kính thưa Các Bậc Trưởng Thượng trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại,

Kính thưa Quý Đồng Hương Người Việt Tị Nạn,

Kính Thưa Quý Vị trong ngành Truyền Thông Hải Ngoại.

Thưa Quý vị,

Tôi là Nancy Bùi bút hiệu Triều Giang và còn là Hội trưởng Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt. Hơn hai năm qua, tôi đã là nạn nhân của vụ vu khống mạ lỵ, phỉ báng và chụp mũ là Cộng Sản của ông Đỗ Văn Phúc còn được gọi là Phúc Đỗ và Michael Do. Bằng điện thư, internet, website, báo chí và in thành sách, ông Phúc đã tố cáo tôi với rất nhiều tội danh. Tôi xin xác nhận tất cả những điều tố cáo này là không đúng sự thật.

Ngày 18 tháng 5 năm 2009, tôi đã nhờ luật sư mời ông Phúc ra toà án quận Travis, Texas, để trả lời về những lời tố cáo này và yêu cầu ông đưa bằng chứng để chứng minh những lời tố cáo của ông là đúng sự thật, nhưng ông đã không ra toà để nhận trách nhiệm của ông.

Ngày 7 tháng 7 vừa qua, trong phiên xử khiếm diện, toà đã phạt ông Phúc 1 triệu đô la. Ngày 6 tháng 8 vừa qua, ông Phúc đưa đơn kháng án và xin một phiên tòa khác (motion for new trial) với lý do “không hiểu luật pháp Hoa Kỳ”. Tòa án quân Travis đã nhận đơn của ông và cho ông được trình bày trước tòa vào ngày 1 tháng 9 sắp tới, trước khi quyết định cho ông một phiên tòa mới hay không.

Trong mấy ngày vừa qua, ông Phúc và một số người nghe theo lời của ông đã đưa ra những bức thư gửi tới đồng hương trên toàn thế giới bằng điện thư, website, internet, kêu gọi đồng hương góp tiền vào “Quỹ Pháp Lý Đỗ Văn Phúc” để giúp tài chánh cho ông theo đuổi vụ kiện. Những bức thư này nêu lý do ông Phúc không ra tòa vì “không hề nhận được trát tòa” và tiếp tục dùng những luận điệu vu khống, chụp mũ và đặc biệt là nhân danh “bảo vệ quyền tự do báo chí”, bảo vệ chính nghĩa quốc gia để tiếp tục đánh lừa dư luận.

Chúng tôi tha thiết mong mỏi quý vị hãy tìm hiểu cặn kẽ vấn đề trước khi đi đến kết luận. Vì nếu không, quý vị vô tình tiếp tay với ông Phúc trong việc đánh phá người quốc gia một cách vô tội vạ, khi cần lãnh trách nhiệm lại tìm cách kéo cộng đồng vào để lãnh trách nhiệm thay thế cho ông. Chúng tôi tin tưởng vào sự sáng suốt và công minh của các vị trưởng thượng, quý đồng hương, quý cơ quan truyền thông người Việt Hải ngoại và sự cộng bằng của luật pháp Hoa Kỳ.

Một trong những lý do của việc rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau, cắt rốn của chúng ta là vì chúng ta không chấp nhận một nền luật pháp nhân trị (rule-of-man) để đến sống tại Hoa Kỳ với nền luật pháp pháp trị (rule-of-law); một nền luật pháp không có ai có thể đứng ngoài luật pháp, kể cả Tổng Thống. Những ngày tháng vừa qua là những ngày dài và thật khó khăn cho cá nhân và gia đình tôi. Phán quyết của tòa nêu trên là một phán quyết công minh đối với chúng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bậc trưởng thượng, thân hữu xa gần đã hỗ trợ chúng tôi bằng cách này hay cách khác. Chính những hỗ trợ quý báu này đã giúp chúng tôi có đủ sức để vượt những khó khăn. Riêng đối với ông Phúc, toà cũng đã xử công bằng, bằng cách cho ông một cơ hội nữa vào ngày 1 tháng 9 sắp tới. Chúng tôi rất mong mỏi được gặp ông Phúc ở toà để được hiểu vì sao một người đã từng làm việc với tôi và chịu ơn của tôi, lại có những việc làm không thể hiểu được như ông đã và đang làm trong hai năm qua.

Một trong những nhân quyền căn bản được tôn trọng trong xã hội Hoa Kỳ là quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Nhưng tự do báo chí của Hoa Kỳ luôn phải đi kèm với trách nhiệm của người cầm bút. Riêng quyền tự do ngôn luận chưa bao giờ và không bao giờ được định nghĩa là quyền tự do nói láo, vu khống, mạ lỵ, phỉ báng làm tổn hại danh dự của người khác chỉ vì không ưa thích họ hoặc bất đồng ý kiến với họ. Một điều chắc chắn rằng luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ tất cả mọi người chúng ta kể cả ông Đỗ Văn Phúc. Thử hỏi nếu có ai đó vu khống, mạ lỵ, phỉ báng ông Đỗ Văn Phúc là người gian dối, thiếu lương thiện và chụp cho ông cái mũ là CS, tay sai CS, CS trá hình, thì ông Phúc sẽ suy nghĩ và phản ứng ra sao? Chuyện xảy ra cho tôi hôm nay, có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong cộng đồng chúng ta ngày mai, và nếu không có luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ, thì việc chạy trốn Cộng sản, để phải rời xa quê cha, đất tổ sống tha hưong tại xứ người của chúng ta, liệu có còn ý nghĩa gì hay không?

Chân thành cảm ơn quý vị đã dành thì giờ quý báu và quan tâm trong việc tìm hiểu sự thật của vấn đề. Mọi thắc mắc xin liên lạc bằng điên thư qua địa chỉ:

NancyNguyenBui@yahoo.com

Kính thư,

Triều Giang Nancy Bùi

http://www.hon-viet.co.uk/VietLand_ThuNgoGuiBaNancyBuiVvNhaVanDoVanPhuc.htm

August 13, 2009 Posted by | BBT Vietland Trả Lời Thư Bà Triều Giang Nancy Bùi về việc nhà văn Đỗ Văn Phúc, suc vat trieu giang nancy bui nguyen tay sai suc vat ho chi minh | , | Leave a comment

Ðại hội “Chó Gặm Xương” tại Hà Nội! – Trần Thanh

tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh-suc-vat


Ðại hội “Chó Gặm Xương” tại Hà Nội! – Trần Thanh

Ngày 29/5/2009, đại sứ quán của việt gian cộng sản tại Pháp đã gởi công văn đến “Ban lãnh đạo Hội người Việt Nam tại Pháp”* với nội dung, chúng tôi tóm lược những điểm đáng chú ý như sau:

1/ Bọn chúng sẽ tổ chức cái gọi là Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài trên toàn thế giới, sẽ về họp mặt tại Hà Nội, dự trù từ ngày 19/11 đến 24/11/2009, với chủ đề … 1,2,3,4, ….; với mục đích ..1,2,3,4, …; với bốn trọng tâm thảo luận … a,b,c,d …

2/ Tên việt gian Phạm Gia Khiêm, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ ngoại giao sẽ chủ trì cuộc họp.

3/ Bọn chúng dự trù có 1000 người tham dự, chi tiết như sau:

* Phía bọn giặc gồm 350 thằng đầu gấu, đại diện đảng và đủ mọi cơ quan ban ngành trong nước và những thằng đại diện cho các tòa đại sứ, lãnh sự của chúng tại nước ngoài.

* Phía Việt kiều gồm 650 thằng*, đại diện đủ mọi thành phần, thuộc 94 nước trên thế giới, chia ra:

– Châu Mỹ: 200 thằng

– Châu Âu và Châu Phi: 300 thằng

– Châu Á và Châu Úc: 150 thằng

– Riêng nước Pháp là 60 thằng!

4/ Bọn giặc bao mọi chi phí ăn ở, đi lại trong thời gian 5 ngày diễn ra hội nghị. Riêng vé máy bay thì việt kiều phải tự túc; tuy nhiên, nếu thằng chó nào nghèo quá thì có thể xin tòa đại sứ việt cộng trợ cấp một phần tiền vé!

5/ Ðiểm đặc biệt là bọn giặc có mời cả những “nhân vật cao cấp của chế độ cũ, có tinh thần dân tộc, về họp trong tinh thần xây dựng và hòa hợp dân tộc …” !

6/ Khuyến khích và hổ trợ các hoạt động từ thiện hướng về quê hương đất nước!

* PHẦN BÌNH LUẬN:

Ngày 29/3/2009, tên việt gian Quảng Ðộ ban hành bản văn Lời Kêu Gọi, thâu thập được khoảng 400 chữ ký, đồng ý về nước dự “Ðại Hội”. Cũng trong cùng thời gian, tính đến ngày 8/5/2009, Nguyễn Bá Cẩn đi thâu thập chữ ký, được 246 đoàn thể và cá nhân ký tên ủng hộ cái gọi là “Ðệ nạp Hồ sơ đăng ký thềm lục địa Việt Nam”. Song song với việc làm “thềm lục địa”, Nguyễn Bá Cẩn còn dự trù thành lập Chính phủ Lưu vong Việt Nam Cộng Hòa để có “tư cách pháp nhân”, dễ dàng tranh đấu cho vấn đề “thềm lục địa”! Cẩn cho biết rằng, chiếu theo điều 76 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc thì nước Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại! Ðó là lý do vì sao, hồi tháng 7/2003, các nhân vật như Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý Tòng Bá, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Chí Thiện đã cùng nhau hợp tác để thành lập nên cái gọi là VNCH Foundation. Sau này có một thời gian, Lý Tòng Bá đã tuyên bố sẽ … kiện chính quyền việt gian cộng sản ra trước Liên Hiệp Quốc để đòi lại nước Việt Nam Cộng Hòa!

Sau khi chiến dịch đi thâu gom chữ ký xong thì đến cuối tháng 5/2009, bọn việt gian cộng sản đã căn cứ vào danh sách những việt kiều “yêu nước” do Võ Văn Ái, Nguyễn Bá Cẩn cung cấp mà đưa ra kế hoạch mời 650 đại biểu ở hải ngoại về nước dự “Ðại hội Việt kiều”! Chúng ta thấy những việc làm này được phối hợp với nhau rất nhịp nhàng, ăn khớp!

Chúng ta hãy bỏ ngoài tai tất cả những mỹ từ do bọn giặc đưa ra, nào là tổ chức “Ðại hội Việt kiều” để chấn hưng đất nước, nào là đoàn kết dân tộc ..v..v.. Cộng sản nói như vậy mà không phải như vậy, chúng ta đã quá rành, không cần mất thời gian về chuyện này.

Như vậy, nói tọac móng heo, đây là đại hội …. chó gặm xương tại Hà Nội! Tất cả những nhân vật được bọn giặc mời về nước, chắc chắn là có ký tên vào trong bản văn Lời Kêu Gọi của Thích Quảng Ðộ hay bản văn “thềm lục địa” của Nguyễn Bá Cẩn. 650 nhân vật này là 650 con chó, đã chấp nhận đầu hàng bọn giặc, về nước xin được bọn giặc bố thí cho một ít xương để gặm! Nhục quá! Bọn chó này chỉ tham tiền nhưng chúng không biết rằng chúng đang đi vào cõi chết, tự đút đầu vào sợi giây thòng lọng mà chúng tôi sẽ nêu ra trong phần dưới đây.

Cũng may là Nguyễn Bá Cẩn đã chết chớ nếu ông ta còn sống, không khéo là đến tháng 11/2009, ông có thể dẫn cái gọi là “Chính phủ lưu vong VNCH” về nước để xin được gặm xương thì nhục cho chúng ta hết biết!

Có thể có người lên tiếng bênh vực cho ông Cẩn nhưng chúng tôi nghĩ rằng ông đã cam phận quỳ lạy tên giặc Hoàng Minh Chính thì bất cứ việc phản dân hại nước nào ông cũng có thể làm được! Tên Hoàng Minh Chính chỉ là một đảng viên cộng sản trung cấp, tương đương với chủ tịch huyện; trong khi đó, ông Cẩn đã từng là thủ tướng, nhân vật số 2 của NƯỚC Việt Nam Cộng Hòa! Nhục quá! Do đó, ông Cẩn chết bất ngờ là điều rất may mắn cho chúng ta! Ðúng là ông trời có mắt, còn biết thương chúng ta!

Cái gọi là “Ðại Hội Việt Kiều” chính là bước đầu thâu tóm toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại vào tay bọn giặc. Bọn chúng sẽ công bố cho toàn dân và thế giới biết rằng, toàn bộ những thành phần lãnh đạo các tổ chức của người Việt quốc gia tại hải ngoại, kể cả chính phủ VNCH lưu vong đã tập trung về nước, khom lưng, quỳ gối, đầu hàng đảng Cộng Sản Việt Nam. Như vậy, kể từ nay đương nhiên ba triệu người Việt tại hải ngoại sẽ là công dân của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Họ có bổn phận phải …. đóng thuế cho nhà nước xã nghĩa và đi … nghĩa vụ quân sự! Bước tiếp theo là bọn chúng sẽ bố thí cho “chính phủ lưu vong” một số ghế đại biểu trong quốc hội. Sự việc sẽ diễn ra giống như hồi năm 1945, tên Hồ tặc chia ghế cho các đảng phái quốc gia nhưng sau đó hắn đã giết gần hết những người này!

Lòng tham đã làm mờ mắt những con chó, cho dù biết là đi vào cõi chết, chúng vẫn cứ lao đầu vào như những con thiêu thân mê ánh đèn!

* VÌ SAO CHẾ ÐỘ VIỆT GIAN CỘNG SẢN CÒN TỒN TẠI SAU 34 NĂM?

Ðã có nhiều người phân tích về vấn đề này, nhìn qua nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đưa ra hai lý do:

1. Sự phản bội và vô trách nhiệm của những người Việt tại nước ngoài:

Việc này thể hiện qua những đợt ồ ạt đi du lịch Việt Nam, gởi tiền về Việt Nam, tiêu thụ hàng hóa của việt cộng. Mặc dầu trong những năm qua, một số người tâm huyết đã ra sức kêu gọi, phân tích vấn đề nhưng hình như không có kết quả bao nhiêu.

Mỗi một người đi du lịch là một người vô trách nhiệm, phản bội lại sự đấu tranh của những đồng bào trong nước, vô tình giúp cho cái chế độ hung tàn bạo ngược của bọn giặc tiếp tục có điều kiện để tồn tại. Mỗi một chúng ta ở hải ngoại ít nhiều gì đó cũng có trách nhiệm trong việc này.

Trong thời gian gần đây, tháng 7 và 8, dịch cúm heo đang bùng nổ tại Việt Nam, vé máy bay khứ hồi xuống giá chỉ còn 600 Mỹ kim! Các hãng máy bay chỉ cầu bán vé để đủ chi trả mọi phí tổn căn bản. Một số việt kiều ham rẻ rủ nhau đi du lịch Việt Nam, bị bọn giặc làm tiền một cách trắng trợn! Ðây là dịp rất tốt để bọn công an, hải quan bóp cổ, mổ hầu những con heo việt kiều để làm tiền. Bọn chúng đã lùa toàn bộ việt kiều vào các phòng “khám bệnh” tại phi trường, vô cùng nóng bức, thiếu mọi tiện nghi, trấn lột mỗi người 400 Mỹ kim tiền khám bệnh xem thử họ có bị bệnh … “cúm heo” hay không! Người nào muốn được thoát ra khỏi cái địa ngục tra tấn này thì phải đóng mỗi người 600 Mỹ kim hối lộ, mới được cấp giấy chứng nhận “miễn dịch”, được trả tự do về với gia đình!

Khi hay tin này, nhiều người đã bày tỏ sự thương hại đối với những việt kiều xấu số.

Nhưng theo quan điểm của chúng tôi thì bị như vậy LÀ ÐÁNG ÐỜI! Và chúng tôi mong rằng bọn giặc cứ tiếp tục hành xác, cướp bóc những con heo ngu đần như vậy trong một thời gian dài cho đến khi toàn bộ việt kiều phải sáng mắt ra, tởn hồn, không còn ai dám đi du lịch Việt Nam nữa! Việt kiều du lịch là một trong những nguồn lợi tức béo bở của đảng mafia việt gian cộng sản. Mất nguồn thu này sẽ dẫn đến những biến động khác và đưa đến toàn bộ chế độ của bọn chúng phải sụp đổ.

2. Sự cố ý phản bội của những việt kiều chó đẻ, cấu kết với bọn việt gian cộng sản để bóc lột, nô lệ hóa 90 triệu dân. Bọn này gồm có hai thành phần:

A. Thành phần kinh doanh chính trị:

Bọn này gồm những tổ chức đảng phái đấu tranh, đối lập cuội, lừa gạt, móc túi đồng bào, đưa đồng bào vào chỗ chết, hướng dẫn đồng bào “chống cộng” bằng cách bắn súng lên trời, đánh vào những mục tiệu giả suốt mấy chục năm nay! Chúng ta vừa bị mất tiền, vừa tốn công sức, tốn phí thời gian mà kết quả chỉ là con số Zero to tướng!

Một vài tổ chức điển hình:

a/ Mặt trận Phở Bò, lường gạt, móc túi đồng bào một số tiền khoảng 20 triệu Mỹ kim cách đây 20 năm. Những người nhẹ dạ ghi tên tham gia Mặt Trận đã bị bọn chúng đem bán toàn bộ lý lịch cho bọn việt gian cộng sản để lấy tiền! Một số người tố cáo tội ác của Mặt Trận, đều bị bọn chúng giết chết!

b/ Tổ chức Phục Hưng: một trong những cha đẻ của Mặt Trận.

Tổ chức này do tên việt gian Trần Quốc Bảo cầm đầu. Trò điếm lưu manh của tổ chức này là hướng dẫn đồng bào tập trung vào việc đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp! Trò điếm mới nhất của chúng là phối hợp với Phong Trào Quốc Dân của Nguyễn Hữu Lễ, phát hành DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”. Hiện nay bọn chúng đang ráo riết đi móc túi, quyên tiền đồng bào qua cái DVD ca ngợi Hồ Chí Minh này! (Hồ và đảng Cộng Sản có công đánh đuổi giặc Pháp, giặc Mỹ, thống nhất đất nước)

c/ Ðảng Việt Tân, con đẻ của Mặt Trận Phở Bò

Có thể nói bọn này chỉ thua đảng việt gian Cộng Sản ở quy mô giết người mà thôi, ngoài ra, về những trò điếm đàng, lưu manh, lường gạt thì bọn chúng bên tám lạng người nửa cân! Xét về mặt nguy hiểm thì bọn chúng NGUY HIỂM HƠN CỘNG SẢN vì bọn chúng khoác áo người quốc gia! Kẻ nội thù bao giờ cũng cực kỳ nguy hiểm bởi vì bọn chúng có thể giết chúng ta bất cứ lúc nào!

d/ Cao Trào Nhân Bản của tên việt gian Nguyễn Ðan Quế: 36 ngón nghề lưu manh, điếm đàng, lường gạt, có đủ hết! Chúng tôi đã phân tích nhiều trong những bài viết trước đây.

e/ Khối 8406 tuy mới ra đời nhưng trong tương lai sẽ qua mặt tổ chức Phục Hưng về mặt lưu manh, lường gạt. Lý do vì bọn chúng có đại diện ở trong lẫn ngoài nước, móc túi được toàn diện 90 triệu dân!

e/ Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn do “linh mục” Nguyễn Hữu Lễ cầm đầu:

Như chúng tôi đã phân tích, ngay từ đầu, chúng ta đã thấy vô lý rồi. Hai chữ “quốc dân” có nghĩa là toàn thể đồng bào. Chỉ có những người đã từng sống ở Sài Gòn mới tha thiết đòi trả lại tên Sài Gòn, còn những người ở ngoài Bắc, ngoài Trung hoặc Cà Mau thì chưa chắc. Do đó không thể nói đây là nguyện vọng chung của toàn dân mà dùng hai chữ “quốc dân”! Vả lại, đã gọi là đấu tranh cho nền độc lập, tự do cho dân tộc thì phải đòi lại cả đất nước, nghĩa là phải lật đổ bạo quyền cộng sản, tiêu diệt tận gốc rễ chế độ cộng sản để bọn chúng không bao giờ còn có cơ hội ngóc đầu dậy nắm quyền được nữa. Ðó mới là đấu tranh chân chính. Ðấu tranh để giải thoát đồng bào VĨNH VIỄN khỏi ách nô lệ, đó mới là đấu tranh.

Kiểu đấu tranh của Nguyễn Hữu Lễ chẳng khác gì một người dân oan trong Nam lặn lội ra tận ngoài Hà Nội để đòi lại cho bằng được … CÁI SỐ NHÀ!

Một kiểu đấu tranh hài hước mà ông Lễ nói là hễ đòi lại được tên gọi “Sài Gòn” tức là đã … RỬA NHỤC được cho đồng bào!

Giả sử bọn giặc nó nhân nhượng trả lại tên gọi “Sài Gòn”, không gọi là “thành phố Hồ Chí Minh” nữa thì liệu toàn dân trong nước, mỗi người dân một tháng được tăng thêm mấy ký gạo, hay là cái bao tử của họ vẫn lép kẹp, vẫn phải chạy ăn từng bữa toát mồ hôi đến long tóc gáy???

Ðấu tranh chính trị là phải nhằm vào lợi ích THIẾT THỰC cho toàn dân chớ không phải cho người dân ăn bánh vẽ như ông Lễ đã và đang làm!

Những tổ chức chính trị, đảng phái ma trơi tại hải ngoại rất là nhiều, khoảng 95 % là dỏm, do bọn việt gian cộng sản và Việt Tân vung tiền ra, giăng thiên la địa võng để đánh bẫy những con mồi khờ khạo. Những tờ điện báo trên internet cũng vậy, kể cả những tờ báo có trưng lá cờ vàng VNCH to tướng và núp dưới danh nghĩa các tổ chức của cựu quân nhân VNCH, khoảng 95% là dỏm, chỉ có cái vỏ bên ngoài là “quốc gia”, còn cái ruột bên trong là đỏ lòm cộng sản!

Những đồng bào trong nước nên cảnh giác, đừng có vào internet, đút đầu vào những ổ rắn độc như Ðàn Chim Việt, VietLand, Việt Vùng Vịnh, Take2Tango, VietNam Exodus thì chết thẳng cẳng!

B. Thành phần lưu manh cấu kết với việt gian cộng sản để làm giàu:

Chúng ta thấy có nhiều kẻ đã trở thành triệu phú nhờ bóc lột xương máu của đồng bào, ví dụ như hai con mụ điếm việt kiều tại Canada là Tư Hường và Hai Én. Hai mụ này đã cấu kết với bọn giặc, cướp đất của người dân để làm khu du lịch tại tỉnh Khánh Hòa!

Nước Việt Nam dưới sự cai trị của bọn giặc đang xài luật rừng. Tài nguyên của quốc gia, bọn chúng đem bán vô tội vạ cho ngoại bang. Rừng già bị phá nát, gây lụt lội. Mọi loài thú rừng gần như bị tuyệt chủng. Dầu khí ở dưới biển bị hút, đem bán trực tiếp cho ngoại bang, không thông qua sổ sách. Ðó là lý do vì sao có nhiều tên cán bộ trong một thời gian ngắn đã trở thành triệu phú đô la. Thậm chí có tên chỉ là thứ trưởng bộ ngoại thương mà có bạc tỷ đô la, nhờ bán quotas và ăn hối lộ!

Một số việt kiều lưu manh đã lợi dụng những sơ hở về luật pháp và cái chính quyền tham nhũng, đã về Việt Nam cấu kết với bọn giặc, kinh doanh mở sòng bài, mở động đĩ, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bạch phiến, nói chung là đủ thứ tội ác ở trên đời, miễn là có tiền! Nếu một việt kiều ở Mỹ lấy gậy đánh một con chó thì có thể bị phạt vài ngàn đô, thậm chí bị đi tù một tháng; trong khi đó, cũng tên việt kiều này về Việt Nam, hắn có thể đi mua trẻ em, bẻ gãy tay, chọc mù mắt chúng để đem bán cho những tổ chức cho thuê trẻ em để đi ăn xin thì không bị tội vạ gì!

Một loại dịch vụ khác cũng nhanh chóng vừa dễ được giàu có vừa được tiếng tốt “cứu nhân độ thế”, đó là “nghề” kinh doanh … từ thiện! Ðây cũng chính là một trong những trọng tâm sẽ được đưa ra thảo luận trong Ðại Hội Việt Kiều! Ở bên Mỹ có bác Hồ Ai Da là con gà cưng, con gà đẻ trứng vàng, hiện đang được bọn việt gian cộng sản rất o bế! Nếu kế hoạch lường gạt của bác thành công, có thể đem lại cho bọn giặc một số tiền khổng lồ là 400 triệu Mỹ kim, móc thẳng từ trong tim gan, từ trong ruột, trong máu của những việt kiều ở hải ngoại!

Kính thưa quý vị,

Những bọn chó việt kiều vô lương tâm nói trên không bao giờ muốn cho chế độ của bọn việt gian cộng sản bị sụp đổ. Chính nhờ cái chế độ phi nhân này mà bọn chúng đã có thể làm giàu một cách dễ dàng, dù biết rất rõ là làm giàu trên xương máu của đồng bào. Do đó, bọn chúng đã cấu kết với bọn giặc tìm mọi cách để duy trì chế độ cộng sản. Bọn chúng đã tìm mọi cách cản phá những cuộc đấu tranh của đồng bào ở hải ngoại và trong nước. Trong suốt mấy chục năm qua, những người đấu tranh ở hải ngoại đã bắn hàng chục triệu phát đạn nhưng chỉ toàn là bắn lên trời hoặc xuống dưới biển! Lý do vì bọn chó đã hướng dẫn đồng bào đánh vào những mục tiêu giả!

Ví dụ như “biểu tình tại gia” chính là trò hướng dẫn đồng bào bắn súng lên trời! “Ðấu tranh” bằng cách nằm trùm mên dưới gầm giường thì biết đến bao giờ mới có thể làm cho chế độ cộng sản bị sụp đổ!

NHỮNG GÌ SẼ XẢY RA TRONG THỜI GIAN ÐẠI HỘI VIỆT KIỀU VÀO THÁNG 11/2009?

1. Ði viếng thăm lăng “bác”:

Chắc chắn những con chó sẽ được xích cổ và bị dắt tới viếng thăm lăng “bác”. Bọn chúng sẽ bị quay phim, chụp hình và đưa hình lên internet để cho toàn thể đồng bào chiêm ngưỡng!

Quý vị cứ tưởng tượng những “lãnh tụ” của các băng đảng như Việt Tân, Phục Hưng, Liên Minh Dân Chủ ngoan ngoãn đứng xếp hàng trước lăng “bác” để chờ được vào kính bái thì hay ho biết chừng nào! Ðó là chưa kể bọn giặc có thể chở mấy con chó “đại biểu” tới Ðại Nam Quốc Tự ở Bình Dương để được vào chổng mông quỳ lạy bác Hồ!

2. Bị gài bẫy, đưa đầu vào sợi giây thòng lọng:

Một khi đã nuôi chó săn thì bọn chủ chó phải nắm chắc đằng chuôi, nghĩa là, nếu sau này mấy con chó làm phản, sẽ bị chủ chó treo cổ liền lập tức!

Những tên ham gái sẽ bị quay phim, chụp hình khi trần truồng với mấy con đĩ chân dài trong khách sạn. Những nữ chó săn việt kiều sẽ được những tên đĩ đực tới phục vụ, tất nhiên cũng sẽ được quay phim và chụp hình! Tất cả mọi hình thức nhận hối lộ đều được lưu lại bằng chứng để khi cần thì sẽ đưa ra ánh sáng. Bọn giặc sẽ dùng chính luật pháp của chúng để treo cổ những con chó phản chủ!

* CÁI GIÁ ÐẮT MÀ NHỮNG CON CHÓ SĂN PHẢI TRẢ:

Số phận của những con chó săn việt kiều thường bị kết thúc một cách rất thê thảm. Một khi đã tự nguyện đem thân về nước nạp mạng, tựa như con cá nằm trên thớt, những con chó săn có thể bị giết bất cứ lúc nào. Bọn việt gian cộng sản có thể ngụy tạo ra những “tai nạn giao thông” hoặc những vụ “nhảy lầu tự tử” là xong! Ủy viên bộ chính trị của bọn chúng mà còn bị giết thì sinh mạng của mấy con chó săn việt kiều nghĩa lý gì! Nếu muốn làm nhục người bị giết thì bọn giặc có thể ngụy tạo ra những vụ chết trần truồng trong khách sạn rồi phao tin là nạn nhân bị “thượng mã phong”! Nói tóm lại là có 1001 kiểu chết và tất nhiên những gì của Xê Da sẽ phải trả lại cho Xê Da. Tất cả mọi bất động sản như nhà cửa, đất đai, xe cộ mà bọn giặc đã ban phát cho những con chó săn sẽ bị lấy lại toàn bộ.

Ðó là chưa kể, sau khi chết, nạn nhân phải bị mang nhục nghìn đời, bị toàn dân nguyền rủa như những tên Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Cao Khải trong lịch sử!

Những ai đang có ý định muốn về nước tham dự “Ðại Hội Việt Kiều ” vào tháng 11-2009 sắp tới thì nên suy nghĩ lại. Sau vài chục năm định cư ở nước ngoài, nhiều người đã có công danh sự nghiệp, tuy không hiển hách và đại phú nhưng cũng đủ để sống một cuộc sống bình an bằng những đồng tiền lương thiện do mình để dành trong quá trình đi cày. Nếu so sánh với những người dân trong nước thì rõ ràng một bên là thiên đàng, một bên là địa ngục. Một người trong nước, cho dù là “đại gia” thì cũng chẳng khác gì một con giòi mập mạp đang vùng vẫy dưới hầm cầu tiêu! Sướng ích gì, hay ho gì để trở về sống trong địa ngục trần gian?

Trong số những người sắp sửa về họp “Ðại Hội Việt Kiều”, có nhiều vị đã quá già, tóc bạc trắng xóa hết rồi, không biết còn sống được mấy ngày nữa, tại sao không an phận sống an bần lạc đạo tại hải ngoại mà còn cố bon chen về hang ổ rắn rết của bọn giặc để chịu chết nhục, chết hèn, làm cho con cháu phải tủi hổ về mình? Một số vị trước năm 1975 đã từng giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền VNCH và chắc chắn là có nhiều vị đã bị móc nối -hoặc tự nguyện- cho nên bọn giặc mới đề cập thẳng trong văn thư gởi cho Ban lãnh đạo Hội người Việt Nam tại Pháp! Không có lửa làm sao có khói, nếu quý vị không ngỏ ý, bắn tiếng, muốn được đi đổ bô thì làm sao bọn giặc biết mà mời đích danh những thành phần “nhân vật cao cấp trong chính quyền cũ”???

Tại sao quý vị lại liều lĩnh ném hết tất cả sự nghiệp, danh dự của mình và danh dự của toàn bộ gia tộc của mình vào một canh bạc mà thằng chủ sòng bài là một thằng trùm điếm đàng, ai cũng biết nó trong suốt hơn 60 năm nay? Từ trước đến giờ có ai bước chân vào casino, khi bước ra mà …. không khóc? Huống chi cái casino “Ðại Hội Việt Kiều” này, xác suất chiến thắng chỉ là … một phần triệu! Biết chắc là thua, biết chắc là chết mà tại sao quý vị vẫn cứ đâm đầu vào?

Chẳng qua chỉ vì lòng tham!

Ðừng có đổ thừa vì nể nang lời kêu gọi của “thầy” Quảng Ðộ hay lời rủ rê của ngài thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn! Ông Cẩn hiện giờ đang ở dưới … địa ngục A Tỳ, đang bị tên Hoàng Minh Chính xài xể ở dưới đó!

* PHẢI CHĂNG HỄ CÓ NHIỀU TIỀN THÌ ÐƯƠNG NHIÊN SẼ CHIẾN THẮNG?

Vấn đề không phải đơn giản như vậy. Nếu quả thật những kẻ giàu luôn luôn chiến thắng thì quả đất này đã bị hủy diệt từ lâu rồi. Giàu có ai bằng bạo chúa Sadam Hussein? Nhưng cuối cùng hắn đã bị treo cổ! Thông qua hình ảnh của hắn, chúng ta thấy thấp thoáng những tên như Mạnh, Triết, Dũng, An đang chờ đợi được tới phiên! Bọn việt gian cộng sản có thể vung tiền ra bạc tỷ đô la để mua chuộc thật nhiều tay sai nhưng bọn chúng phải nhớ rằng cái gì được mua chuộc bằng tiền thì không bao giờ lâu bền. Nó giống như “cuộc tình” với một con đĩ của khách làng chơi trong động điếm. Con đĩ đồng ý “làm vợ” khách làng chơi trong vòng một vài tiếng đồng hồ, khi hết giờ thì đường ai nấy đi.

Hiện nay tại hải ngoại, chúng ta thấy những đảng phái ma trơi nhiều như nấm dại sau cơn mưa. Những tờ báo điện tử do bọn việt gian cộng sản và Việt Tân thuê mướn, mọc ra như nấm. Nhưng như đã nói trên, còn tiền còn bạc còn đệ tử, hết cơm hết gạo hết ông tôi. Nếu vì một lý do gì đó, bọn việt gian cộng sản bị kẹt tiền, không có đủ tiền chi trả cho bọn điếm chính trị này thì chỉ trong vòng một đêm là toàn bộ bọn chúng đều tan rã, chúng ta không cần tốn một phát đạn! Bọn chúng là ÂM BINH cho nên tan biến đi nhanh lắm! Chúng ta thấy những âm binh như Lai Thế Hùng, Nguyễn Văn Canh, Trần Quốc Bảo lăng xăng đi khắp nơi trên thế giới, kẻ thì đòi dân chủ, kẻ thì lo đòi Hoàng-Trường Sa, kẻ thì đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp. Nhưng chỉ cần một biến cố chính trị xảy ra thì những con ma giấy này sẽ tự động bị rớt xuống đất, nằm vô hồn như những hình nhân bằng giấy mà chúng ta thường đốt cúng cô hồn trong dịp rằm tháng bảy xá tội vong nhân!

Cũng tương tự như vậy, mấy triệu tên công an và bộ đội ở trong nước cũng là một thứ âm binh được nuôi sống từng ngày. Còn tiền thì bọn chúng còn “trung thành” với chủ, hết tiền thì bọn chúng sẽ tự động nổi loạn, quay súng AK bắn vào đầu mấy tên pháp sư việt gian cộng sản!

Trái ngược lại với những hình ảnh này, chúng ta phải thấy những người đấu tranh chân chính sẽ là những người chiến thắng. Họ ví như những người vợ chung thủy, đạo đức, dù chồng có bị đi tù lâu năm, họ vẫn kiên nhẫn chờ chồng và nuôi con. Họ khác xa với hình ảnh của những con đĩ hoặc bọn ma cô chính trị và đám âm binh công an, bộ đội. Dù nghịch cảnh có thử thách tới đâu, họ vẫn kiên gan, bền chí vượt qua. Không có tiền trong một ngày hay trong mười năm cũng không làm cho họ nản lòng.

Ðể hình dung cho rõ hơn, chúng ta nên nhìn đến những người dân đang đấu tranh trong nước, nói chung, và những người Công Giáo nói riêng. Họ là những người rất nghèo, vũ khí của họ chỉ là Ðức Tin, là những cây nến và những xâu chuỗi. Vậy nhưng họ có thể kiên gan bền chí để chiến đấu từ năm này sang năm nọ, không cần phải có đô la yểm trợ mới đứng vững. Sự chiến đấu bền bỉ, khôn ngoan và dũng cảm của các giáo dân Công Giáo trong nước phải làm cho chúng ta và cả thế giới kính phục. Người dân là nước, đảng việt gian cộng sản là thuyền. Nước phải lật thuyền chớ thuyền không thể lật được nước.

Cũng tương tự như những người Công Giáo trong nước, những người đấu tranh chân chính tại hải ngoại tuy ít nhưng lâu bền vì họ có lý tưởng. Ða số đều ăn cơm nhà vác ngà voi chớ không lãnh lương từ quỹ của nghị quyết 36 của việt cộng! Nhưng họ sẽ chiến đấu bền bỉ và sẽ chiến thắng.

KẾT LUẬN:

Bọn giặc đang chuẩn bị triệu tập các âm binh về Hà Nội để chỉ đạo, ra vẻ như Tần Thủy Hoàng đã thống nhất được sơn hà. Nhưng 650 cái hình nộm giấy đó mà làm được cái gì? Ngay chính bản thân những thằng Mạnh, Triết, Dũng, An cũng là một thứ hình nộm bằng giấy. Bọn chúng sẽ bị những ngọn nến thần thánh của các giáo dân Công Giáo thiêu rụi trong nay mai!

650 thằng mặt dơi tai chuột về dự “đại hội” chỉ là 650 con chó. Bọn chúng sẽ bị người dân đời đời nguyền rủa. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Bọn chó này chẳng khác gì phái đoàn của tên Trần Ích Tắc rủ nhau sang Tàu đầu hàng và được Hốt Tất Liệt phong làm An Nam Quốc Vương. Nhưng dẫu sao Trần Ích Tắc cũng còn được hư vị “An Nam Quốc Vương”, trong khi đó, 650 con chó việt kiều may lắm là được làm đại biểu … quốc hội! Còn nếu không may thì mỗi thằng sẽ được nhận một nhát cuốc lên đầu rồi bị chôn sống!

Trần Thanh

Ngày 9 tháng 8 năm 2009

* Chú thích:

* Người quốc gia không bao giờ dùng chữ “Ban Lãnh Ðạo” đối với các tổ chức tư nhân. Chỉ có việt cộng mới ham “lãnh đạo”, cái chó gì cũng phải “lãnh đạo”, một hình thức muốn đè đầu đè cổ thiên hạ! Thậm chí Ban quản lý nghĩa trang cũng phải có “ban lãnh đạo” của chi bộ đảng! (Chúng ta thường dùng nhóm chữ “Ban Quản Trị” hoặc “Ban Ðiều Hành”)

Chúng ta thường dùng chữ “Hội người Việt” hoặc “Hội người Việt Quốc Gia” chớ không ai dùng chữ “Hội người Việt Nam”. Nội đọc cái tên gọi của tổ chức là chúng ta biết chắc đó là tổ chức của cộng sản rồi!

* Chỉ cần nhìn vào bảng phân phối nhân sự, chúng ta có thể kết luận là đa số thành phần việt kiều lưu manh, thân cộng tập trung ở …. Châu Âu, có lẽ nhiều nhất là ở Ðông Âu và Liên Xô! Chúng ta không ngạc nhiên vì Ðông Âu là hang ổ của bọn việt gian cộng sản, tập trung đa số thành phần công nhân lao động xuất khẩu, xuất thân từ miền Bắc, đã được bác và đảng giáo dục rất kỹ! Chỉ có những thành phần “lý lịch tốt” mới được đi xuất khẩu lao động.

– Châu Mỹ gồm hai nước chính là Mỹ và Canada và cũng là nơi có đông người Việt nhất, khoảng trên một triệu, có 200 “đại biểu”.

– Châu Âu: 300 “đại biểu” (nhiều hơn tới 100 người)

– Châu Phi: coi như không có, hoặc nếu có thì không đáng kể.

– Riêng một nước Pháp mà có tới … 60 đại biểu thì nhiều quá, so với tỷ lệ 200 của Mỹ và Canada! Phải chăng là nhờ bác “Buồi Pín” và Dương Thu Hương “giáo dục” nên có nhiều việt kiều yêu nước như vậy?

http://www.hon-viet.co.uk/TranThanh_DaiHoiChoGamXuongTaiHaNoi.htm

August 11, 2009 Posted by | Ðại hội "Chó Gặm Xương" tại Hà Nội! - Trần Thanh, tay-sai-suc-vat-ho-chi-minh-suc-vat | , | Leave a comment

CHIẾN LƯỢC CHINH PHỤC NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỦA TẬP ĐOÀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN

CHIẾN LƯỢC CHINH PHỤC NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỦA TẬP ĐOÀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN

(Tiếp bài: Không có phe cấp tiến trong Việt gian cộng sản)

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Nếu mục tiêu chiến lược hàng đầu của tập đoàn Việt gian cộng sản, sau khi mẫu quốc Nga-xô của chúng sụp đổ, là TÌM MẪU QUỐC THAY THẾ. Và chúng đã chọn Tàu bành trướng, vì những lý do đã được phân tích ở những bài trước. Thì MỤC TIÊU QUAN TRỌNG THỨ HAI của Tập đoàn Việt gian cộng sản là CHINH PHỤC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN VIỆT GIAN CỘNG SẢN.

Kết hợp việc chọn Tàu bành trướng làm mẫu quốc, với QUYẾT TÂM CHINH PHỤC Cộng đồng người Việt tỵ nạn Việt gian cộng sản, là công việc có tính QUYẾT ĐỊNH SỰ SỐNG CHẾT CỦA CHÚNG, gồm hai lý do:

Lý do chính trị: Sau Hiệp định Genève 1954 về VN, Tập đoàn Việt gian cộng sản do Hồ-Việt- gian cầm đầu, tạm thời quản lý phía Bắc VN, từ vĩ tuyến 17 trở ra. Chúng đã vội vàng bolsevik hóa toàn đảng (cộng sản, lúc đó che đậy trong lốt “đảng Lao động VN), tiếp theo là bolsevik hóa toàn thể mọi tầng lớp nhân dân VN (ở phía Bắc VN) và THANH TOÁN các cá nhân, tổ chức có XU HƯỚNG QUỐC GIA, kể cả các tổ chức và hội đoàn tôn giáo cùng các lãnh đạo tinh thần. Chúng phân loại để cái gì cần triệt tiêu, cái gì giữ lại cái lốt cũ để cài người của chúng vào chỉ đạo trực tiếp những cá nhân đã đầu hàng, chấp nhận làm tay sai cho chúng trong việc đoàn ngũ hoá nhân dân và lái họ đi theo lộ trình dẫn vào con đường NÔ LỆ ĐỎ (hai đảng Dân chủ và Xã hội là một thí dụ).

Với cái trò “Hồn Trương Ba da hàng thịt” như thế, Tập đoàn Việt gian cộng sản muốn che đậy bộ mặt thật trước dư luận của NHÂN DÂN YÊU CÔNG LÝ trên toàn thế giới, nhất là ở Thế giới tự do (còn gọi là phương Tây), và QUA ĐÓ mà CHE ĐẬY BỘ MẶT VIỆT GIAN, TAY SAI CỦA NGA-TÀU, đối với Nhân dân VNCH, vì nước VNCH đang là mục tiêu bành trướng của thực dân đỏ, mà Hồ-Việt-gian đã nhận chỉ thị thực thi của Bộ Thuộc địa Nga-xô (tức Quốc tế 3), từ 1930!

Trong thực tế, các chính phủ của các nước phương Tây không lạ gì bản chất của Hồ và cái tổ chức Việt gian cộng sản của hắn. Nhưng bởi bản thân cái chính phủ đó chỉ được quá bán số cử tri nước họ mà thôi, còn sự thực họ đại diện cho quyền lợi của một số tập đoàn tài phiệt nào đó. Vì thế, suy nghĩ và hành động của các chính phủ loại như thế, không bao giờ là SUY TƯ CỦA TOÀN DÂN nước mà họ được coi là ĐẠI DIỆN! Cho nên, không thiếu gì bằng chứng họ đã lừa dối và phản lại người dân của chính nước họ qua những trò mị dân trong dịp vận động bầu cử và lúc được cầm quyền.

Cho nên cá nhân nào, tổ chức nào thỏa mãn hoặc ít hoặc nhiều quyền lợi những tập đoàn tài phiệt mà họ đại diện (đúng ra là kẻ làm công, nhưng ăn lương bằng tiền thuế của dân), đều được họ khôn khéo ủng hộ và tích cực lợi dụng.

Lấy Việt Nam làm thí dụ, để đặt câu hỏi:

Việc ám sát Tổng thống Ngô đình Diệm là âm mưu của chính phủ Kennedy hay của Nhân dân Mỹ yêu công lý?

Tại sao nói là giúp VNCH chống Cộng sản Hà-nội mà lại cho phép ngụy quân Việt gian cộng sản THÂM NHẬP vào VNCH và không chấp nhận để QLVNCH Bắc tiến ?

Cuộc chiến tranh leo thang bằng không quân Hoa Kỳ ra phía Bắc VN, thực chất là nhằm hai mục tiêu:

· Tạo lý do “chính đáng “ cho cả Nga-xô và Tàu bành trướng đua nhau trang bị và huấn luyện đủ loại binh chủng ngụy quân Việt gian cộng sản với vũ khí hiện đại, như không quân đã có MIC 21 (hiện đại hơn chiến tranh Triều tiên rất nhiều); binh chủng phòng không có đủ các đơn vị thông tin, radar, cao xạ, (tên lửa) hỏa tiễn SAM; binh chủng thiết giáp với xe tăng T54; binh chủng chiến tranh hóa học; lính đặc công v.v…Và trong an ninh quân đội của Việt gian cộng sản đã đào tạo nhiều sỹ quan thành thạo tiếng Anh, Nhật, Đại hàn, Thái lan, Lào, Căm-bốt và cả Philippine nữa (tiếng Anh được đào tạo tại Nga-xô và Ba lan). Còn phải nói đến là “nhờ” có chiến tranh leo thang mà Việt gian cộng sản đã có “lý do chính đáng” để thực thi chính sách TOÀN DÂN VI BINH. Mỗi hợp tác xã nông nghiệp là một đơn vị dân quân, không chỉ trang bị súng bộ binh mà cả đại liên, cao xạ phòng không và vùng biển thì có đại bác bắn tàu biển. Được ngày ngày thực tập bằng sự huấn luyện “leo thang” (nghĩa là khó dần dần lên), nên các đơn vị gọi là dân quân chẳng thua gì lính chính quy và nhờ thế việc bổ xung cho lính chính quy thật là dễ dàng. Ở các thị trấn, thành phố thì mỗi cơ quan, nhà máy, tùy theo số người cũng biên chế thành đại đội, tiểu đoàn hay trung đoàn (khác với nông thôn là mang danh xưng là Tự vệ). Từ xã ở nông thôn cho đến cơ quan, nhà máy đều có cán bộ quân sự chuyên trách.

Ủy ban thể dục thể thao trung ương cũng phối hợp tổ chức các lớp bắn súng thể thao, súng ngắn, ném lựu đạn, võ thuật và nhảy dù.

· Chiến tranh “leo thang” của Mỹ bằng không quân ra Bắc VN, giúp rất hiệu quả cho Việt gian cộng sản tổ chức bằng thực tế và tại chỗ các loại lính sẵn sàng bổ sung cho chiến trường xâm lược của chúng vào nước VNCH. Đồng thời cũng giúp Việt gian cộng sản thắt chặt hơn nữa đời sống vật chất của bầy nô lệ đỏ như bớt khẩu phần ăn, thay thế gạo bằng mọi thứ tạp nham mà đầu óc lũ chủ nô có thể nghĩ ra được; mỗi nhân khẩu phải tổ chức nhau lại, đi sản xuất nông nghiệp vì mỗi năm phải TỰ TÚC 2 tháng lương thực!!! Thực phẩm thì phải ăn đủ thứ, từ ốc sên cho đến chuột cống thành phố, rồi ăn cả thai nhi bị nạo vì “sinh đẻ có kế hoạch” và nhau đẻ, cho đến lá khoai mì (được ủy ban khoa học tính giá trị dinh dưỡng của 7kg lá khoai mì ngang bằng 1kg thịt bò). Nô lệ đỏ còn được hướng dẫn để tập thiền, uống nước lạnh tiết kiệm một bữa ăn (sáng hoặc chiều) và làm việc thì không nghỉ phép năm (một năm 10 ngày phép) và “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật”.

Rồi vì máy bay oanh tạc nên hạn chế dùng điện, nước và các nhu yếu khác cho sinh hoạt như kem và bàn chải răng, xà-bông tắm, bánh kẹo v.v…

Bất kể khó khăn gì đều có lời giải đáp “Tại đế quốc Mỹ ném bom. Đánh xong giặc Mỹ mới có thể giải quyết bình thường”.

Vụ máy bay B52 của Mỹ thả bom xuống khu Khâm thiên Hà nội, trong thực tế phải trên vạn người thiệt mạng. Nhân dân thế giới xúc động, đặc biệt nhân dân Mỹ đã xuống đường lên án cuộc chiến tranh. Cả thế giới BỊ LỪA, chỉ có hai kẻ khoái trí. Một là chính phủ Mỹ có “Lý do chính đáng là theo Ý Dân, rút chân ra khỏi VN”.

Kẻ thứ hai là Tập đoàn Việt gian cộng sản. Vì ngộ nhận, nhân dân thế giới đã tội nghiệp cho lũ sát nhân Việt gian.

Chắc chắn CIA của Mỹ phải biết rằng, ở khu Khâm thiên, Hà-nội, chẳng hề có cơ quan, nhà máy nào quan trọng cả. Ở đó chỉ có Dân VN với tên gọi cho đúng là NÔ LỆ ĐỎ mà thôi. Không những thế, đó còn là nơi cư trú của những người bị bắt đi kinh tế mới, không sống nổi, phải trốn về đó, không hộ khẩu, không tem phiếu. Hầu hết là làm cho các tổ sản xuất lậu do vợ con những tên Việt gian cộng sản có quyền thế cầm đầu. Thí dụ, vợ Nguyễn duy Trinh, ủy viên bộ chính trị Việt gian cộng sản, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao ngụy quyền Việt gian cộng sản; vợ cả của Hoàng minh Giám, bộ trưởng văn hóa thông tin ngụy quyền Việt gian cộng sản; vợ tên Văn tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng ngụy quân Việt gian cộng sản; vợ tên Lê Nghĩa, bí thư đảng ủy kiêm phó giám đốc sở công an Hà-nội của ngụy quyền Việt gian cộng sản, và v.v…

Có thể nói rằng, Khu Khâm thiên (Hà-nội) là nơi gây nhiều bất ổn cho ngụy quyền Việt gian cộng sản. Đó là nơi tập trung của những người cùng khổ nhất do Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh gây ra, họ sẵn sàng chơi xả láng. Thí dụ vụ giết “dũng sĩ diệt Mỹ” ở công viên Thống nhất (sau đổi là công viên Lênin); giết rồi treo cổ bảo vệ lên cây trước nhà bạt của đoàn xiếc trung ương; tấn công đồn công an ga Hàng cỏ, trói công an lại và lấy phất trần (chổi long gà) đánh xưng cả hai mông đít, đốt hết hồ sơ của đồn; ăn cắp cửa kính các xe vận tải; ăn cắp hàng ở ga Hàng cỏ và ga Yên viên… Vì thế, đợt bom B52 của Mỹ tận diệt hết những con người đó, giúp ngụy quyền Việt gian cộng sản nhổ được cái gai trong mắt ngay giữa Hà-nội!!!

Sau ván bài cá độ bằng máu những người Việt thực sự là nạn nhân thảm khốc của Tập đoàn Việt gian cộng sản, Hiệp định Paris 1973 về VN được ký kết. Những gì Mỹ làm tưởng như gíúp cho nhân dân và Nhà nước VNCH, cuối cùng là cho không Tập đoàn Việt gian cộng sản. Người dân thường VN (tức nô lệ đỏ) nói chung; quân, dân, cán, chính của VNCH nói riêng, khi hiểu ra câu ngạn ngữ: “Không có bạn và kẻ thù vĩnh cửu. Chỉ có QUYỀN LỢI vĩnh cửu” thì đã quá muộn!

Tuy nói vậy, nhưng cần phân biệt cho rõ sự khác biệt trong hàm ơn. Chúng ta phải MÃI MÃI GHI ƠN những chiến binh Mỹ đã bỏ mình trên chiến trường VN, và nhân dân Mỹ nói chung, nhất là vợ con, thân nhân của những chiến binh đó, kể cả các chiến binh còn sống đã trở về với gia đình. Còn với các nhân vật trong chính phủ Mỹ, dù xuất thân từ đâu, kiểu như Henry Kissinger hay John Kerry…, thì nên nhớ lời cha ông chúng ta đã nhắc nhở: “Kính nhi viễn chi”; “Đừng buôn chung với Đức Ông”; “Nói vậy mà không phải vậy”; “Đừng đánh đu với ma”; “Mật ngọt chết ruồi (tức là nhìn vào việc làm đừng nghe lời nói mà vội cả tin)”; và nên “tri kỷ tri bỉ”.

Chúng ta cần phải thấy rằng, cuộc chiến tranh leo thang bằng không quân Mỹ ra phía Bắc VN đã giúp cho Tập đoàn Việt gian cộng sản gần như trọn vẹn những điều chúng sẽ không thể hoặc khó có thể thực hiện được, như dựa vào lý do chiến tranh, thắt chặt hơn nữa chiếc vòng kim cô trên đầu nhân dân VN ở phía Bắc. Toàn dân vi binh, chỉ biết nghe lệnh mà hành động như người máy; đầu óc lúc nào cũng chỉ “sẵn sàng bắn giết kẻ thù của cách mạng (nghĩa là của Hồ). Toàn dân thực sự vô sản tận cùng, có nghĩa là NÔ LỆ TUYỆT ĐỐI, đến mức vợ con cũng là “của bác và đảng”, bởi vợ con có thể bị huy động vào bất kể việc gì, đi bất cứ lúc nào và không được biết thời hạn là bao lâu.

Loại trừ vợ con lũ chủ nô, cuộc sống mọi mặt của chúng ngày càng tách xa với bầy nô lệ, còn ngay con em loại được coi là dân tự do trong xã hội nô lệ, tức con em đảng viên thường cũng không thể biết thân phận sẽ ra sao trong tương lai gần. Dù là văn công, cán bộ nghiên cứu, kỹ sư, bác sĩ, giáo sư… đều có thể bất ngờ nhận được lệnh thâm nhập VNCH, thâm nhập Lào hay Miên theo hệ thống dân sự hoặc quân sự.

Chiến tranh đã khiến người nô lệ ở phía Bắc VN không quan tâm đến tương lai. Tư tưởng “sống ngày nào hay ngày ấy” đã khiến biết bao cô gái thanh niên xung phong, xã viên các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… đã có cuộc sống buông thả về tình dục, đến mức ăn nằm với nhau mà cũng chẳng kịp hỏi tên họ, quê quán của nhau.

Tình trạng nam nô lệ bị lôi vào trò “sinh Bắc, tử Nam”, vợ may mắn thì được thành lao nô trong nhà máy, kém phận thì tiếp tục cuộc đời nông nô ban ngày, binh nô ban đêm. Vào cái thời điểm đó, cuộc sống đến mức thành phố thì ăn cả chuột cống và nông thôn thì ăn ốc sên và lá khoai mì, nên các nữ nô lệ nói trên, bị xa chồng không thời hạn hoặc khó có điều kiện kiếm một tấm chồng, nên dễ dàng bán cái trời cho một cách rẻ mạt, hoặc đổi lấy chút tem phiếu hay được nâng lương do bàn tay những tên dù mới chỉ cỡ dân tự do (tức đảng viên Việt gian cộng sản loại thường) hưởng dụng. Sự việc nói trên là phổ biến ở mọi nơi, mọi cấp, đến mức giám đốc nhà xuất bản văn học của Việt gian cộng sản, là Hà minh Tuân, nhà văn trung tá ngụy quân cộng sản, phải viết một cuốn sách, có tên “Vào đời”, mới phản ánh chắc chưa tới một phần triệu sự thật, vậy mà lập tức bị cất bút và cất chức luôn, cho về nhà ăn bo bo (Tên đặc công đỏ, Việt gian thờ Nga-xô, trùm nói phét bẩm sinh là Vũ thư Hiên, trong Đêm giữa ban ngày, đã lên án cuốn sách đó, của Hà minh Tuân, là tầm thường!!! Chỉ đáng buồn là Vũ thư Hiên, suốt ngày lăng xăng bưng đít tên phó đại sứ Nga-xô, chứ không dám nêu ra dù là một phần nghìn cái sự thật đó, kể cả khi đã ra nước ngoài làm đặc công đỏ, trong lốt dân chủ… cuội!)

BẦY NÔ LỆ ĐÃ ĐƯỢC THUẦN HÓA

Từ sau Hiệp định Genève 1954 về VN, cho đến trước ngày chiến tranh leo thang của Mỹ bằng không quân (5-8-1965) ra phía Bắc VN, về căn bản, Tập đoàn việt-gian-cộng-sản đã

hoàn thành việc nô-lệ-đỏ hóa toàn dân VN từ vĩ tuyến 17 ra phía Bắc, cả ở nông thôn và thành thị. Chúng đã bolsevik hóa toàn bộ các tổ chức, hội đoàn không cộng sản vào nằm chung trong vòng kiểm soát của một tổ chức ngoại vi của chúng, có tên là Mặt trận tổ quốc VN, được khoác cái áo chính trị là tập hợp các tổ chức của mọi tầng lớp “nhân dân” cùng thống nhất “đoàn kết” với “đảng lao động VN (tức cộng sản)”, biểu hiện cho quốc tế thấy cái gọi là “đoàn kết dân tộc VN”. Như thế có nghĩa “tiếng nói và quan điểm” của Mặt trận tổ quốc VN là tiếng nói và quan điểm của TOÀN THỂ nhân dân VN (một cách lập lờ, coi như bao gồm cả nhân dân VNCH). Đấy là một điểm RẤT CẦN ĐƯỢC LƯU Ý.

Cũng có thể nói rằng, cho đến thời gian đó (1965), Tập đoàn việt-gian-cộng-sản đã thanh lọc lại trong toàn đảng của chúng (đặc biệt về chính trị và tư tưởng) qua những trò gọi là “chỉnh huấn mùa xuân”, “ôn nghèo nhớ khổ”, “về nọc độc của lũ Nhân văn – Giai phẩm và mụ gián điệp Thụy An”, “về tư tưởng hữu khuynh”, “về bộ mặt tay sai đế quốc và bán nước của ngụy quyền Sài-gòn”, “về gián điệp Mỹ-Ngụy trong lốt thày tu” (sau đợt này, bút nô Chu Văn, trưởng ty văn hóa thông tin tỉnh Nam-Hà, cho ra một tiểu thuyết “hiện thực” bôi nhọ các Cha và các nữ tu; tiếp theo đó, văn nô Nguyễn Khải, phó tổng thư ký hội liên hiệp văn học nghệ thuật ngụy quyền việt-gian-cộng sản, cũng cho ra lò tiểu thuyết “Nhân danh Cha và Con và…”); “về chống chủ nghĩa cá nhân” (phải học các bài viết của Hồ, của đại tướng ngụy-cộng sản Nguyễn chí Thanh); “về chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa” (Phù Thăng bị cạo vì mơ hồ về bản chất của chiến tranh trong tiểu thuyết “Phá vây”); “về công tác bảo vệ đảng” (sau đó hình thành ban bảo vệ đảng trung ương do Lê đức Thọ trực tiếp kiêm nhiệm, cho nên Hồ mới trao cho Lê đức Thọ xử lý vụ án “làm gián điệp cho nước ngoài, xét lại chống đảng”); “ngày sinh hoạt đảng trong quân đội”; “nhận xét cá nhân nửa năm và cả năm của toàn thể cán bộ, công nhân viên”v.v…

Tất cả mọi nơi đều phải tổ chức để cho mỗi người phải tự moi móc đời tư, những suy nghĩ và hành động của mình, dựa theo quan điểm và tiêu chuẩn của tài liệu học tập, và phải moi móc những sai sót về tư tưởng và hành động của TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI QUEN BIẾT dù họ không ở cùng cơ quan, thậm chí họ đã được cho thâm nhập vào VNCH hay Lào hoặc Căm-bốt, kể cả không biết họ ở đâu, còn sống hay đã chết!

Cho nên, khi Tập đoàn việt-gian-cộng sản (lúc đó Hồ còn sống và ngày nào cũng có cháu văn công đến cùng ăn cơm và sau đó cùng chơi trò “vợ chồng”) vừa làm xong cuộc đại tẩy não và qua đó làm cuộc đại chia rẽ giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với tập thể, kể cả trong mỗi gia đình, giữa vợ chồng, cha con, anh chị em; bạn bè thân thiết xưa kia. Sống trong gia đình, trong cộng đồng, nhưng không DÁM và cũng KHÔNG THỂ TIN AI ĐƯỢC, nên mỗi người đều cảm thấy cô đơn( nội tâm), yếu đuối; không biết thế nào là đúng là sai; lúc nào cũng trong tâm trạng bị theo rõi mọi hành vi cho đến lời nói. Và thế là dù muốn hay không thì trong mỗi con người nô-lệ-đỏ đều hình thành một CƠ CHẾ TỰ KIỂM DUYỆT để không làm gì ngược với mệnh lệnh của Tập đoàn việt-gian-cộng sản, cả tư tưởng lẫn hành động!

Người giàu trí tưởng tượng cứ hiểu như có sự bàn bạc kịch bản từ trước.

Bày nô-lệ-đỏ vừa được lũ chủ nô thuần hóa xong thì chiến tranh leo thang CHỈ BẰNG KHÔNG QUÂN thôi bắt đầu. Và dưới đất thì chiến tranh một chiều: quân xâm lược đỏ THA HỒ ĐÁNH và những người chống xâm lược đỏ, bảo vệ tự do, hạnh phúc của nhân dân thì THA HỒ ĐỠ. Không chỉ ĐỠ ngoài chiến trường theo kiểu lấy thân người đỡ đạn đồng mà còn phải đỡ những ngón đòn TỰ DO NGÔN LUẬN, BIỂU TÌNH CHỐNG CUỘC CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC do những chính khách, trí thức, ký giả CON DƠI hăng hái hoạt động, có sự yểm trợ của một số khá đông đảo ký giả, học giả bất lương ngoại nhân và sự ủng hộ TỰ DO NGÔN LUẬN một cách công khai của chính khách đà điểu, bò tót nước ngoài và ngay cả sứ quán của một số nước thuộc “thế giới tự do” nằm lè phè ngay giữa Sài-gòn, THỦ ĐÔ của nước Việt Nam Cộng Hòa, mảnh đất đang ra hoa kết trái những giá trị tự do, nhân bản và là niềm hy vọng của không chỉ nhân dân VNCH mà còn là của nô-lệ-đỏ phía Bắc (cứ xét xem bao nhiêu hồi chánh viên và bao nhiêu người TỰ NGUYỆN trốn ra phiá Bắc, trong suốt cuộc chiến; và hơn một triệu người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 đã thành công như thế nào, và số dân tập kết ra Bắc đã có gì?).

(CÒN TIẾP VÀO KỲ TỚI)

Anh quốc, ngày 3-7-2008

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

http://www.hon-viet.co.uk/NamNhan_ChienLuocChinPhucNguoiVietTyNanCuaTapDoanVGCS.htm

August 10, 2009 Posted by | CHIẾN LƯỢC CHINH PHỤC NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỦA TẬP ĐOÀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN | | Leave a comment

Đồng hương Nam Úc gặp gỡ ông Liên Thành tác giả “Biến Động Miền Trung”

Đồng hương Nam Úc gặp gỡ ông Liên Thành tác giả “Biến Động Miền Trung”

Đồng hương Nam Úc gặp gỡ ông Liên Thành, tác giả “Biến Động Miền Trung” from hochiminhsucvat on Vimeo.

August 8, 2009 Posted by | Đồng hương Nam Úc gặp gỡ ông Liên Thành tác giả "Biến Động Miền Trung" | | Leave a comment

toi do dan toc trong phat giao an quang suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh

toi do dan toc trong phat giao an quang suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh


NHỮNG ĐIỀU VIỆT CỘNG SỢ – TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net)

Việt Cộng là thứ cặn bả nhất trong những cặn bả của xã hội loài người, bao gồm những đặc tính” gian, tham, dâm, ác”; bè đảng Việt Cộng hay nói theo từ ngữ chung là Cộng Sản, thì đây là thứ siêu cướp của giết người, nô lệ hóa nạn nhân…như câu của tên cướp Nguyễn Hộ:” nhà chúng ta ở, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ”. Cũng như ăn cướp luôn sợ cảnh sát, quan tòa, thì băng đảng bất lương, cũng có cái sợ, như câu tục ngữ:” vỏ quít dầy có móng tay nhọn”, thì mới có thuốc trị, nên người ta nói:” ma cao một thướt, đạo cao một trượng”.

Việt Cộng không sợ quốc tế lên án bằng mồm, giấy mực, mà không có hành động, tức là lời kết án, văn bản, đều không làm cho Việt Cộng nao núng; do đó ngay cả đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ, có đưa ra, đưa vào, đưa tới, đưa lui cái danh sách mệnh danh là:” các nước vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo”, Việt Cộng cũng phớt lờ và đôi khi còn ngạo mạng cho phát ngôn viên phản bác theo lối cải chày cải cối với lý luận thường được áp dụng:” không được xen vào nội bộ của Việt Nam”. Đây là lối nói của kẻ gian ác, khó chấp nhận trong một thế giới đặt nhân phẩm, mạng người, quyền tự do căn bản, được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, được chính Việt Cộng ký kết khi gia nhập. Đành rằng nhà ai nấy ở, là quyền sinh hoạt tự do cá nhân; tuy nhiên, khi nhà kế bên có bạo hành, ăn cướp xâm nhập, giết người…ngay cả gia chủ ỷ quyền đánh đập những người trong nhà, thì người kế bên cũng phải điện thoại báo với cảnh sát đến để can thiệp. Nước Úc có chương trình Neighbourhood watch, cũng nhằm bảo vệ sinh mạng, tài sản và sự an bình cho mọi người trong xã hội.

Việt Cộng cũng không sợ cả nhân dân ta thán , ngay cả họ hàng, thân tộc nguyền rủa, tẩy chay…..tuy nhiên hầu hết đảng viên đảng cướp Việt Cộng chỉ sợ bị đảng trừng trị, khai trừ, hạ tầng công tác, không loại trừ bị thủ tiêu. Người Cộng Sản không đặt quyền lợi tổ quốc, nhân dân như các chính đảng, mà quyền lợi đảng cướp phải đặt lên trên tất cả:” thà mất nước, chứ đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”. Nhân vô thập toàn, nên mỗi người đều có cái sợ khác nhau: có người cao to, không sợ bị dọa nạt, nhưng lại sợ những cái không đáng sợ như sợ con sâu, con chuột….do đó, đảng Cộng Sản, dù hung bạo, gian manh, nhưng cũng có nhiều cái sợ, có khả năng làm tan rả đảng cướp:

* 1-Sợ bị tố cáo tội ác:

Những kẻ ác, cướp của giết người, thường rất sợ bị người ta nhận dạng ra tội phạm. Cho nên đảng cướp Việt Cộng luôn tìm cách che đậy tội ác từ 1930 đến nay, khi có mặt của đảng Cộng Sản hoạt động tại Việt Nam. Những tội ác rành rành, lịch sử không bao giờ phai nhạt, như vua Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, cách đây hơn 2200 năm, mà vẫn còn nhắc nhở bằng” bia miệng và sách sử”. Tội ác của bọn bất nhân của đảng cướp Việt Cộng rất nhiều, không bút mực nào tả hết và mỗi gia đình nạn nhân đều khắc sâu những cảnh tượng hải hùng do bọn cướp Việt Cộng gây ra. Những tội ác tày trời nầy qua các cuộc thanh toán, giết người, cướp của dã man mà Việt Cộng ngụy biện qua hình thức” đấu tranh giai cấp”, cải tạo, đưa đất nước lên xã hội chủ nghĩa để chuẩn bị tiến đến cái thiên đàng Cộng Sản ảo mộng, là những lời gian trá của lũ cướp, núp dưới vỏ bọc” làm cách mạng”. Từ 1930, Việt Cộng đã giết người, thủ tiêu biết bao người Việt Nam không theo chúng, trong số nầy có nhiều thành viên của các đảng phái như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng….sau nầy các tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, cũng nằm trong danh sách tàn sát của bè lũ ác ôn Hồ Chí Minh; tội ác cứ tiếp tục gia tăng, chồng chất qua nhiều thời kỳ, tức là lúc nào kẻ cướp Việt Cộng cũng gây tội ác như bản chất của băng đảng bất lương trong bất cứ nơi nào trên hành tinh nầy:” không cướp của giết người, thì không thể gọi là băng đảng cướp”.

– Sau hiệp định Geneve 1945, bộ mặt thật của Cộng Sản phơi bày qua cái gọi là” cải cách ruộng đất” miền bắc, làm cho máu đổ khắp nông thôn, con số nạn nhân thật khủng khiếp, có thể lên đến hàng triệu người, đồng thời cũng phá tan tận gốc rể cái nề nếp đạo đức gia đình, tình cảm giữa con cái và cha mẹ, ông bà, thân tộc, xã hội, được tạo dựng hàng ngàn năm lịch sử; thế nên cái cảnh họ hàng” đấu tố” lẫn nhau để tạm yên thân, mà Việt Cộng hay dùng lời đạo đức giả là:” khoan hồng”. Đảng cướp không có tình cảm, đạo lý, nên bất cứ ai cũng là” khổ chủ” của chúng; thành phần:”Trí, phú, địa hào…bị đào tận gốc” bị đặt y tiên hành đầu để thanh toán, nên văn nghệ sĩ cũng nằm trong chính sách triệt hạ, điển hình là vụ án Nhân Văn Giai phẩm là một sự kiện gây nhiều xúc động trong giới văn học Việt Nam, đây là vết thương không bao giờ lành. Ngoại trừ trường hợp là đảng cướp Việt Cộng xóa hết lịch sử Việt Nam để tự biên tự diễn viết thành một thứ lịch sử theo quan điểm của kẻ cướp, thì tội ác có khả năng bị quên lãng theo thời gian. Do đó, từ lâu, đảng Cộng Sản cố gắng nhào nắn lại lịch sử theo” định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó làm giảm công lao dựng và giữ nước của tiền nhân qua các anh hùng dân tộc, và đồng thời tô đậm, đánh bóng tên quốc tặc Hồ Chí Minh và đảng cướp, hầu đầu độc nhiều thế hệ sau nầy.

-Cuộc tàn sát trong vụ tổng công kích tết Mậu Thân 1968, riêng tại Huế, có ít nhất 4 ngàn nạn nhân gồm dân thường, quân cán chính, học trò, sinh viên, giáo sư nước ngoài, linh mục….bị thảm sát bằng những phương cách vô cùng dã man: đập đầu, bắn, chém, chôn sống….hình ảnh những đống xương, đầu lâu vẫn còn lưu lại trong sách, tài liệu do nạn nhân ghi nhận và người ngoại quốc.

-Trong cuộc chiến, với chủ trương khủng bố, Việt Cộng đã sát hại biết bao thường dân vô tội qua những vụ hành quyết ở vùng nông thôn hàng ngày, với chủ trương:” thà giết lầm hơn tha lầm”, pháo kích vào khu đông dân cư, không từ chối mục tiêu trường học, bịnh viện…. đặt mìn nơi công cộng, hầm chông khắp các thôn làng, đường mòn, được những tên khủng bố Việt Cộng gọi là:” hầm chông nhân đạo”…

-Sau khi chiếm miền Nam, những ngày đầu tiên, Việt Cộng hành quyết hàng ngàn chiến sĩ quốc gia kiên cường, gồm quân nhân, công chức, cảnh sát…là những anh hùng trong trận chiến chống khủng bố. Sau đó hành hạ hàng trăm ngàn quân nhân cán chính trong các trại tù dã man, dưới mỹ từ” cải tạo”, tù bị nhục mạ, hành hạ, đánh đập, hành quyết, biệt giam, lao động khổ sai, bịnh không thiếu men, ăn ở tồi tệ…nên tù trải qua từ vài ba năm đến 17 năm, khiến gần 100 ngàn người bỏ xác trong lao tù.

-Hàng chục ngàn chiến sĩ phục quốc sau năm 1975 sa cơ, bị hành quyết, tù đày vô thời hạn, ghi thêm tội ác của đảng cướp Việt Cộng.

-Đày dân thành thị vào vùng kinh tế mới, để bọn cướp tha hồ chiếm nhà, đất của dân.

-Việt Cộng là tác nhân xô đẩy hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, vì những chính sách ăn cướp, giết người, bần cùng hóa nhân dân; hàng triệu người chết trên đường tìm tự do, nằm trong tội ác của Việt Cộng.

-Tội đem dâng đất đai cho Trung Cộng, từ thời Hồ Chí Minh, tên Phạm Văn Đồng ký bán hải đảo Hoàng Sa cho Tàu qua công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958, để đổi lấy viện trợ vũ khí, mà đảng cướp VC dùng để khủng bố, sát hại dân lành. Ngày nay tập đoàn ăn cướp nầy đã” nguyện trung thành tuyệt đối với chủ Trung Cộng”, nên giao hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vùng biển, quặng Bô xít…và những kẻ cai trị ở Việt Nam trở thành” tập đoàn Thái Thú Trung Cộng gốc Việt”.

-Tội đem phụ nữ bán làm công cụ mãi dâm cho các động liên quốc gia, khai thác kỷ nghệ tình dục qua luật di trú, mà đám du sinh, con đảng, cháu bác” điều nghiên” từ các nước dân chủ, mang về, biến thành luật buôn người; ngoài ra còn có vụ buôn báo nô lệ thời đại, qua việc cấu kết với các công ty nước ngoài, bốc lột sức lao động của người Việt Nam…

Theo tác giả quyển” Biến Động Miền Trung”, thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa thiên là Liên Thành cho biết: tên gián điệp Hoàng Kim Loan, sống trà trộn suốt 20 năm mới bị phát giác, hắn khai những nhân vật cao cấp trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa được móc nối làm nội ứng….và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Cộng đón tiếp hắn như anh hùng, trong một buổi tiệc chiêu đãi linh đình để thưởng công, Hoàng Kim Loan chết vì bị đầu độc. Không phải đương sự thành thật khai báo cái mạng lưới tình báo miền Nam trong thời gian bị bắt, mà vì hắn khai luôn vụ thảm sát tết Mậu Thân 1968 ở Huế là do đảng chỉ thị tàn sát, nên đảng giết để bịt đầu mối, nhằm chôn vùi luôn tội ác của đảng Cộng Sản.

Tội ác của Việt Cộng rõ ràng và nhiều như thế, thì chúng khó chối cải, tuy nhiên, kẻ gian ác luôn tìm cách bao che được phần nào hay phần ấy như câu tục ngữ:” có ai chịu cha ăn cướp”. Nhất là chúng rất sợ công luận thế giới, pháp đình quốc tế….nên tìm cách chạy tội. Trong nước, Việt Cộng ra sức tẩy xóa tội ác bằng tuyên truyền qua các cơ quan truyền thông quốc doanh; tuy nhiên ở hải ngoại, Việt Cộng khó che đậy, dù có một số sách vở viết về cuộc chiến Việt Nam, do các tác giả gốc phản chiến, viết thiên vị, binh vực cho kẻ ác, nhưng khó thuyết phục được những ai từng là nạn nhân của Việt Cộng.

Người Việt hải ngoại đã tố cáo tội ác của đảng Cộng Sản và tên quốc tặc Hồ Chí Minh từ sau 1975 đến nay, sau khi sang bến bờ tự do, làm thức tỉnh nhiều người ngây thơ Tây Phương từng ủng hộ phong trào phản chiến khuynh tả; đây là điều làm cho chúng lo sợ, nên sau đó, phái cò mồi, núp dưới bình phong” phản tỉnh” là tên đại tá” quân hại nhân dân” Bùi Tín, hắn lếu láo chống” tham nhũng” là những kẻ cầm quyền và tự hào thời gian đi theo đảng cướp, gây tội ác trong đạo đội ám sát là” làm cách mạng”, hắn khéo léo ca tụng tên Hồ Chí Minh và còn biện minh vụ thảm sát tết Mậu Thân ở Huế là do các cấp nhỏ gây ra, chớ đảng Cộng Sản không có chính sách giết người. Tuy nhiên cái đuôi chồn ló ra, khi trong nước, đảng Cộng Sản cử hành lễ” tàn sát” Mậu Thân ngay tại Huế. Bùi Tín còn muốn giải độc và binh vực cho đứa con rơi của Hồ Chí Minh, là tổng bí thư đảng Nông Đức Mạnh, người ký giấy cho phép Trung Cộng khai thác quặng Bô Xít từ năm 2001, mà dân không hay biết, đến khi Trung Cộng mang quân sang đóng, khai thác mới bể ra và người thi hành là tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, toàn là lũ bán nước cả.

Những bài viết binh vực cho Hồ Chí Minh được đăng trên các cơ quan truyền thông chập chờn, có thể” xanh vỏ đỏ lòng” hay do Việt Cộng điều khiển bên trong; do dó những bài viết của Bùi Tín, Thiên Đức….trên Đàn Chim Vẹm và được phổ biến trên vài cơ quan truyền thông:

” Lập lờ nửa đỏ, nửa vàng.
Hai đàng Quốc-Cộng, phủ màng bao che”

Đây là những cơ quan truyền thông với mục đích rõ ràng là để đánh lạc hướng dư luận, che đậy tội ác của đảng cướp và tên đầu lãnh Hồ Chí Minh. Do đó, những người tố cáo tội ác Việt Cộng trên các cơ quan truyền thông thường bị” khủng bố” qua hình thức chụp mũ với lối tuyên truyền xám trong cộng đồng để gây hoang mang, ngay cả dùng văn kiện giả để chụp mũ” Việt Cộng” nhằm gây hoang mang và làm mất uy tín của những người quyết tâm chống Cộng, đăng trên các trang báo chụp mũ” công an” mà không đưa ra được chứng cớ, trong khi những người bị cho là” Việt Cộng” vẫn lên án mạnh đảng cướp, không khoan nhượng vạch mặt tên quốc tặc Hồ Chí Minh trong ngôn từ….thì công luận biết ai là Việt Cộng, ai là quốc gia?

Cho nên những kẻ chụp mũ lòi ra cái tay thò chiếc nón cối, chụp cho người chống Cộng, đó là” những đại lý nón cối ở hải ngoại” nay đã ló ra, chúng khôn mà không ngoan, đúng như câu:” lạy ông con ở bụi nầy”. Lối chụp mũ là VC, công an, tuyên truyền xám….không thể thuyết phục được quần chúng Việt Nam đang sinh sống ở hải ngoại, vì đây là trò đánh phá quá xưa, không tác dụng nữa; mặt khác, trình độ dân trí, cùng với bao kinh nghiệm xương máu về người Cộng Sản; do đó bọn nằm vùng và tay sai qua cái lối chụp mũ vu vơ, không thể tin được qua tinh thần” duy lý và thực dụng” của ngành truyền thông tại các nước dân chủ mà người Việt hải ngoại học hỏi được.

Một số tên Việt Cộng, nằm vùng, tay sai đã bị thất bại nên” sáng tạo” bằng cách dựng đứng tin đồn, bôi nhọ cá nhân, có tên còn ngây ngô đưa cả cái Họ và chụp mũ là gốc Tàu để cô lập, gây chia rẻ trong cộng đồng hầu đánh phá, đưa lên công luận qua một số bài viết; lối nầy được coi là nguyên tắc” đấu tố”, được” hiện đại hóa” qua việc lợi dụng truyền thông, diễn đàn…cũng không thể nói” trắng thành đen” để có nhiều người tin, như Việt Cộng từng dùng” tuyên truyền đi đôi với khủng bố” trong nước, nhất là thời trước 1975. ( Người Việt có nhiều họ, nhưng thẩm định lập trường của mỗi người, tùy thuộc vào thái độ, hành động, chứ vinh vào cái họ là trò con nít lên ba tuổi: như vậy Hải Quân thiếu tá Ngụy Văn Thà là họ gì mà tử chiến với hải quân Trung Cộng trận Hoàng Sa? Còn thiếu tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ là họ gì mà trở về Việt Nam làm con rối tuyên vận cho Việt Cộng?)

* 2-Sợ sức mạnh tôn giáo:

Theo đúng sách vở của Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”; tuy nhiên cũng tránh không khỏi, chính nhờ sự đóng góp tích cực của Chánh Thống Giáo ở Liên Sô, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành ở các nước Đông Âu, nên toàn khối Cộng đảng Âu Châu sụp đổ. Việt Cộng áp dụng đúng theo sư tổ Marx dạy, từ lâu, vẫn triệt hạ các tôn giáo; do đó qua bài học ở Nga, Đông Âu, khiến Việt Cộng lại càng lo sợ cái” âm mưu diễn biến hòa bình của các tôn giáo” nên tìm cách triệt hạ bằng những thủ đoạn gian manh trường kỳ từ lâu, nay càng quyết liệt thêm như:

-Cho cán bộ xâm nhập, trà trộn vào các tôn giáo, tìm cách chiếm những” chức sắc lãnh đạo” để lái tín đồ đi theo tấm bản chỉ đường của đảng, qua cơ quan Mặt Trận Tổ Quốc.

-Lập ra giáo hội quốc doanh, nhằm khai tử các giáo hội nào không tuân phục theo đảng cướp Việt Cộng.

-Hạn chế quyền sinh hoạt, hành đạo, lễ….bắt bớ, hành hung, khủng bố những tu sĩ nào không theo Đảng.

-Tịch thu các cơ sở tôn giáo, để tránh tiếng, chúng biến các cơ sở tôn giáo như nhà thờ, chùa, thánh thất….thành: công viên, rạp hát, nơi hộp họp, trung tâm du lịch…

-Sợ các tôn giáo liên kết thành một mặt trận, sức mạnh vạn năng, nên Việt Cộng tìm cách phá vở thế liên tôn qua vụ huề thượng Quảng Độ tung ra sách lược:” giữ và bảo vệ thế cầm quyền của đảng cướp Việt Cộng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”, tức là ngăn chận mọi cuộc” biểu tình” xuống đường, có khả năng làm sụp đổ như ở Nga, Đông Âu; cho nên qua kinh nghiệm vụ Giáo Dân ở Thái Hà, Tòa Khâm Sứ…nhằm phá vở phòng tuyến, làm giảm nguy sơ sụp đổ qua cái gọi là”: biểu tình tại gia”, đó là sách lược rất” thành công” đối với đảng, nên khi giáo dân ở Quảng Bình đứng lên vụ nhà thờ Tam Tòa, thì bên khối Ấn Quang, do huề thượng Quảng Độ lãnh đạo, đã” án binh bất động” chắc cũng là liên tôn bằng” hiệp thông tại gia”, thì Việt Cộng rất ư là” hồ hởi phấn khởi” là nhờ đồng chí huề thượng” Thích Để Râu” mà đảng và nhà nước rảnh tay, đàn áp, dẹp tan giáo dân…

* 3-Sợ mất ưu tiên NÓI LÁO:

Đảng siêu cướp Cộng Sản, bất cứ ở đâu cũng lấy việc nói láo là sách lược, được Lenin dạy rằng:” tuyên truyền là nói láo, nói láo và tiếp tục nói láo”. Do đó, khi đảng Cộng Sản nói thật là coi như” tự sát”; lý do là đảng Cộng Sản” làm ác, thủ đoạn gian manh” nên rất sợ phải nói lên sự thật về những gì mà chúng đã làm. Tuy nhiên nếu có ai biết, nghe, thấy những điều gian ác đó, mà lên tiếng là bị thủ tiêu hay tù đày dài hạn; do đó người ta không ngạc nhiên khí thấy nhiều đảng viên Cộng Sản có chút suy nghĩ, thừa biết chính đảng nói láo, mà vẫn thường có thái độ ù lì, ngậm câm để sống” nín thở qua sông” nếu muốn sống và thụ hưởng những của cải” không lao động mà lại vinh quang”; còn ai không chịu đựng nổi, lên tiếng, bị đảng cướp triệt hạ ngay.

Nhưng cũng phải đề phòng màng” khổ nhục kế” hay là phe cánh tranh quyền, tranh ăn trong đảng, vì muốn hạ cánh khác để dành quyền, nên nói ra những dối trá của cánh thù nghịch; nhưng kẻ nầy vẫn sống phây phây, hoặc có khi bị đồng đảng” trừng trị nhẹ nhàng”, có tên còn được dàn cảnh xuất ngoại, đó không phải là những” phản phản tỉnh, đối kháng” gì cả, mà là các” nhà dân chủ cuội”, sau thời gian xuất hiện, dần dần lộ hẳn ra cái đuôi chồn và tự chúng hiện nguyên hình, như cây kim để trong bọc lâu ngày thì lòi ra thôi.

Người Việt Nam vốn có lòng khoan dung, luôn mở rộng vòng tay để đón nhận những người thực tâm cải hối, nhưng cũng không chấp nhận những người Cộng Sản” trở về với chánh nghĩa” mà vẫn” bác hồ kính yêu”, lý do vì cô thế, lợi dụng tinh thần chống Cộng của người Việt hải ngoại để tranh giành phe cánh; nếu không phân định rõ ràng, thì cuộc đấu tranh giải thể chế độc độc tài Cộng Sản tại Việt Nam hay hải ngoại, trở thành” cuộc đấu đá giữa các phe cánh trong đảng cướp”; đó là cuộc đấu đá trường kỳ giữa hai phe: thân Trung Cộng và thân Nga, chớ không có cánh Việt Cộng nào” thân Mỹ” như lối suy luận đoán mò của một số người, hay do đảng tung ra để ru ngủ, làm nản lòng những người đấu tranh cho dân chủ tự do nhưng lại lọt vào mê hồn trận” đợi Mỹ bật đèn xanh”, thì biết đến bao giờ? Thời cơ và điều kiện giành lấy chính quyền về tay nhân dân đều nằm trong tay dân, đó là quyền tự dân tộc tự quyết. Người Việt Nam đừng đứng để chờ thời, mà hảy tự tạo thời cơ để đánh đổ bạo quyền, đưa đến nước đến dân chủ, nhất là thoát khỏi bàn tay ngoại bang Trung Cộng.

Khoa học và kỷ thuật ngày nay như cái máy lọc, làm vô hiệu hóa vũ khí nói láo của Việt Cộng, nên những bưng bít, tuyên truyền theo chính sách dối trá của đảng cướp trở nên mất dần tác dụng, dù trong nước có sẵn hơn 600 cơ quan truyền thông nhà nước, luôn tung hỏa mùa, ngụy biện; nhưng dân chúng ngày nay không còn tin đảng Cộng Sản, ngoài ra nhiều người dùng computer vượt tường lửa, thu nhận những nguồn thông tin khác, làm tan rả dần ý thức hệ Cộng Sản cũng như cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khi vũ khí truyên truyền láo trở thành” lạc hậu và lổi thời” trước trào lưu tiên tiến kỷ thuật thông tin, làm vô hiệu hóa thứ vũ khí trấn đảng Cộng Sản. Do đó, mức độ nói láo không còn chủ quan như thời trước, nên đảng cướp phải chấp nhân pha trộn bằng một phần sự thật, nhằm lập lờ đánh lận người dân; tuy nhiên, dân chúng ngày nay có thừa khả năng để phân biệt thật-giả, là điều làm cho những kẻ nói láo mất ăn mất ngủ. Tại hải ngoại, cũng có một số cơ quan truyền thông cò mồi của đảng cướp Việt Cộng, mang những nguồn thông tin lập lờ với những bài viết chống Cộng nhẹ nhàng, thường là các tay phản tỉnh giả để đánh lừa, đồng thời cũng kèm theo những bài viết nhằm giải độc cho đảng cướp Việt Cộng, tên chúa đảng Hồ Chí Minh và đồng bọn….nhưng cũng không thể đánh lừa được, nhất là người Việt hải ngoại.

* 4-Sợ bị mất thần tượng:

Cũng như các tôn giáo, thần tượng của đảng cướp Cộng Sản được ưu tiên xếp hạng: Karl Marx, Lenin và lãnh tụ địa phương. Để chiếm hết vị trí tôn kính trong lòng người dân dưới chế độ Cộng Sản, tất cả các tôn giáo đều” đồng qui” là bị triệt hạ dần bằng những thủ đoạn tinh vi, từ bạo lực đến cài người, làm mất uy tín, lũng đoạn, khuynh đảo…. đánh gục những vị khai sáng đạo bằng những lối tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi thấy ở Hoa Lục, tên cuồng sát Mao Trạch Đông trở thành thần” Mao Goes to pope”, tại Việt Nam, tên ác quỷ Hồ Chí Minh” sanh sát nhân, tử ngọa lăng”, cái” cơ ngơi” đựng xác ướp” vĩ đại” như những lời cung tụng của đồng bọn, tiền ướp xác đả cao và bảo trì, canh phòng ngày đêm vì sợ” nhân dân có âm mưu diễn biến trả thù, vào đây để xã hơi, thành kho phân nhân dân”, nên bộ đội, công an, an ninh chìm…ngày đêm canh giữ, chi phí hàng năm đủ nuôi cho 6 làng dân trong một năm. Như thế, đủ biết là đảng cướp tôn thờ vật tổ như thế nào?

Ngoài ra, kế hoạch trường kỳ luôn được thực hiện nhằm bảo vệ thần tượng Hồ Chí Minh được tồn tại mãi mãi, nên trong Phật Giáo quốc doanh, tên Hồ Chí Minh đang được đảng cướp phong” quân hàm Bồ Tát” qua việc tên công an Dũng Lò Vôi, là” cư sĩ”, lập nên” siêu thị Phật hoành tráng” kinh phí hơn 300 triệu Mỹ Kim, nơi chánh điện có thờ Phật, vùa hùng và Hồ Chí Minh. Dù thằng gian ác đã” tiêu diêu nơi miền hỏa ngục Lê Mác” từ năm 1969, nhưng đến ngày nay, cái gì thuộc về hắn đều được đảng” bảo vệ như con ngươi trong tròng mắt”; do đó, những lời chúc tụng được duy trì đến ngày nay, nhan nhản trong các cơ quan của cái gọi là” đảng và nhà nước”. Do sự” xuống cấp” thê thảm” của đảng cướp và thần tượng Hồ Chí Minh, sau khi cái nôi Cộng Sản Quốc Tế Sô Viết sụp đổ năm 1991, nhiều tài liệu tối mật về” cuộc đời và sự nghiệp của tên tay sai Hồ Chí Minh” bị bạch hóa, nên trong nước, đảng cướp thường hay” recycle” cái gọi là” tư tưởng Hồ Chí Minh, nhồi nhét những đều” lạc hậu, lổi thời” vào đầu dân chúng, nhất là” mầm non” để trở thành những” cuồng tín đồ của tà phái Cộng Sản” với Hồ Giáo Chủ.

Cái sợ nhất của đảng cướp Việt Cộng là thần tượng bị sụp đổ, nhưng không tránh khỏi; nên bản thân, quá trình làm tay sai ngoại bang, cuộc đời gian manh, láu cá, giết dần cả anh chị ruột là Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Thị Thanh…những cuộc tình” đại đồng thế giới” từ gái Nga, Pháp, Tàu, hộ lý, những cô gái” dân tộc ít người” bị phơi bày và được các cơ quan truyền thông hải ngoại đưa ra ánh sáng, nên có nhiều người trong nước vượt bức tường lửa, biết được những nguồn thông tin qui báu nầy, thì cái gọi là” bác Hồ suốt đời chỉ biết lo cho dân, cho nước” đã trở thành trò hề, màng dối trá trường kỳ, nay bị lật tẩy.

Sự tôn thờ thần tượng Hồ Chí Minh là chính sách tối thượng của đảng, thời còn gây chiến ở miền Nam, trong các mật khu, một số du kích miền Nam vốn có óc khôi hài, vô tình nói lái” Ảnh Cụ Hồ” thành” Ổ Củ Hành” là bị kỷ luật, hạ tầng công tác, nếu không sớm chiêu hồi, trước sau gì cũng bị giết hay bị chi làm công tác nguy hiểm. Cái tên Hồ Chí Minh là tai họa cho dân tộc, một số người vô tình, nói năng không giữ lời, hay bị báo cáo là khinh khi bác, cũng bị tù đày dài hạn, đụng tới hắn là từ ở tù đến chết, đó là tội phản động, ngang hàng với phản quốc.

Ngay cả khi hắn chết ngày 2 tháng 9 năm 1969, đảng cướp ra lịnh cho toàn dân miền Bắc” phải để tang” trong 10 ngày, có nghĩa là trong thời gian” đau buồn” ấy, dân không được: nhóm chợ, đám cưới, giỗ, đám ma ( phải dời đến qua 10 ngày mới được chôn)…có vài người làm đám cưới trong lúc tang tên ác quỷ, bị công an bắn chết và lúc đó, cán bộ có lối” khóc bác” thật to, ai khóc to là được đảng bộ ghi nhận và có hy vọng tiến cử trên đường công danh. ( Do đó người ta không ngạc nhiên khi thấy trên màng ảnh truyền hình cảnh dân, cán bộ, đảng viên Cộng Sản Bắc Hàn khốc thảm thiết, khóc lớn hơn cha mẹ qua đời, khi tên đồ tể Kim Nhật Thành tiêu diêu nơi miền Lê Mác và những tên lãnh tụ đảng Cộng Sản qua đời, được nhiều người khoc lóc thảm thiết cũng chỉ vì muốn được an thân, hưởng danh lợi sau nầy). Đảng viên Cộng Sản tại Việt Nam có câu nói đồng nhất:” thà chửi cha còn bỏ qua, nhưng đụng tới bác là dứt khoát phải có thái độ, ai xúc phạm bác là phải bị trừng trị đích đáng”…

Đây là điều tối kỵ của người Cộng Sản, nên khi thần tượng Hồ Chí Minh bị đưa ra, dù là nói lên sự thật về cuộc đời trụy lạc, phản dân, hại nước….cũng khiến người Cộng Sản tức giận vô cùng, rồi mất hết bình tỉnh….giống như những kẻ trong khối Ấn Quang trước 1975, hể ai nói sự thật về ÔN Thượng Tọa Thích Trí Quang là bị phản đối mạnh, nếu trong thời kỳ biến động miền Trung 1966, thì cũng dám bị giết chết. Ngày nay, huề thượng Thích Quảng Độ cũng lên hàng” thánh tăng” dù trước 1975 từng móc nối với bọn khủng bố Việt Cộng, gọi là:” núp bóng từ bi, đâm sau lưng chiến sĩ”, Quảng Độ được đánh bóng khá lâu từ cái Phòng Thông Tin Phật Giáo Thế Giới của cư Sĩ, kiêm giáo sư Võ Văn Ái, băng đảng” Canh-Cách” tàn dư mặt trận lừa đảo Hoàng Cơ Minh, nên khi thần tượng bị sụp đổ do” bất tuân dân sự và biểu tình tại gia”, thì đám nầy binh vực tối đa, kể kể chụp mũ những ai nói lên sự thật về huề thượng” Thích Để Râu”, với những cái nón cối Việt Cộng, Công An….

Biết được cái tẩy của Việt Cộng, khi nói với chúng, cứ đem thần tượng Hồ Chí Minh ra bàn tán, nói lên sự thật, khiến chúng tức giận, mất bình tỉnh và chụp mũ, đánh phá loạn cào cào. Khai thác yếu huyệt nầy để đánh trúng điểm quan trọng trong tranh luận, truyền thông. Dễ nhận ra người của họ, khi nói đến thần tượng, là phản xạ có điều kiện đấy. Đơn cử một thí dụ điển hình: Theo quyển N. Đ.B 2 của đại tá Nguyễn Mâu, nói về câu chuyện của một nữ cán bộ cáo cấp Việt Cộng, đó là bí thư thành ủy Mỹ Tho tên là Lê Thị Hưởng, được đồng bọn gọi là” bà Hai Lê Hưởng”, năm đó có 20 tuổi đảng, bị lực lượng cảnh sát do thiếu tá trưởng ty cảnh sát Đổ Kiến Mười bắt được, với một số tang chứng; tuy nhiên, tên nữ cán bộ nầy vẫn chối dài, không nhận là cán bộ Việt Cộng.

Trong cuộc đối thoại với tỉnh trưởng là đại tá Lê Minh Đảo ( sau lên thiếu tướng, tư lịnh sư đoàn 18 bộ binh), tên cán bộ Việt Cộng vẫn một mực cho là bắt lầm người, là dân bình thường, lương thiện. Đại Tá Đảo khôn khéo, khai thác yếu tố” tôn sùng lãnh tụ” nên cứ mạt sát tên Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng… nói lên sự tàn ác của chúng qua chiến dịch cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm….. Cuối cùng, bí thư thành ủy Mỹ Tho không còn nhịn được nữa, nên tức giận phản ứng, nhận là cán bộ Việt Cộng với chức bí thư thành ủy. Đây là một kinh nghiệm, nên khi nói chuyện, làm truyền thông, dùng những từ ngữ” thích ứng” đối với bọn bất lương, thì bọn Việt Cộng khó dằn được, phản ứng vụn về, từ đó tìm ra được thêm những điều cần thiết và đồng thời nhận diện ra những tên gián điệp nằm vùng trà trộn, mà bình thường họ che dấu tông tích, hành vi như” mèo dấu cứt”; chúng cũng sinh hoạt bình thường, cũng nói chống Cộng một cách chừng mực; tuy nhiên khi có những bài viết, lời nói với những từ ngữ” thích ứng” với những tên sát nhân, bán nước, lãnh tụ đảng cướp Việt Cộng, nhất là tên Hồ Chí Minh, mà chúng cho là” mạt sát, tục…” thì thành phần Việt Cộng nằm vùng tức giận, đến khi không còn chịu đựng được nữa, thế là ló đuôi chồn ngay bằng phản ứng qua bài viết, chụp mũ loạn cào cào.

* 5-Sợ bị mất chủ:

Từ khi sang Nga, tình nguyện làm đầy tớ trung thành với Cộng Sản Nga vào năm 1924, tên Hồ Chí Minh và đồng bọn luôn cần có chủ đỡ đầu, đó là bầy chó Cộng. Do đó, ngày 2 tháng 9 năm 1945, thằng Hồ Chí Minh tuyên bố lếu láo:” không có gì quí hơn độc lập, tự do” là một trò hề, lời nói hoàn toàn dối trá. Thằng Hồ Chí Minh ăn lương Nga, làm tay sai ở Á Châu, trốn chui trốn nhủi từ đất Tàu, sang Thái Lan và vào hang Pác Pó…hắn thành lập đảng cướp Cộng Sản Việt Nam, cũng do chủ Nga chỉ đạo, để sau nầy tạo được chỗ đứng của quan thầy tại vùng Á Châu.

Thời kỳ đánh Tây, nhất là trận Điện Biên Phủ, cũng nhờ vũ khí Nga, Trung Cộng ( nhất là TC) , có thêm cố vấn Trung Cộng giúp trực tiếp trên chiến địa. Đất nước chia đôi ngày 20 tháng 7 năm 1954, cũng la do hai ông chủ Nga-Tàu chỉ đạo cho đám chó Việt Cộng, do con chó vẩu Phạm Văn Đồng thay chó” thủ trưởng” Hồ Chí Minh thực hiện.

Sau năm 1954, một con chó có tới 2 ông chủ, cùng nhau” cầm sợi dây” và cùng nhét vũ khí để khủng bố dân miền Nam, theo quyền lợi của cả hai ông chủ lớn. Do sự tranh giành quyền lợi, mà Nga xúi con chó Hoàng Minh Chính đảo chánh để hất con cho Hồ Chí Minh ra khỏi sợi dây cầm tay của Trung Cộng, đó không phải là” vụ án xét lại, xét tới, xét lui…” gì cả. Nếu con chó Hoàng Minh Chính thắng thế” cướp được chính quyền từ tay chó Hồ Chí Minh” thì cuộc chiến xâm lấn miền Nam vẫn tiếp tục theo lịnh chủ Nga mà thôi. Tuy nhiên sau nầy, vì chủ Trung Cộng không có đủ trình độ khoa học, kỷ thuật, vũ khí tối tân như hỏa tiển phòng không Sa-10, Sa-7 để đối phó với không lực Hoa Kỳ trong các cuộc không kích miền Bắc nhằm trả đũa tội hiếu chiến mang quân vào khủng bố miền Nam, nên con chó Hồ Chí Minh đành phải cho chủ Nga cầm dây.

Khi đi theo chủ Nga, nhiều con chó trong bầy chó Việt Cộng vốn mến chủ Tàu trước đây, nên bị đám chó thân Nga cắn; điển hình là con chó thân Tàu là đại tướng Nguyễn Chí Thanh, bị đưa vào nam và thanh toán; năm 1978, con chó Hoàng Văn Hoan phải bỏ Hà Nội mà” phi lạc sang Tàu” vì sợ bầy chó” đồng chí” nhưng lại thời chủ Nga cắn xé, có khả năng cho ” tiêu diêu nơi miền Lê-Mác”….Chính thái độ” ăn cháo đát bát” hay” ăn trái giết kẻ trồng cây” của con chó Việt Cộng, khiến chủ Tàu tức giận, và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chủ Nga xung đột với Tàu mạnh hơn, Nga” xù” con chó Việt Cộng sủa Tàu và cắn luôn con chó của Trung Cộng là Khmer Đỏ, do con chó đầu đàn Pol Pot lãnh đạo. Bị chủ Trung Cộng dạy cho một bài học năm 1979, bị đánh phù mỏ mà không dám la trước hội đồng Liên Hiệp Quốc, đó là bản chất làm chó của đám chó Việt Cộng.

Kể từ tháng 8 năm 1991, chủ Nga bị dân chúng ra đường, chứ không” biểu tình tại gia”, nên chế độ Cộng Sản bị sụp đổ không ngờ, khiến bầy chó Việt Cộng bơ vơ, nên cuối cùng phải tự ý đưa cọng dây cho chủ cũ Trung Cộng dắt, vì đảng Cộng Sản vẫn coi trọng” tình hữu nghị anh em bầu bạn năm châu” đại đồng thế giới và nhất là vẫn luôn tin tưởng vào” chủ nghĩa Marx Lenin”, vẫn luôn thù ghét” đế quốc Mỹ”, nên nằm đó chờ Trung Cộng quăng cái thòng lọng để dắt đi.

Ngày nay bầy chó Việt Cộng ngoan ngoãn nằm dưới chân quan thầy, chủ Trung Cộng, sẵn sàng làm bất cứ cái gì khi chủ nó muốn.( Nếu trong đảng Việt Cộng có cánh thân Mỹ, tại sao lại không theo Mỹ từ năm 1991?). Dù làm đầy tớ giữ nhà cho chủ Tàu, nhưng con chó Việt Cộng đánh mùi” bơ thừa sữa cặn” của đế quốc Mỹ, thế là cứ chong mỏ sang Hoa Kỳ. Nhờ vậy mà bầy chó Trung ương đảng mập, hầu hết trở thành triệu, tỷ phú Đô la Mỹ.

Tuy nhiên, trong bầy chó Cộng, cũng còn đám chó thân Nga cũ, và đám chó dựa vào chủ Trung Cộng; hai cánh chó Cộng cắn xé nhau và có vài con chó thân Nga cũ đã chạy ra khỏi bầy, sang Tây, Mỹ….sủa gâu gâu” phản tỉnh” nhưng vẫn một lòng hướng về kính yêu” con chó chúa trùm Hồ Chí Minh” và coi giai đoạn làm chó phục vụ cho bầy chó là” làm cách mạng”. Bản chất bầy chó Việt Cộng là thế, chúng luôn luôn muốn có chủ cầm dây” dạy bảo”, sai khiến….nên chó Cộng chỉ tiêu tán khi không còn chủ nữa; ngay hay bầy Chó Việt Cộng cút cung tận tụy Chủ Trung Cộng quá kỷ, chủ sai cái gì cũng làm, kể ca khai thác quặng Bô Xít, mang quân vào lập căn cứ ở Tây Nguyên….trước cái” tình huống” nầy, vài con chó già như Võ Nguyên Giáp, chó phục viên như tướng Vĩnh….có” khoa bảng” khoa học, nhà báo, nhà văn,….chó văn nô….thi nhau sủa hụ hợ, phản đối, nhưng chả làm gì cả….phản đối tại gia, hay tại cơ quan, trường học…thì làm sao ngăn được bầy chó tại chức, đang làm theo chủ Trung Cộng, cầm dây sai bảo. Nên chủ Trung Cộng tỉnh bơ, cứ làm, vì đã có con chó Nông Đức Mạnh ký từ 2001 và con chó Nguyễn Tấn Dũng thi hành, được chủ thẩy cho 150 Triệu Mỹ Kim ngậm mà lòng” hồ hởi phấn khởi”, thế là bầy chó vô quyền cứ:

” Chó sủa mặc chó.
Quặng Bô xít Tàu cứ khai”.

* 6-Sợ bị bạch hóa tổ chức:

Trong lãnh vực tình báo, nằm vùng ở miền Nam trước đây, Việt Cộng rất sợ bị bể các tổ chức, nhưng cũng tránh không khỏi, một số cụm tình báo chiến lược như A 22, A 45, A 26…lần lượt bị phát giác. Sau năm 1975 ở hải ngoại, những tên gián điệp nằm vùng trà trộn theo làn sóng tỵ nạn, chúng rất sợ các cơ quan” phản gián” ở các nước dân chủ, bằng chứng là cơ quan F.B.I ở Hoa Kỳ, có ra nhiều thông báo để tìm bắt chúng.

Tuy nhiên, có những tên làm lợi cho giặc Cộng, dù nằm trong một số đảng phái như Lê Tấn Trạng, ông quận trưởng Củ Chi Lê Xuân Sơn….những tên” ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản” lần lượt bị phát giác và nhất là băng đảng” Canh-Cách”….làm vô hiệu hóa các cơ sở phá rối ở hải ngoại. Từ nhiều năm qua, bọn nằm vùng và tay sai cố gắng cho những” cơ sở” xâm nhập, núp dưới bình phong phản tỉnh: như ngục khỉ Nguyễn Chí Thẹn với tập thơ” chôm đề” ( bị lột mặt), Bùi Kim Thành, dù mới sang Hoa Kỳ nhưng đã ló đuôi chồn qua câu” Bác Hồ kính yêu”, Bùi Tín bị bể, Dương Thu Hương với” đỉnh cao chói lọi” nay” cháy rụi” qua những tác phẩm bôi nhọ quân lực VNCH…. Đó là điều mà Việt cộng ngán, có khả năng bẻ gãy tất cả những kế hoạch tấn chiếm cộng đồng, bàn giao cho giặc lần nữa. Sự trưởng thành, dầy kinh nghiệm của người Việt hải ngoại đã vô hiệu hóa nhiều cơ sở của giặc Cộng xâm nhập bằng nhiều ngỏ ngách.

* 7-Sợ bị mất tiền:

Trước đây, Việt Cộng có quan thầy Nga, Tàu chi viện vũ khí, bắt dân làm lao động bằng hai bằng ba sức mình để cung cấp lương thực, nên tiền không quan trọng, vì các thứ đã có nhân dân và quan thầy lo hết. Sau khi Nga tan hàng, thì Việt Cộng mở cửa, rất cần tiền, nên đành phải đổi giọng” khúc ruột nghìn dậm nối liền” thay câu” đĩ điếm du côn”. Số tiền do” bọn phản động Việt kiều” gởi về tăng dần, nay lên đến hàng nhiều tỷ Mỹ Kim hàng năm, nên Việt Cộng rất sợ bị mất lợi nhuận, nhất là tình hình Việt kiều về nước giảm, do nhiều lý do.

Chính vì muốn tạo sự ràng buộc túi tiền người Việt hải ngoại vào tròng” xã hội chủ nghĩa” nên từ nhiều năm qua, đảng cướp đưa ra nhiều thủ đoạn: Uỷ Ban Liên Lạc Việt Kiều Nước Ngoài với tên thứ trưởng ngoại Giao Nguyễn Đình Bin, rồi nghị quyết 36, miễn Visa, vài lần đưa luật song tịch, luật nhà đất, nới rộng quyền mua nhà của Việt kiều….mà vẫn không lừa được. Do đó, muốn cho Việt Cộng sợ, chỉ cần đánh trúng vào túi tiền, vận động người Việt hải ngoại hạn chế về Việt Nam, chỉ về với trường hợp bất khả kháng; vận động các nước cấp viện giảm bớt viện trợ hay cắt luôn…nhất là biện pháp cấm vận kinh tế, là có khả năng làm cho Việt Cộng sợ. Do đó, gởi tiền về Việt Nam qua nhiều ngõ ngách như: từ thiện, hổ trợ các nhà dân chủ giả….là giúp cho đảng cướp có thêm tiền, sức mạnh, thì ngày nhìn thấy đất nước có dân chủ là còn lâu lắm.

Cán bộ cao cấp Việt Cộng sớm trở thành tư bản đỏ, nhưng chúng không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nhà nước, do chính chúng lập ra. Do đó, tiền vơ vét, tham nhũng, ăn chận, cắt xén viện trợ, đụt khoét tiền từ thiện… được tẩu tán ra nước ngoài, gởi cho các ngân hàng thuộc các nước” tư bản phản động” mà không ngán bị mất. Tuy nhiên sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, các nước Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ ban hành những biện pháp chống khủng bố toàn cầu; trong đó có việc đông lạnh tài sản mà nguồn gốc mù mờ ( quỷ khủng bố, buôn bán ma túy, tổ chức tội phạm, các tên độc tài..). Đó là mối đe dọa trực tiếp vào hầu bao của bọn cán bộ Việt Cộng, gần đây, dưới áp lực của Hoa Kỳ, hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ bỏ lệ bảo mật tiền ký thác của các trương chủ, điều nầy làm cho Việt Cộng sợ khiếp vía, nên mới có hiện tượng người ở Việt Nam từ trong nước, ồ ạt chạy sang Hoa Kỳ mua nhà; con cháu cán bộ đi du học càng đông và tìm cách ở lại luôn theo diện tay nghề, hôn phối…. đây là kế hoạch” thoái thân” của những tên Việt Cộng, lập đầu cầu giao liên ở các nước tự do, cho con cháu đi trước, chuyển những món tiền lớn, mua nhà, thương nghiệp và chờ khi sụp đổ, có nơi thoát thân an toàn hay là sau khi phình túi, phục viên, lợi dụng luật di trú để bỏ nước ra đi, sau khi bán nước cho Trung Cộng.

* 8-Sợ bị chia bè cánh:

Điều nầy, khi Lenin còn sống, hắn cảnh báo với các đảng viên:” kẻ thù của đảng Cộng sản là bè cánh”. Nhưng nếu bè cánh là do các đảng viên Cộng Sản thức tỉnh để đưa đến cuộc thay đổi như ở Nga với Boris Yelsin, là điều cần thiết; vì những người thức tỉnh thực sự như ông Yelsin, dứt khoát không dùng lại sản phẩm” recycle” của chủ nghõa Marx Lenin:” Cộng Sản không thể sửa chửa, tốt hơn hết là bỏ phức nó đi”.

Do đó, sự đấu đá, bè cánh tranh ăn giữa những đảng viên Cộng Sản ở Trung Cộng, Việt Nam…là không bao giờ làm cho đảng sụp đổ, phe nầy giành quyền với phe kia, cứ thế mà” phát huy”, toàn là một lũ ăn cướp, hay phiên nhau cầm quyền. Cuôc thay đổi của tổng bí Nguyễn Văn Linh để giúp đảng cướp vượt qua cái” tình huống cực kỳ khó khăn” mà ngục khỉ Nguyễn Chí Thiện rất” hồ hởi phấn khởi” cho là” đảo chánh cung đình”, cho đến nay, cái gọi là ĐỔI MỚI, cũng không có gì, dân chúng cũng sống trong ĐỜI MỌI và cán ngố thì tham ô, vẫn ĐÒI MÃI tiền dân để làm giàu. Nếu không sáng suốt, khi nhìn thấy ở trong nước rần rộ phản tỉnh, chống đảng, mà ủng hộ kẻ cướp vô quyền, là bị lôi vào quỷ đạo cuộc đấu đá tranh giành giữa hai phe trong đảng cướp.

* 9-Sợ dân chúng đứng lên:

Bài học ở Nga và Đông Âu làm cho đảng cướp Việt Cộng lo sợ ngày đêm. Cho nên từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc đảng cướp đều ngán, sợ hai chữ” BIỂU TÌNH”, thế nên dân oan, dù là dân của đảng bị đá đít, tập trung biểu tình đòi đất, nhà…. đảng né tránh, gọi là” phản đối tập thể”.

Tuy nhiên, để triệt tiêu biểu tình nầy, thì huề thượng Thích Quảng Độ, vốn cũng là” người của đảng cả”, từng tiếp tay để” cách mạng thành công”, thuộc khối Ấn Quang, đã lập được thành tích, theo đúng chính sách là” không biểu tình” qua ngôn từ, man mác trong từ bi, nhưng không có” đại hùng, đại lực” là:” biểu tình tại gia”. Huề thượng Quảng Độ cùng với giáo sư Võ Văn Ái muốn trở thành một Goebells của thời Quốc Xã hay Lenin:” nói láo, nói láo, tiếp tục nói láo..” đến khi người ta tin là thật là” nhiệm vụ nào cũng hoàn thành”. Những người Ấn Quang này muốn lập công dâng đảng, và giúp đảng bớt sợ dân đứng lên, ra đường cùng nhau” giành lấy chính quyền về tay nhân dân”. Tuy nhiên, dân chúng trong và ngoài nước rất sáng suốt, có nhiều kinh nghiệm, nên không còn bị lừa nữa.
10-Sợ vũ khí truyền thông hơn họ:

Đảng siêu cướp Việt Cộng cũng giống như hầu hết các băng đảng tội phạm đầu đường xó chợ hay có tổ chức qui cũ như Mafia,…. tất cả đều có một số ngôn từ riêng trong bọn để thi hành những tội phạm, mà băng đảng côn đồ gọi là” tiếng lóng” hay” tiếng mã tự”.

Việt Cộng là siêu đảng cướp, ngoài cái” tà thuyết biện minh được chúng gọi là chủ nghĩa Marx lenin ưu việt, vô địch, muôn năm” còn có cả hệ thống từ ngữ, với mục đích cướp của, giết người, bắt nạn nhân làm nô lệ từ đời ông bà đến con cháu. Đó là từ ngữ dùng” đấu tố” như: động viên, tình huống, hội ý, phát hiện, chất lượng, nghiêm túc, sự cố, trừng trị, phản động, cơ sở, cơ bản…..ngoài ra chúng còn dùng cả những từ ngữ mạt sát nạn nhân, đối tượng thù ghét trong từng thời kỳ; điển hình như tên thủ tướng Vẩu là Phạm Văn Đồng chửi những người bỏ nước ra đi tìm tự do là:” bọn đĩ điếm, du côn”, ngay cả trong nội bộ, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chửi Dương Thu Hương là:” con đĩ chống đảng” ( dù sau nầy, mụ ta là con bài” khổ nhục kế” của đảng đưa ra để xâm nhập vào cộng đồng hải ngoại).

Tại miền nam trước 1975, nhiều tên Việt Cộng đã đặt tên con chó là” Thiệu, Kỳ”, nhưng trong vùng Việt Cộng, có ai dám đặt tên con chó là” Hồ Chí Minh” hay Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp…ngay cả lãnh đạo quan thầy Nga, Tàu, lại càng sợ hơn, đó là những” thần thánh của người Cộng Sản”. Việt Cộng chửi bới: thằng Mỹ, thằng ngụy….quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bị chửi rủa là:” giựt dọc, hãm hiếp phụ nữ” trong các trại tù sau ngày 30 tháng 4 năm 1975….trong cuộc chiến, thái độ” quân tử Tàu” là coi như” trăm trận trăm thua”, khi mà Việt Cộng dùng mọi thủ đoạn để giết hại quân ta, mà quân ta thì vẫn đánh giặc theo lối” quân tử: đi đại lộ, về đại lộ” là bậc trượng phu…hỏng hết đấy.

Trên chiến trường, không có quân nhân nào tự ý hạn chế hỏa lực trong khi đụng độ với Việt Cộng, vì không nở dùng” vũ khí sát thương nhiều người” mà làm chết hay bị thương nhiều tên VC, ngay cả cấp chỉ huy, cũng luôn muốn dùng tất cả mọi phương tiện trong tay như pháo binh, phi cơ, bộ binh…. để thanh toán nhanh chiến trường ( ngoại trừ cấp chỉ huy là thành phần nội gián). Khi băng đảng cướp có súng đạn, cảnh sát không thể” dùng tay không mà thi hành công vụ”, trái lại phải có súng để khống chế bọn tội phạm nguy hiểm; việc cảnh sát mạng tay, bắn trả băng đảng cướp là điều hợp lý, hợp pháp của nhân viên công lực, nhằm bảo vệ trật tự công cộng, sinh mạng, tài sản của người dân. Khi ăn cướp dùng súng, cảnh sát đến bắt với tay không là coi như” dâng trứng cho ác”.

Theo kinh nghiệm sống, thái độ đối xử tùy theo đối tượng: tức là với người biết điều, thì ta cũng phải giữ phép xã giao, lịch sự. Nhưng đối với bọn gian manh, lũ ăn cướp, sát nhân, tội đồ dân tộc…không có chuyện lịch sự đối với bọn nầy; cần phải có thái độ thích ứng để đối phó; do đó trong lãnh vực truyền thông, không có chuyện phải dùng văn từ” lịch sự” đối với bọn cướp của, giết người Việt Cộng và cả tay sai, đón gió. Cho nên trong lãnh vực truyền thông, cần phải dùng văn từ nặng hơn Việt Cộng, là chúng sợ, như câu nói của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trên hệ thống truyền thông quốc gia vào năm 1970:” Địch dùng súng trường, ta dùng súng liên thanh; địch dùng liên thanh, ta dùng súng cối, địch dùng súng cối, ta dùng phi cơ dội bom lên đầu chúng”.

Đây là lối” dĩ độc trị độc” mới mang lại kết quả. Chính Việt Cộng khiếp sợ khi những ai viết bài, đăng trên các trang báo điện tử, báo giấy bằng những từ ngữ” thích ứng” dùng cho bọn chúng; nên bọn gián điệp, cò mồi, tay sai, hay thành phần” đạo đức giả” hoặc là thành phần” trí ngủ, trí mê, trí mộng du”….cho là: đừng dùng như từ ngữ nặng nề, mình là người quốc gia, khác với Cộng Sản….thế nầy là hỏng hết đấy!!

Đối với ăn cướp mà dùng lời” ngon ngọt như rót mật vào tai, nói năng lịch sự như viên chức ngành ngoại giao, nhả nhặn như một nhà giáo khả kính giảng bài..” thì Việt Cộng khoái lắm, nhất là gọi đám ăn cướp và tên quốc tặc bằng Hồ Chí Minh bằng ÔNG…là coi như làm đảo lộn cả nền đạo đức, ngay cả văn hóa” bình dân học vụ” cũng không ai kêu tên ăn cướp, ăn trộm, sát nhân, giựt hụi, lừa đảo, chôm chĩa…..bằng ÔNG bao giờ, thay vào đó là THẰNG là từ thích hợp. Cần nên phân biệt hai khía cạnh từ ngữ: CHỬI” và” PHÂN TÍCH” để tránh ngộ nhận, đây là đề tài được một số người lẫn lộn:

-CHỬI tức là dùng những ngôn từ, không phân biệt thanh, tục…. để áp đảo đối phương, chửi không cần bằng cấp, trình độ, bất cứ ai cũng có khả năng chửi, lối nầy không phân biệt phải trái, nói cho đã nư.

-Trái lại PHÂN TÍCH là đưa ra ngôn từ để nói lên phải trái, nhưng tùy theo đối tượng mà phân tích; cũng giống như ngày nay, các thùng trác phân biệt: thùng dùng cho cây xanh, thùng recycle, thùng rác phế thải ( không dùng vào đâu cả). Do đó, dùng từ ngữ lịch sự hay” tế nhị” đối với bọn bất lương như Việt Cộng, bè lũ tay sai, cần phải dùng đúng, nếu không cũng giống như bỏ rác lộn thùng vậy; nên phân tích không thể đồng hóa là chửi. Một điều hiển nhiên là việc phân tích cần phải đòi hỏi người viết, nói có một trình độ thích ứng, để phân tích những vẫn đề tranh cải và biết dùng chữ nào đúng vào đối tượng, như câu tục ngữ:” nồi nào úp vun nấy”, ngay cả xe hơi, chạy dầu mà đem đổ xăng lộn là hư xe ngay.

Cho nên, trong thời gian qua, trong dư luận xầm xì khi có những bài viết phân tích rõ ràng, với những ngôn từ không tương nhượng và đương nhiên cũng không” lịch sự” với bọn Việt Cộng, nằm vùng, đón gió; cần phải dùng những từ ngữ thích ứng cho bọn nầy, đó không phải là chửi; nhưng bị những nguồn tuyên truyền xám, qui chụp là Chửi, nhằm gây hiểu lầm tai hại, mà kẻ xấu cố tình qui nạp hai vấn đề” chửi và phân tích” thành một và từ đó xuyên tạc” chửi lung tung” nhằm tung hỏa mù để chạy tội sau khi bị vạch mặt chỉ tên với chứng cớ và đồng thời cũng chụp mũ cả những bài viết phân tích chính xác, có nền tảng vững chắc lý luận, tang chứng.

Trong lãnh vực nhây cảm là khi:” bác Hồ vào hang Pác Pó hội ý”, có kèm theo bài ca” tiếng chày trên sóc Bam Bô” với” giã gạo ban đêm”, nên khi đạt tới” đỉnh cao” là thường đi đến cái” tình huống” cụ thể là:” đá không leo”; điều nầy cũng được các dâm tăng” nhất trí, thiên tai, thiên tai!” khi luyện thiền Tiếp Hiện đạt tới:” thanh tâm trường cụp lạc”, là đạt cái” đắc quả đạo ù ù” của Làng Môn, do thiền sư Thích Nhất Vẹm” hoằng phép”; cũng như trường hợp trên, từ đó, khi thấy một số phản ứng trên diễn đàn, với văn phong hằn học, chụp mũ, và chửi bới về những bài viết phân tích rõ ràng, dùng những từ ngữ thích ứng dành cho Việt Cộng, đón gió, đó cũng là điều được coi là” phản xạ có điều kiện” là khi chúng bị đánh trúng vào yếu huyệt, nên tức khí nói bậy, càng làm cho những” chiến sĩ truyền thông” thêm hứng khởi; đánh trúng đau quá mới la, chứng tỏ là có kết quả tốt, cứ thế mà làm, thì Việt Cộng sợ.

Đó là những cái mà Việt Cộng sợ, cho nên, việc chống Cộng cần phải biết từng yếu huyệt của chúng mà đánh tới như câu:
” Đừng sợ những gì Việt Cộng làm.
Hảy làm những gì Việt Cộng sợ”.

Việt Cộng không tài giỏi, chỉ có thủ đoạn lừa đảo và tàn ác mà thôi, trong khi người quốc gia và cả dân tộc Việt Nam có thừa tài năng; nhưng lại bị đảng cướp cai trị dài hạn, từ sau 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên toàn cõi đất nước. Đó là điều đau lòng, chả lẽ cứ để cho băng đảng cướp” dốt nát” dùng thủ đoạn, bại lực để đè đầu cỡi cổ mãi, chúng đem bán dần non sông cho chủ Trung Cộng để được hưởng một số tiền, như tên Nguyễn Tấn Dũng có 150 triệu Mỹ kim, tiền thưởng của chủ sau khi cho phép khai thác quặng Bô-Xít.

Vũ khí nằm trong tay người Việt Nam, nếu biết đề cao cảnh giác, khai thác những yếu huyệt của chúng, thì việc loại bỏ kẻ gian ra khỏi quê hương, cộng đồng tỵ nạn là điều dễ thực hiện. Một số người chủ bại, tỏ ra ngán Việt Cộng, chỉ vì họ không nhìn thấy những yếu điểm của chúng mà thôi; giống như con siêu vi gây bịnh, nếu không biết được nó, thì sợ, nhưng khi biết chủng loại là gì, thì việc chửa trị, chủng ngừa tất phải có. Thụ động, chờ thời, thì” bao giờ thời cơ đến” dù ai cũng biết là đảng cướp, bạo quyền, hôn quân không thể” mãi mãi bền vững” và an ủi một cậu:” trước sau gì Việt Cộng cũng phải sụp đổ”, nhưng biết đến bao giờ?.

Tuy nhiên nếu” tận nhân lực tri thiên mạng” như dân chúng ở Nga, Đông Âu….tự mình” tạo thời cơ” thì mới giải quyết được vấn nạn, đại họa Cộng Sản; tự mình cứu mình, khi mình làm được điều hay, là người chung quanh tiếp tay; đừng mong chờ Hoa Kỳ” bật đèn xanh” để làm, đó chỉ là liều thuốc mê bị những kẻ gian manh tung ra, nhằm giúp mua thời gian cho Việt Cộng, có đủ thời giờ để chấn chỉnh, tầu tán tài sản, củng cố đảng, hầu tiếp tục cai trị.

Người Dân Iran không cần Mỹ bật đèn xanh để tuần hành trên đường phố tại thủ đô Teheran sau cuộc bầu cử gian lận, người Hồng Kông chả có Mỹ bật đèn xanh để tuần hành ngày thảm sát An Thiên Môn hàng năm kể từ sau năm 1997, nhượng địa nầy trả lại cho Trung Cộng…biểu tình là XUỐNG ĐƯỜNG, đập tan mọi xích xiềng, là sức mạnh như sóng thần của” nhân dân” quét sạch nhiều chế độ độc tài như cuộc cách mạng 1789 ở Pháp, Nga 1991….xô ngả bức tường Bá Linh 1989.

Biểu Tình Tại Gia, tức là KHÔNG CÓ BIỂU TÌNH, là điều mà ai cũng nhìn thấy, chẳng lẽ những người ăn học có bằng cấp cao như giáo sư Võ Văn Ái, một số khoa bảng, nhà báo, nhà văn….lại có kiến thức thua cả một học trò bậc tiểu học; cố gắng thổi phòng hai sách lược giữ đảng:” biểu tình tại gia, bất tuân dân sự” của huề thượng” Thích Để Râu”, rống cổ cho là” thành công” thật là lếu láo của đám” làm láo báo cáo hay”./.

TRƯƠNG MINH HÒA
04.08.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

August 8, 2009 Posted by | NHỮNG ĐIỀU VIỆT CỘNG SỢ - TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net), toi do dan toc trong phat giao an quang: suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh | , | Leave a comment

Giáo Xứ Tam Tòa va quyền Tự Do Tư Tưởng (Kỷ-Nguyên 2000 và NB Việt Thường)

toi do dan toc trong phat giao an quang: suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh


Giáo Xứ Tam Tòa va quyền Tự Do Tư Tưởng (Kỷ-Nguyên 2000 và NB Việt Thường)

Giáo Xứ Tam Tòa va quyền Tự Do Tư Tưởng (Kỷ-Nguyên 2000 và NB Việt Thường) from tieudietcongsan on Vimeo.

August 7, 2009 Posted by | Giáo Xứ Tam Tòa va quyền Tự Do Tư Tưởng (Kỷ-Nguyên 2000 và NB Việt Thường), toi do dan toc trong phat giao an quang: suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai tay sai suc vat ho chi minh | , | Leave a comment

Tại Sao Nhiều Vị Đã Yêu Cầu Thích Quảng Độ Lên Tiếng Về Sự Kiện Giáo Xứ Tam Tòa?

toi do dan toc trong phat giao an quang: suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do tay sai suc vat ho chi minh

<hr />Tại Sao Nhiều Vị Đã Yêu Cầu Thích Quảng Độ Lên Tiếng Về Sự Kiện Giáo Xứ Tam Tòa?

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Những ngày qua, khi các giáo dân thuộc giáo xứ Tam Tòa đã công khai ra đứng giữa thanh thiên bạch nhật để cùng nhau góp lời cầu nguyện cho Công Lý, thì đã có vài người đặt câu hỏi: «Tại sao mấy người đã viết trên các trang điện báo lại không yêu cầu các tôn giáo khác như: Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài v…v… lên tiếng về sự kiện đang xảy ra tại giáo xứ Tam Tòa, mà cứ đòi HT Thích Quảng Độ phải lên tiếng?

Mặc dù tôi không có thời gian để vào các diễn đàn, song tôi đã được nhiều vị chuyển đến cho tôi những câu hỏi đó, nên tôi cũng góp thêm ý kiến: Theo tôi, thì chắc các vị suy nghĩ ít ra cũng … hơi giống tôi.

Thứ nhất, Phật giáo Ấn Quang dù có ngụy biện bằng cách nào chăng nữa, cũng không thể chối cãi được những hành vi làm cộng sản, chưa nói đến chuyện từng làm giặc, từng giết hại dân lành. Do đó, các vị đã muốn ông Quảng Độ hãy lên tiếng có ủng hộ, hay chống đối các giáo dân thuộc các giáo xứ đã cùng hiệp thông cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tòa? Vì đây là dịp để cho Thích Quảng Độ biểu lộ lập trường của ông ta. Vì nếu ông vẫn cứ «im lặng là đồng lõa»  thì đương nhiên ông Quảng Độ đã đứng về phía cộng sản Hà Nội đang áp bức các giáo dân, đánh đập ba vị Linh Mục đến gãy răng, gãy tay, nhất là đối với một bé gái chỉ mới lên tám tuổi đã dám có «thái độ dũng cảm » như ông Quảng Độ đã nói, vì thế mà em bé này đã bị «công an nhân dân» đánh đập một cách tàn nhẫn, đạo Phật dạy dù là con kiến cũng phải thương, huống thay là các giáo dân của Gáo xứ Tam Tòa đang lâm nạn; và ông Quảng Độ nghe nói giỏi chữ Tầu lắm, nên trước đây ông đã viết bốn chữ «ẩm thủy tư nguyên» rồi đem treo trước cổng. Vậy, tại sao ông không biết câu: «Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm (kiến) nguy bất cứu mạc anh hùng»? Rồi còn «Tinh thần Vô úy» ông để ở đâu? mà ông cứ trùm mền mà «Biểu tình tại gia», chứ chẳng hề  dám thò đầu đuôi ra ngoài, hay dám ho một tiếng. Như thế, có phải chăng đã «hợp tác đôi bên cùng có lợi, ông lợi cái này, tôi được lợi cái kia … » đã được «đồng đẳng, bình đẳng»  rồi, nên ông Quảng Độ  cứ im lặng để kêu gọi mọi người hãy trùm mền mà «biểu dương»  với nhau trên giường để «Bất tuân dân sự»?

Thứ hai, vì cái «Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất » của ông nó lớn lắm, nó to lắm. Này nhé, nào là Tổng Thống ý quên Tăng Thống, nào là Lưỡng Viện Quốc Hội, ý quên Lưỡng Viện giáo Hội, nào là Hiến Pháp, ý quên nữa Hiến Chương nè. Chưa hết đâu, mà còn cả cái «Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế», cái này mới to thiệt, quý vị hổng có tin thì cứ vào trang điện báo Exodus thì sẽ thấy ông Ls Đinh Thạch Bích luôn luôn đội lên đầu và đem chưng lên trang báo, rồi quý vị cứ úp cái bàn tay lên cái «Thông cáo báo chí» này thử nó có vừa vặn hay không? nói thiệt nhé, những cái này nếu ở … bên Phi Châu mà có những người có điều kiện như ông Đinh Thạch Bích cứ đem in ra, thì kể cũng hữu dụng cho những người dân nghèo không mua nỗi một cuộn giấy vệ sinh, còn ở các nước văn minh thì những thứ này chùi nó đau, nó rát da Đ… lắm.  Và cái cây Đinh chuyên môn Đâm, Thọc này xem ra cũng chẳng làm cho ai rơi rớt một sợi lông nào. Trở lại với cái «Hiến chương Phật giáo», thật quái lạ, tôn giáo thì chỉ có giáo quy, giáo luật, chứ làm gì có Hiến chương, mà cho dù là Hiến chương hay Hiến pháp gì đó của Ấn Quang thì cũng chỉ là một miếng giấy lộn mà thôi, nó chẳng có một ly giá trị nào. Vì nếu nó có giá trị thì tại sao Ấn Quang còn áp lực cố TT Nguyễn Văn Thiệu phải ký cái «Hiến chương» đó?  Như thế, rõ ràng là chính Phật giáo Ấn Quang cũng đã tự biệt nó không có giá trị rồi; bởi cựu tướng Nguyễn Khánh không đủ tư cách để ký một cái gì hết. Vậy, phải nói cho thật chính xác là Phật giáo chỉ có ngoan cố, chỉ có Vọng ngữ, vì sau khi cố TT Nguyễn Văn Thiệu không ký vào cái « Hiến chương Phật giáo » thì một lần nữa tôi lập lại là cái « Hiến chương » đó nó chỉ là một miếng giấy lộn. Nhưng không sao, cựu tướng Nguyễn Khánh vẫn còn sống đó, nếu Ấn Quang vẫn còn đem cái «Hiến chương» kia ra để mà lòe bịp lũ con nít, thì cả cái «Giáo hội Phật giáo Thống nhất» cũng nhất định là phải nằm trong «Chính phủ Nguyễn Hữu Chánh» của «Quốc trưởng Nguyễn Khánh». Vậy đừng có lộng ngôn vọng ngữ, đừng có mộng du rồi tự đặt Ấn Quang lên ngang bằng với chính phủ. Ngày xưa, cả hai Nền Đệ Nhất và Đên Nhị Việt Nam Cộng Hòa, vì phải đối đầu với giặc nên đã phải làm ngơ, đừng có cuồng mơ, rồi cứ tưởng Ấn Quang là Quốc giáo. Tôi chắc quý vị nào đã đọc qua cái «Hiến chương» đó rồi thì đã biết nó chẳng khác Bản Hiến Pháp của Đệ Nhị Việt Nam Cộng Cộng Hòa là mấy. Còn hỏi tại sao các vị không có yêu cầu các tôn giáo như: Tin Lành, Hòa hảo, Cao Đài … lên tiếng, là vì các tôn giáo này đều rất khiêm, họ không có «Hiến chương», không có «Lưỡng Viện», không có Phòng thông tin Quốc tế  v…v… Vì có anh chàng Miên, anh chàng Lào nào chịu phục tùng cái «Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế» bá láp này đâu. Mà ông Quảng Độ lấy cái tư cách gì để phong cái chức «Giám Đốc Phòng thông tin Phật giáo Quốc tế»??? Ôi! ở đời sao lắm kẻ cuồng điên đến hết thuốc chữa?!!!

Và tôi vẫn nhớ là ở cuối bài viết trước. Tôi có nói: sẽ đưa lên loạt bài: Giặc Ấn Quang. Nhưng, nay tôi thành thật xin lỗi quý độc giả; bởi tôi đã đưa loạt bài này và nhiều hình ảnh của các «cao tăng» làm bằng chứng là giặc của Ấn Quang cùng tất cả những bài viết của tôi từ trước đến nay để in thành một cuốn sách mang tựa đề: Nhân Chứng Của Các Vụ Bạo Loạn từ 1964 – 1975, sắp xuất bản. Vì thế, một lần nữa, tôi chân thành xin lỗi quý vị.

Hàn Giang Trần lệ Tuyền

<a href=”http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TaiSaoNhieuViDaYeuCauThichQuangDoLenTiengVeSuKienGXTamToa.htm”>http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TaiSaoNhieuViDaYeuCauThichQuangDoLenTiengVeSuKienGXTamToa.htm</a&gt;

August 5, 2009 Posted by | Tại Sao Nhiều Vị Đã Yêu Cầu Thích Quảng Độ Lên Tiếng Về Sự Kiện Giáo Xứ Tam Tòa?, toi do dan toc trong phat giao an quang: suc vat thich tri quang suc vat thich don hau suc vat thich huyen quang suc vat thich quang do tay sai suc vat ho chi minh | , | Leave a comment