ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

China: From Tiananmen Massacre 1989 until now

China 1 of 6:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91v9g_china-1-of-6_news


China 2 of 6_a

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91vn4_china-2-of-6a_news


China 2 of 6_b

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91vth_china-2-of-6b_news?hmz=707265766e657874


China 3 of 6:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91w2m_china-3-of-6_news?hmz=707265766e657874


China 4 of 6:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91x99_china-4-of-6_news?hmz=707265766e657874


China 5 of 6:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91xh7_china-5-of-6_news?hmz=707265766e657874


China 6 of 6_a:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91xqi_china-6-of-6a_news?hmz=707265766e657874


China 6 of 6_b:

http://www.dailymotion.com/user/hd1280/video/x91xvy_china-6-of-6b_news?hmz=707265766e657874

June 3, 2009 Posted by | China: From Tiananmen Massacre 1989 until now | | Leave a comment

TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC (2/2)

[2/2].- « LỰC LƯỢNG HÒA HỢP-HÒA GIẢI PHẬT GIÁO : NHỮNG TÊN SÁT THỦ.

(tiếp theo kỳ I)

HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

Nhưng những tên sát thủ trong cái gọi là « Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo » ; không phải chịu ngưng lại ở cái chết của ông Trần Quốc Dân. Mà ngay trong đêm 29/03/1975, cả lũ chúng đã kéo nhau đi tìm những vị khác mà chúng đã gọi là : « Cần Lao-Quốc Dân Đảng ác ôn », để giết chết trước khi Việt cộng tiếp thu để trả thù, vì các vị này đã phản đối cuộc tấn công Thanh Bồ-Đức Lợi, 24/8/1964 ; và đã tiếp tay với chính quyền để dẹp loạn bàn phật xuống đường, mùa hè 1966. Và bởi chúng muốn chính tay chúng giết và cũng sợ Việt cộng chỉ bỏ tù các vị đó chứ không giết ; vì các vị ấy, người có chức vụ cao nhất là Phường trưởng mà thôi.

Nên biết, từ ngày 20/03/1975, tại Đà Nẵng Phật giáo đã cướp chính quyền của VNCH. Phật giáo Ấn Quang đã tự xưng là « Chính Quyền Hòa Giải Phật Giáo ». lúc bấy giờ họ cũng xưng là Phường trưởng, Xã trưởng… và có « Lực lượng An ninh Phật tử- Lực lượng Vũ trang Chính quyền Hòa giải… ».

Và như LLHHHGPG đã nói : » Phải tận diệt « thành phần ác ôn ». Vì vậy, nên vào đêm 29/03/1975, Lực lượng Vũ trang Chính Quyền Hòa giải Phật giáo đã đến tận nhà của các vị sau đây để bắt họ đem đi xử bắn tại An Hải Bắc, Quận 3, Đà Nẵng, đó là các Ông :

• Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, quận 3 Đà Nẵng, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964 đã bị Phật giáo bắt đánh về tội « Dư đảng Cần lao ».

• Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2, Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng.

• Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cư 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng.

• Cùng bị bắn với ba vị kể trên còn có hai vị nữa, tôi nhớ một người tên Mua và một người tôi quên tên ; nhưng tôi biết cả hai người này là đảng viên đảng Công Nông.

• Riêng Ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc, thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là Nhân viên Phòng 2 Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, bị Phật giáo bắt đánh về tội « Dư đảng Cần Lao ».

• Lúc « Lực lượng Vũ trang Hòa Giải Phật giáo » đến nhà ông Bùi Ngọc Cang, vợ Ông Bùi Ngọc Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt Ông Bùi Ngọc Cang là một tên đã bắn xả vào Ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà trước sự kinh hoàng của vợ con, bà Cang ngất xỉu, các con ông thét gào lên kêu cứu. Lực lượng Hòa giải Phật giáo lạnh lùng quay lưng bỏ đi, để còn tìm thêm những « thành phần ác ôn » khác để giết tiếp.

Một trường hợp khác, vào khoảng 10 giờ sáng ngày 29/03/1975, trong cơn chạy loạn khi xe tôi chạy đến ngay ngã ba Huế, bỗng thấy một dòng người chạy theo sau đám « Lực lượng Hòa giải Phật giáo » khi thấy lũ này đang tiến về một căn nhà nằm ở ngay góc ngã ba, phía trái trên con đường từ Đà Nẵng chạy về phía Phước Tường. Có lẽ họ đã biết rằng một khi đám này đến nhà một người nào thì trong căn nhà đó phải có người chết. Thấy đám đông trước cổng căn nhà này, vì kẹt xe và cũng muốn biết chuyện gì, tôi dừng lại. Trước mặt tôi, phía trong cổng là một căn nhà khá khang trang, các cửa đều đóng kín, trong sân có trồng nhiều loại hoa, những chậu cây cảnh đặt phía trước thềm nhà và dọc theo mấy bậc tam cấp.

Khi vào đến trước căn nhà này, đám LLHHHGPG lên tiếng gọi : « Mở cửa, hãy mau mau mở cửa, không mở thì chúng tao sẽ phá cửa! »

Im lặng một lúc sau, tôi cùng đồng bào bỗng thấy cánh cửa bên hông trái của căn nhà xịch mở, hai người đàn ông mặc đồ dân sự, trạc chừng dưới ba mươi tuổi bước ra. Nhưng khi cả hai người này vừa bước xuống hết bậc tam cấp thì không ai biết có bao nhiêu người đã bấm cò ; nhưng mọi người đã nghe nhiều loạt đạn nỗ bắn thẳng vào hai vị này ; cả hai đều gục chết ngay nằm trên vũng máu, dưới chân bậc tam cấp của nhà họ. Trước cảnh đó, đồng bào cũng như tôi đều biết Lực lượng Hòa giải Phật giáo đang say máu người nên phải nhanh chóng rời xa nơi đó. Song trước khi cho xe chạy đi tôi đã hỏi qua đồng bào tại đó, thì được đồng bào cho biết, hai vị đó là hai anh em ruột và đều là cảnh sát.

Cho đến giờ này và mãi mãi tôi không bao giờ quên được căn nhà này ; cũng như hai anh em ruột là cảnh sát . Mặc dù tôi không biết tên, không biết gì về cả hai người này ; nhưng tôi đã nguyện rằng : Không thể để tên họ của những nạn nhân đã chết thảm khốc dưới bàn tay của Phật giáo Ấn Quang đi vào quên lãng : Vì thế, chắc chắn sẽ có một ngày tôi trở lại, để đến căn nhà đó. Nếu gia đình họ không còn ở nơi ấy nữa, tôi vẫn tin rằng tôi sẽ tìm ra thân nhân và tên họ của hai vị này ; nhất định tôi phải tìm ra, để với tất cả tâm thành tôi sẽ đốt nén nhang cắm lên bàn thờ, cắm trước mộ phần của họ, là hai người đã bị giết chết một cách tức tưởi không kịp nói được nữa lời ; Ôi ! Hòa hợp ! Ôi ! Hòa giải ! Ôi ! Phật giáo !!!

Với những cái chết vô cùng thảm thương và oan uổng như đã kể trên. Tôi vẫn hằng tâm nguyện sẽ có một ngày tôi sẽ trở về, để tìm cho ra tất cả tên họ của những nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của Phật giáo Thống nhất (Ấn Quang) qua những cuộc thảm sát mà tôi đã chứng kiến, có người tôi biết tên, có người tôi đã thấy họ bị giết mà không biết tên vì trong lúc chạy giặc, kể từ năm 1960 cho đến 30/04/1975. Tôi và những thân nhân của họ sẽ nhờ đến ngọn đèn công lý để xét soi. Nhất định chúng tôi phải đòi cho được lẽ công đạo cho những oan hồn uổng tử.

Viết đến đây, lòng tôi bỗng vô cùng đau xót. Tôi muốn nói rằng : Nếu Phật giáo Ấn Quang không giết các vị ấy, thì biết đâu khi việt cộng kiểm soát hết thành phố Đà Nẵng ; vì các vị ấy chỉ là những cựu viên chức nhỏ Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, hoặc những viên chức nhỏ và chỉ là đảng viên của các đảng phái mà thôi ; thì có thể họ sẽ bị vào trại cải tạo, rồi họ ra tù, họ sang Hoa Kỳ. Thà rằng để cho việt cộng giết chết họ trong và ngoài nhà tù. Và đó, là lý do mà giờ đây người dân Đà Nẵng đã không còn nghe theo lời kêu gọi của các « thầy » nữa

Phật giáo Ấn Quang tàn ác- dã man lắm ; vì đã đang tâm giết chết họ, họ đã bỏ lại vợ dại con thơ trong cơn khiếp đảm, kinh hoàng, và vợ con họ đã kéo lê những tháng năm dài trong nỗi đau đớn khốn cùng. Những tang thương ấy cho đến bao giờ mới phai mờ trong ký ức của họ ? ? ? !!!

AI QUYẾT ĐỊNH TRONG VIỆC THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO VÀO NĂM 1981 ?

Như đã nói ở trên, ngay Võ Nguyên Giáp làm tướng việt cộng đến sáu mươi năm, mà bây giờ sắp chết mới được Hà Nội ban phát cho cái « Ấn kiếm ». Còn về Huân chương, Huy chương, và chức tước, thì Võ Nguyên Giáp còn thua xa Thích Đôn Hậu.

Chính vì thế, nên sau ngày 30/04/1975, Thích Đôn Hậu từ miền Bắc, từ bưng biền trở về, Y đã tự xem mình là anh hùng đã từng chinh Trung, chiến Nam. Nay trở về thì nhất định là phải đăng quang lên ngôi cửu ngũ. Tại Đà Nẵng, trong buổi lễ sinh nhật Hồ Chí Minh do Y chủ trì tại « chùa » Pháp Lâm, với những lời ca tụng « công đức » của HCM ; rồi còn bảo : « Phật tử hãy thiết lập bàn thờ để thờ bác Hồ vĩ đại tại nhà ». Với những chiến công to lớn đã được Hà Nội ghi nhận như vậy. Song cộng sản Hà Nội cũng đâu phải là những tay vừa ; Hà Nội đã biết, đã thấy rõ cái cuồng vọng của Phật giáo Ấn Quang, nên Hà Nội đã thì thầm, to nhỏ với Thích Đôn Hậu là : « Ngài hãy tìm mọi cách để thống nhất Phật giáo đi, đảng sẽ đưa ngài lên ngôi lãnh đạo Phật giáo cả nước ». Bởi thế, nên chính Thích Đôn Hậu đã hối thúc Hòa thượng Thích Trí Thủ và đồng môn Ấn Quang phải thống nhất Phật giáo cả nước thành một khối ; bởi Thích Đôn Hậu đinh ninh rằng một khi Đại hội Thống nhất Phật giáo được tổ chức thì cái chức Tăng Thống sẽ về tay Y. Để rồi từ cái chức tăng thống ấy Y sẽ tóm thâu hết « sơn hà xã tắc » trong tay. Nghĩa là Thích Đôn Hậu đã mưu toan sẽ nắm giữ cả giáo quyền lẫn thế quyền.

Ngày nay Thích Đôn Hậu đã chết, thì Hòa thượng Thích Quảng Độ và các đồ đệ lại cũng tiếp tục với giấc mộng tái lập Lý triều với một nước Việt Nam Phật Quốc.

Điều này, để thấy rõ ràng hơn, tôi xin quý vị độc giả hãy đọc lại 1 trong 3 điều trong bản tuyên ngôn của Phật giáo đã đăng trên báo Quê Mẹ số 137-138, năm 1997, trang 89 nguyên văn như sau :

« TUYÊN NGÔN VÀ QUYẾT NGHỊ CỦA ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI KỲ I TẠI HOA KỲ- VĂN PHÒNG II VIỆN HÓA ĐẠO :

Điều 3- Mở cuộc vận động giải thể thế quyền và ảnh hưởng chính trị bè phái manh động làm ung thối nội tâm nền Phật giáo dân tộc, để trang nghiêm đất nước và pháp giới ».
« Giải thể thế quyền » Nghĩa là nước Việt Nam phải chịu sự cai trị bởi GIÁO QUYỀN ; mà chắc chắn là cái « Tuyên ngôn của Đại hội khoáng đại… » này không bao giờ đòi giáo quyền của một tôn giáo nào khác là Giáo Quyền của Phật giáo. Mà có tôn giáo nào đòi cầm quyền đâu ?

Chỉ cần một Điều 3 này thôi, thì dù bất cứ một người nào Ngu như tôi đây cũng hiểu được cái tham vọng hay nói đúng hơn là cái cuồng vọng của Phật giáo rồi ; khỏi cần phải giải thích dài dòng thêm một lời nào nữa cả.

Trở lại với Thích Đôn Hậu ; vì đã không lường được mọi sự nên đến khi đại hội thống nhất Phật giáo Nam-Bắc được khai diễn thì Hòa thượng Thích Đức Nhuận đã được « đại hội bầu » lên ngôi Pháp chủ ; còn Thích Đôn Hậu chỉ được « suy cử » vào Hội đồng Chứng minh và giữ chức Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội phật giáo Việt Nam ». Kể từ đó Thích Đôn Hậu ngày đêm vẫn cứ suy tính để làm cách nào giành lại quyền hành ; nên ta thấy khi Hà Nội cử đi đến nước nào Thích Đôn Hậu cũng đều đi cả, vì vừa đi vừa toan tính ; nhưng tính đến chết Thích Đôn Hậu cũng chỉ là Phó Pháp chủ kiêm giám luật Hội Phật giáo Việt Nam mà thôi. Cả nước ai cũng biết Thích Đôn Hậu chưa hề làm Tăng thống một phút giây nào cả.

Còn một điều nữa, tôi muốn hỏi nhỏ ông Võ Văn Ái . Ông còn nhớ hay đã quên hồi còn mồ ma cái chức « Phó chủ tịch Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền » ông còn đến được với Cơ quan Quốc Tế Nhân Quyền ; để chỉ đánh bóng tên tuổi của mấy ông sư cộng sản, và đã có lần ông nhận được cái « Đơn kiện của Đại lão Hòa thượng Thích Quang Thể ; người đứng đầu của tổ chức Tăng đoàn bảo vệ chánh pháp » gửi sang Paris cho ông ; mục đích là nhờ ông đưa ra Quốc tế nhân Quyền để kiện cộng sản Hà Nội về việc « chính quyền đã chiếm dụng 17 ( mười bảy) ngôi chùa ở Đà Nẵng ». Ông đã vô cùng « hồ hởi-phấn khởi » đưa ngay lên Quốc tế Nhân quyền ; nhưng ông đã không ngờ được là ở ngay Ủy ban Quốc tế Nhân quyền cũng đã có một lá thư của « Đại lão Hòa thượng » Thích Quang Thể. Nội dung thư này « Đại lão HT Thích Quang Thể » đã phủ nhận hoàn toàn rằng không hề viết và không hề biết cái đơn kiện đó…

Còn một điều khác mà xem ra ông Võ Văn Ái khó có thể hiểu được đó là « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Trung-tiểu học Bồ Đề tại Đà Nẵng, người gốc Huế ; song đã bắt rễ ở Đà Nẵng đã lâu, TT Thích Minh Tuấn từng là người lãnh đạo « Phật giáo Cứu quốc » trong cuộc tấn công đốt nhà, đánh giết đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi, 24/08/1964, và cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường vào mùa hè 1966, Thích Minh Tuấn cũng đã lãnh đạo « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đã đánh và bắn chết em Lê Quang San ngay phía trong cổng chùa Pháp lâm. Rồi đến 29/03/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đem cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào ĐN ; sau đó đã « Nhân danh là Hiệu trưởng Trường Bồ Đề xin dâng hiến tất cả Trung-tiểu học Bồ Đề cho cách mạng ». Thích Minh Tuấn đã làm phó đại diện đứng sau Thượng tọa Thích Quang Thể Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Quảng nam- Đà Nẵng suốt mấy chục năm qua. Ấy vậy mà bỗng dưng bây giờ « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn lại giao chức Phó đại diện lại cho « Hòa thượng » Thích Giác Viên để cùng làm công việc « Phật sự » bên « Đại lão Hòa thượng » Thích Quang Thể, Chánh Đại diện cho đến ngày … sàng tịch. Còn « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn đã hô … biến một cái là đã vào ngay Tu viện Nguyên Thiều, Quảng Ngãi, và hiện đương làm « Thị giả của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN » . Với chức năng « Thị giả » Thích Minh Tuấn luôn luôn thường trực bên cạnh Đệ tứ Tăng thống không rời một bước ; chẳng những thế, mà bất cứ ai khi đến Tu viện Nguyên Thiều muốn hỏi điều gì về Tăng thống cũng phải qua sự đồng ý của « Thị giả » Thích Minh Tuấn. Nhưng thường là chỉ được « Thị giả » trả lời và giải quyết mọi việc ; còn về Tăng thống có lần « Thị giả »Thích Minh Tuấn nói : « Giáo chỉ số 9 thì do một người ở Sài Gòn đưa ra, chứ Đức Tăng thống đang bị bệnh nặng không nói năng gì được ». Và người trả lời phỏng vấn nói tiếng pha lẫn vừa Quảng Nam vừa Quảng Ngãi, được cho là của Đức Tăng thống ; song có người lại chưa chịu tin. Như vậy, tôi nghĩ ngay cả « Viện Hóa Đạo II » cũng không biết đường đâu mà mò. Thôi thì đành chờ thời gian sẽ trả lời mọi sự ; hay là ông Võ Văn Ái hãy hô … biến như « thị giả » Thích Minh Tuấn để về tận Tu viện Nguyên Thiều xem hư thực ra sao, khi đó lời nói của « phát ngôn nhân » nghe mới thuyết phục được.

PHẬT GIÁO ẤN QUANG KHÔNG DÁM NHÌN NHẬN SỰ THẬT.

Cho đến giờ này và mãi mãi Ấn Quang vì khư khư ôm cái cuồng vọng tái lập Lý triều, cứ mơ màng về một nước Việt Nam Phật Quốc nên vẫn cứ loay hoay mãi trong cái vòng lẫn quẫn không bao giờ có lối thoát. Hồi còn bé tôi đã nghe Mẹ tôi ru em bằng câu hát như sau :

Con kiến mà leo dây bầu,
Leo lên leo xuống từ đầu chí đuôi.
Leo ngược rồi lại leo xuôi,
Leo lên leo xuống từ đuôi chí đầu.
Con kiến mà leo dây bầu
Leo lên leo xuống từ đầu chí đuôi.
Leo ngược rồi lại leo xuôi,
Leo lên leo xuống từ đuôi chí đầu.
……….
Và cứ vậy, những con kiến này nó cứ leo, leo tới, leo lui, leo lên, leo xuống, leo hoài, leo mãi, leo cho đến chết cũng không chịu tìm cách để thoát khỏi cái dây bầu ; vì thế nó không bao giờ biết cái gì khác ngoài cái dây bầu cả.

Mà kể ra cũng bế tắc ; bởi Phật giáo Thống nhất (Ấn Quang) đều biết Thích Đôn Hậu là một đảng viên cộng sản kỳ cựu và cao cấp thứ thiệt, biết tất cả ; nhưng không có can đảm để nói ra sự thật đó. Phật giáo đều biết tội ác của Thích Đôn Hậu trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, tại Huế, biết Y ra chiến khu theo việt công, rồi ra Bắc đã ở bên cạnh Hồ Chí Minh. Nhưng vẫn cứ ca là Thích Đôn Hậu bị việt cộng bắt khiêng đi, bị bắt buộc phải như thế này, như thế nọ bị …bị…và bị… Nhưng trên các báo Quê Mẹ ông Võ Văn Ái luôn luôn viết rằng :

« ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU VỚI TINH THẦN VÔ ÚY … ».

Đã nói là VÔ ÚY thì sợ cái gì nữa chứ ? ? ?. VÔ ÚY thì việt cộng làm sao bắt buộc Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm những điều mình không muốn. Chẳng lẽ những lần lên máy bay công du đến các nước như Nga, Tiệp Khắc, Mông Cổ… việt cộng cũng đã áp giải hay sao ? ? ? Đã VÔ ÚY thì lúc nào cũng sẵn sàng tử đạo, hoặc chết vì lý tưởng. Vô Úy !!! và Vô Úy !!! …Bao nhiêu năm qua rồi, người dân Việt đã chết thảm, đã đau thương, đã khốn khổ dưới bàn tay của Phật giáo ; thì hôm nay những oan hồn của những nạn nhân ấy, cũng như những nạn nhân còn sống với những vết thương không bao giờ lành được. Tất cả đều gọi kêu Phật giáo Ấn Quang hãy chấm dứt ngay những trò ngụy biện ; bởi chỉ có những kẻ cuồng tín, dại khờ mới tin Phật giáo Ấn Quang ; còn người dân Việt bây giờ đa số họ đã sáng suốt lắm.. Song xét cho cùng cũng như những con kiến ấy nó cứ leo …leo hoài… leo mãi…leo cho đến một ngày nó sẽ chết giấc trên cái dây bầu mà thôi. Bởi vậy, dù đã biết Thích Đôn Hậu không hề có làm Tăng thống một giây phút nào hết ; nhưng ngặt nỗi là không có Đệ tam Tăng thống, thì làm sao có Đệ tứ với Đệ ngù… ???!!!

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ : « ẨM THỦY TƯ NGUYÊN ».

Riêng về Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, tôi thấy trên báo Quê Mẹ số 131, tháng 1-2-1995, nơi trang 78, có đăng lời của HT rằng : Lúc bị quản thúc ở Thái Bình Hòa thượng đã viết bằng chữ Tàu lên một tấm bảng gỗ và treo trước cửa trên đó có bốn chữ « Ẩm Thủy Tư Nguyên » Hòa thượng Thích Quảng Độ đã chê một tên một công an dốt khi nóí :

« Hắn viết những chữ gì… vì anh ta không biết chữ Hán vì bốn chữ này rất thông dụng ».

Về điều này ai cũng hiểu, vì công an Việt Nam thì làm sao biết chữ Tàu ; và HT Thích Quảng Độ là người Tàu hay sao mà lại vẽ Bùa chứ không viết chữ Việt ? Mà bốn chữ này mà « rất thông dụng hay sao ? Tôi nghĩ có bao nhiêu người Việt Nam đã đọc được, đã hiểu được bốn chữ Tàu này mà HT gọi là « rất thông dụng ». ??? Bởi vậy, chẳng phải một tên công an kia dốt, mà còn nhiều người cũng dốt nữa. Bởi, bốn chữ đó nó không đơn giản là « Ẩm Thủy Tư Nguyên » đâu ; mà nó còn hàm chứa những điều ẩn ức trong lòng của Hòa thượng :

Ôi ! Uống nước nhớ nguồn, hay Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Ôi ! Sao các người không nhớ những tháng ngày CS và PGVNTN cùng chung lưng đấu cật, kề vai sát cánh để « Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào ». Để rồi bây giờ các người đành đoạn ngồi Ẩm Thủy mà chẳng Tư Nguyên. Hay nói nôm na là sao các người nỡ đoạn đành ngồi Ăn quả mà chẳng nhớ kẻ cùng trồng cây. Và còn nói một cách dễ hiểu hơn là : Tại sao các người không nhớ những tháng năm làm cộng sản với nhau, mà bây giờ các người tự chia chác QUYỀN và LỢI với nhau mà nở tâm đành đoạn chẳng chia cho ta một tí. Nhìn thấy các người ngồi ăn quả với nhau, ta thấy mà ta vừa thèm rõ dãi vừa ấm ức trong lòng. Ôi ! Tiếng kêu than : « Ẩm Thủy Tư Nguyên ! » Sao mà nghe thê thiết đến thế ! Hỡi người ơi! Ta muốn nói :

– Chiến trường ai khóc chia phôi,
– Khải hoàn ai nhắc đến người hôm qua ???!!!

Nhưng khi đặt bút để viết bốn chữ tàu : « Ẩm Thủy Tư Nguyên », thì có lẽ nào Hòa thượng Thích Quảng Độ đã quên rằng cái chức Tăng thống đó nó đã bắt đầu từ Hòa thượng Thích Tịnh Khiết . Những điều này kể ra thì nó quá dài dòng và không cần thiết, bởi chính HT Thích Quảng Độ và Phật giáo ấn Quang đều biết. Ở đây tôi chỉ muốn nói chính HT Thích Quảng độ và Phật giáo Thống Nhất (Ấn Quang) đều là những người đã bội nghĩa vong ân, bởi cứ luôn luôn đòi cái chức Tăng thống, mà đã quên đi Người đã giúp cho ra đời cái chức Tăng thống, đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngược lại, qua những bài viết của Hòa thượng Thích Quảng Độ và các sư thuộc GHPGVNTN (Ấn Quang) và của ông Võ Văn Ái trên các số báo Quê Mẹ tất cả những người này cũng cứ nói rằng « thời Đệ Nhất Cộng Hòa Phật giáo luôn bị đàn áp và kỳ thị … ». Cho đến bây giờ ai đã từng lần dỡ lại những trang sữ cũ, thì đều đã thấy rõ ràng là Hòa thượng Thích Quảng Độ và cả Phật giáo Thống nhất ( Ấn Quang) đã Ẩm Thủy mà không hề có một phút Tư Nguyên. Bởi, cái chức Tăng thống đó nó đã do từ Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà có.

TẠM KẾT

Theo tôi thấy, đã mấy chục năm qua từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa, cho đến bây giờ Phật giáo Ấn quang vẫn ca những bài ca Pháp nạn, đàn áp Phật giáo … và đặc biệt cứ đòi thực thi Dân Chủ ; trong khi chính Phật giáoẤn Quang chẳng có dân chủ một tí nào cả.

Trước kia, sống trong thể chế của cả hai Nền Cộng Hòa Việt Nam mặc dù không muốn, nhưng chính quyền vì phải lo đối phó nhiều mặt, nên đã làm ngơ mới có chức Tăng Thống. Nhưng có Tăng Thống rồi mà cũng chưa thỏa mãn, còn gây ra những cuộc bạo loạn, giết hại dân lành, gieo tang thương, máu lữa vì còn muốn cướp chính quyền nữa. Bởi vậy, nên cả hai Nền Cộng Hòa Việt Nam phải sụp đổ. Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, Thể chế Cộng Hòa đã mất, Tổng Thống không còn thì đương nhiên Tăng thống và Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng phải cáo chung. Phật giáo Ấn Quang phải nên nhớ kỹ rằng : Đã làm cộng sản, đã biết cộng sản thì cũng phải biết rằng chế độ cộng sản không bao giờ có chức Tăng thống.

Đó là cái Quả mà Phật giáo phải gặt bởi cái Nhân đã cùng cộng sản đánh đổ cả hai nền Công Hòa Việt Nam. Như thế mà Hòa thượng Thích Quảng Độ còn đòi việt cộng « phải phục hoạt cho GHPGVNTH như trước 1975 ». Như vậy, thì tại sao trước 1975, từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa Phật giáo cứ luôn luôn ca bài « Pháp nạn » rồi kêu gọi « đấu tranh để đánh đổ Mỹ-Diệm, Độc tài, gia đình trị ». Sau khi Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã sụp đổ, thì vẫn tiếp tục kêu gọi đấu tranh mang bàn Phật xuống đường và « Phải đánh đổ Thiệu-Kỳ-Hương, Thiệu-Kỳ phải từ chức, Mỹ phải rút quân …???

Như mọi người đã biết, ròng rã mấy chục năm qua Phật giáo Ấn Quang luôn luôn đòi hỏi thực thi dân chủ, mà không biết rằng muốn như vậy, thì trước hết chính Phật giáo phải dân chủ trước. Nội cái chuyện thanh trừng qua các «Giáo chỉ » cũng đã phơi bày cho mọi người thấy cái độc tài của Phật giáo rồi. Tại sao Phật giáo không nhìn thấy cách bầu Đức Giáo Hoàng của Tòa Thánh. Tòa Thánh có khi phải năm lần bảy lượt mới bầu lên được một Vị Giáo Hoàng. Còn Phật giáo Ấn Quang thì vẫn cứ khư khư là cái « Di Chúc » ; làm như là VUA không bằng.

Theo tôi, chỉ có hai vị : Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Hòa thượng Thích Giác Nhiên mới thực sự là Tăng thống đã được đại hội bầu một cách dân chủ mà thôi.
Tôi vì ngu dốt nên đã nghĩ rằng : Phật giáo Ấn Quang nên bình tâm mà nhìn lại « con đường ai đang đi đó sẽ đưa … sang đâu… ? » Phật giáo Ấn Quang hãy mở mắt ra để nhìn xuống phía dưới con đường chênh vênh mình đang đi là vực thẳm, còn bao quanh là đầy những chông gai và không biết bao nhiêu là hiểm nguy, bất trắc, lại thêm phải lần mò trong bóng tối thâm u. Tại sao đã là Phật tử mà không chịu lắng nghe theo lời của Đức Phật Tổ đã dạy :

« Chúng sanh hãy tự đốt đuốc tìm đường mà đi ».

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.dangvannham.com/modules/news/article.php?storyid=301

June 3, 2009 Posted by | TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC | | Leave a comment

TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC (1/2)

TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC

[1/2].- AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO TẠI HUẾ : TẾT MẬU THÂN, 1968 ; VÀ TẠI ĐÀ NẴNG TỪ 29-03 ĐẾN 30-04-1975 ?

HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

img47a089aaf07c7

Vừa qua tôi đã đọc tất cả những loạt bài viết về cuộc thảm sát tại Huế, Tết Mậu Thân, 1968 ; của các tác giả , trong đó có Tác giả Liên Thành, Cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế, và của Tác giả Trần Gia Phụng trên Trang điện tử vnfa.com.

Về Tác Giả Liên Thành, thì không ai có thể phủ nhận được những điều Ông đã viết về «Thầy tu Thích Đôn Hậu » đã được một người mang tên Hoàng Tố Loan ở trong chùa Từ Đàm, tên này đã có một đứa con với một ni cô trong chùa. Và chính Hoàng Tố Loan đã đưa Thích Đôn Hậu và đồng bọn chạy ra chiến khu của VC, qua loạt bài « Biến Loạn Miền Trung » vì Ông là một chứng nhân qua những cuộc thảm sát tại Huế.

Về Tác Giả Trần Gia Phụng qua chương : « Tàn Sát Thiên Chúa Giáo ». Ông đã viết :
« … Khi mới vào Gia Hội, cộng quân ra lệnh mọi nhà phải treo cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Dân chúng không có cờ MTGP, nên cộng quân ra lệnh treo cờ Phật giáo ( Don Oberdorfer, sđd. 225). Đây là một âm mưu của cộng sản : Cộng quân dư biết dân chúng sống dưới chế độ Miền Nam không thể có cờ MTGPMN mà vẫn ra lệnh treo cờ Mặt Trận nầy, rồi lấy lý do không có cờ MTGP mới đổi qua cờ Phật Giáo, cộng quân sẽ biết nhà nào theo Thiên Chúa Giáo. Vì những gia đình theo Đạo Thiên Chúa làm gì có cờ Phật Giáo mà treo ? ».

Thực ra, ít ai biết đến một sự thật là vào Tết Mậu Thân 1968, trong lúc Việt cộng đã kiểm soát được Thành phố Huế, nên khi các vị đã thấy cờ của Phật giáo được treo trên khắp đường phố, thì các vị cứ tưởng rằng Việt cộng đã ra lệnh treo cờ Phật giáo. Nhưng mọi chuyện hoàn hoàn không như các vị đã nghĩ. Còn riêng tôi, tôi không phải chỉ viết mà đã thấy tận mắt những kẻ đem cờ Phật giáo treo tràn ngập tại thành phố Đà Nẵng, và đã đứng bên cạnh những người tay cầm loa phóng thanh, mồm không ngớt kêu gọi mọi người hãy treo cờ Phật giáo từ ngày 29/3/1975, cho đến ngày 30/04/1975, tại thành phố Đà Nẵng. Cũng như tôi đã chứng kiến qua những cuộc thảm sát mà Phật giáo Ấn Quang đã gọi là những « cuộc đấu tranh » đến nỗi Trời long, đất lỡ !!!

AI ĐÃ RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?

Tôi sinh ra và trưởng thành trong một gia đình có Đức Tin, tôi tuyệt đối tin vào Đấng Toàn Năng, tức Ông Trời của người Việt Nam. Bởi vậy, khi đặt bút viết, hoặc khi nói một điều gì là tôi đã tự đặt mình như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng. Vì thế, tôi không bao giờ viết hay nói một điều gì sai với sự thật cả.

Tôi đã sống qua những ngày tháng kinh hoàng nhất tại Đà Nẵng . Đặc biệt, là những ngày cuối cùng trước khi ĐN rơi vào tay của cộng sản. Tôi đã nghe lời kêu gọi của HT Thích Đôn Hậu phát đi từ « Đài Phát thanh Giải phóng » và được truyền thanh tại chùa Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm ĐN, đã phát ra lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như sau :

« Tôi Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đại diện Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam – Đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam,- và Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh ( miền Trung). Tôi long trọng tuyên bố : Kể từ giờ phút này, GHPGVNTN đã hoàn thành sứ mạng của lịch sữ. Vì vậy, tôi yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo, nếu nhà nào không có, thì hãy đến mua tại các chùa, để chào mừng cách mạng đã thành công và cũng để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ».

Tại Đà Nẵng vào thời điểm ấy, khi nghe những lời kêu gọi của « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu như trên, mọi người ai cũng hiểu là « Hòa thượng » Thích Đôn Hậu vừa kêu gọi vừa cảnh cáo ngầm rằng « … để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ». Nghĩa là : Ai không treo cờ Phật giáo là chống cộng sản.

Vì thế, nên nhiều người bình thường họ chỉ thờ cúng ông bà hoăc Khổng giáo ; song vì muốn yên thân nên đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ nhưng cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

b] TẠI SAO THÍCH ĐÔN HẬU RA LỆNH TREO CỜ PHẬT GIÁO ?[/b]

Bởi Thích Đôn Hậu đã từng được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được Hồ Chí Minh tin cậy và nhất là đã « lập nhiều chiến công dâng Bác » nên đã cậy vào những « công lao » to lớn ấy lại thêm « phật tử » đông đão, nên Thích Đôn Hậu nhất định phải tóm thâu hết mọi quyền hành trong tay. Như mọi người đã thấy, ngay Võ Nguyên Giáp mà cho đến nay sắp chết rồi, Việt cộng mới chuẩn bị vinh danh sáu mươi năm làm tướng và trao « Ấn kiếm » tượng trưng ; song suốt sáu mươi năm làm tướng mà Võ Nguyên Giáp cũng chỉ có hai cái phần thưởng là : Huân Chương Sao Vàng và Huân Chương Hồ Chí Minh. Còn Thích Đôn Hậu cũng được Hà Nội ban thưởng : Huân Chương Hồ Chí Minh ngang bằng với Võ Nguyên Giáp. Ngoài ra, Thích Đôn Hậu còn có Huân Chương Độc Lập- Huân Chương Vì Sự Nghiệp Đại Đoàn Kết Toàn Dân, cộng thêm với quá nhiều chức tước mà tôi đã kể qua trong bài Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân.

Chính vì thế, nên Thích Đôn Hậu muốn tranh và cướp quyền với cộng sản Hà Nội. Chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho các « chùa » phải sắm sẵn nhiều cờ để đem ra treo tràn ngập tại Huế. Bởi Thích Đôn Hậu đã tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không tái chiếm nỗi thành phố Huế, để nói với dân miền Nam rằng : Phật giáo Ấn Quang đã chiến thắng. Để mọi người kể cả cộng sản Hà Nội cũng phải thần phục, vì Việt Nam có đến tám- chín mươi phần trăm là Phật tử (ma). Nhưng, Thích Đôn Hậu và cả Phật giáo Ấn Quang đã không lượng được tài sức của mình, có lẽ vì thấy đã từng « thành công » qua những cuộc bạo loạn đầy máu lữa tại miền Trung, nên cứ tưởng rằng cũng sẽ áp đảo được việt cộng trong biến cố Mậu Thân, 1968 tại Huế. Nhưng Thích Đôn Hậu và cả Ấn Quang đã lầm ; vì cộng sản Hà Nội chúng cao tay hơn nhiều, nên những ngày đầu khi Thích Đôn Hậu ra lệnh treo cờ Phật giáo tại Huế , thì Việt cộng đã thấy rõ mưu đồ của Phật giáo. Vì thế, Việt cộng đã ra lệnh phải hạ cờ Phật giáo ngay, và treo cờ của « Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam ».

Nhưng cuồng vọng ấy Phật giáo Ấn Quang cũng không từ bỏ, nên từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 tại Đà Nẵng ; Thích Đôn Hậu cũng ra lệnh treo cờ Phật giáo và Ra lệnh cho Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa phải đến trình diện tại chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, là « Trụ sở Ủy ban Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng » , rồi cũng cấp giấy trình diện cho các vị ấy, để rồi sau đó Phật giáo Ấn Quang đã bị những cán bộ cao cấp của đảng cộng sản như : Hoàng Châu Ký, Hoàng Văn Lai, Trần Thận … chửi như tạt nước vào mặt cũng tại chùa Pháp Lâm này. Người dân Đà Nẵng vẫn nhớ vào ngày 18/05/1975, chính Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho đồng bào tại Đà Nẵng và các vùng lân cận : « Mỗi gia đình ít nhất phải có một người để cầm đèn đuốc đi diễn hành trong đêm 18 rạng ngày 19/05/1975, để mừng sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc » ; mà tôi đã viết qua trong bài 30/4/1975, Máu Và Nước Mắt.

Song những bài học xương máu ấy, vẫn không làm cho Phật giáoẤn Quang chịu từ bỏ cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Mặc dù mỗi ngày những Phật tử chân chính họ càng thêm sáng suốt, họ nhận ra những hành vi của các « thầy ». Vì vậy, mà một số đông khi vào tù cải tạo của việt cộng, trong những tháng năm dài bị hành hạ, khổ đau trong lao lý họ đã suy nghiệm được tất cả, ;và họ đã quyết định tu tâm, tu tại gia chứ không dám tới chùa chiền nữa. Một số đông các vị đã trở thành những tín hữu TCG, trong đó có Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng quận Đức Dục, Ông đã xin ba vị Linh Mục đó là : Linh Mục Vũ Dần- Linh Mục Tống Kiên Hùng và Linh Mục Đặng Đình Canh để được học giáo lý ngay trong nhà biệt giam 2.79 ( Đồng Mộ ), Tiên Phước, Quảng Nam.

Chẳng những thế, mà giờ đây tại Đà Nẵng, ngay những Phật tử mà trước đây họ từng nghe lời xúi dục của các « thầy », họ đã lên với xuống đường, từng là « Thanh niên Phật tử quyết tử … » . Nhưng giờ đây, chẳng những họ không đến chùa, mà họ còn đem tất cả các bài học xương máu của ngày xưa để kể lại cho con cháu nghe, và khuyên con cháu họ đừng bao giờ đến chùa , vì họ sợ con cháu của họ sẽ rơi xuống vực sâu của tội ác.

Và cũng chính vì thế, tôi muốn nói với các thầy, thôi đừng mơ mộng đến một cuộc đấu tranh cái kiểu bê bàn Phật xuống để đầy đường như mùa hè 1966. Đừng kêu gào đến dân oan vô ích, bởi những người đó nếu quả họ có oan thì họ cũng chỉ đòi hỏi sự công bằng, chứ chẳng có ai đi tranh đấu để tranh quyền, đoạt lợi dùm cho các thầy đâu. Không phải bây giờ, mà cả sau này không còn cộng sản, hay cho đến muôn nghìn kiếp sau cũng vậy.

[LỰC LƯỢNG HÒA HỢP-HÒA GIẢI : KHỦNG BỐ VÀ GIẾT NGƯỜI.

Như mọi người đã thấy, hầu hết các cuộc tấn công của cộng quân tại miền Nam là các « thầy » đều biết trước và chuẩn bị mọi sự một cách chu đáo, trong đó phải có sẵn thật nhiều cờ Phật giáo ở các « chùa ». Để rồi dưới ngọn cờ ngũ sắc kia là cả một đoàn quân với sắc mặt lạnh lùng, đằng đằng sát khí, chỉ biết khủng bố và giết người, không hề biết động lòng xót thương trước những lời khẩn cầu của những người mẹ, người vợ và những đứa con thơ dại đang quỳ dưới chân họ vừa khóc, vừa lạy, để xin tha mạng cho chồng, cho con của họ!!!

NGÀY GIỖ THỨ 33 CỦA CÁC NẠN NHÂN ĐÃ CHẾT DƯỚI BÀN TAY CỦA PHẬT GIÁO THÔNG NHẤT (ẤN QUANG). .

Đến đây, nhân ngày giỗ lần thứ 33 của các nạn nhân đã chết thảm dưới bàn tay của « Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo » tại Đà Nẵng. Tôi xin phép các bậc phụ huynh cho tôi được nhắc lại những cái chết của các vị ấy kể từ ngày 29/03/1975 đến 30/04/1975 :

Trước hết là Thiếu tá Trần Quốc Dân, trước năm 1954, ông ở trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc giữ cấp bậc Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, Trung đoàn phó là Nguyễn Chơn. Năm 1962, Trung doàn Sao Vàng vào Nam, khi bắt được sự liên lạc lạc với một người của Ông Ngô Đình Cẩn, nên trong một lần giao tranh với quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Đại Lộc, Quảng Nam, ông Trần Quốc Dân đã trốn và vượt qua sông Thu Bồn về được Đà Nẵng. Sau đó, ông được người của ông Ngô Đình Cẩn đưa vào Sài Gòn, và ông đã gặp được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông kể với người thân :

-« Tôi muốn vào Sài Gòn để trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì chỉ có Tổng Thống mới hiểu được những người tham gia kháng chiến và đặc biệt là trường hợp của tôi. Và tôi đã nghĩ đúng. Vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày nguyện vọng của tôi thì Tổng Thống đã dạy rằng : Tôi hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, nhưng thôi vì danh dự của Quân Đội Quốc Gia, em hãy nhận quân hàm Thiếu tá.

Tôi xin được ra chiến đấu nhưng Tổng Thống bảo :
– Không được, hãy về tìm thân nhân để đoàn tụ trước khi nhận công tác.
– Và Tổng Thống nói, vì biết tôi trở về với hai bàn tay trắng, không nhà cửa để nương thân, nên chính từ tay củaTổng Thống đã ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng ( tiền VNCH) để tạo điều kiện cho tôi tái lập gia đình ».
– Trở về Đà Nẵng sau một thời gian ngắn ông Dân mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cưới vợ. Sau đó ông làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị bọn Hội đồng Gian nhân phản loạn giết chết. Là người cứng cỏi nhưng ông Dân đã rơi nước mắt, ông kêu lên :
« Thế là hết, Ngô Tổng Thống không còn nữa thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống ».
Sau một thời gian ông lại tâm sự với người thân :
« Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nước, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ ».

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ với giấy chứng nhận của Bác sĩ vì bệnh tật. Đã bao nhiêu năm qua rồi, nhưng tôi vẫn không hề quên những lời của ông đã kể như sau :

« Vì muốn tiếp tục phục vụ đất nước nên sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi muốn gia nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tôi nhận thấy tại Quảng Nam-Đà Nẵng có hai phái dù hoạt động riêng ; nhưng cũng đều nhân danh là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trước hế, là một lực lượng đông đão có hệ thống, kỹ cương trong đó có : Biệt Kích Quân Tây Hồ, Biệt Chính Nhân Dân, Lực Lượng Tình Báo Tác Chiến, Trung Tâm Dân Ý Vụ và Thanh Niên Đoàn Miền Trung …( Các lực lượng này được hưởng ngoại viện) tất cả đều trực thuộc Trung Ương Pháp Định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

Lực lượng này không bao giờ tham gia vào những cuộc đấu tranh-biểu tình- mang bàn Phật xuống đường của Phật giáo Ấn Quang, mà còn tiếp tay với chính phủ một cách đắc lực không cho Phật giáo chiếm Huế và Đà Nẵng để lập thành lập « Chính phủ Miền Trung » theo chỉ đạo của cộng sản Hà Nội ; và một nhóm thứ hai là Kỳ Đảng Bộ Trung Việt, thường được gọi là Kỳ bộ Trung Việt , hoặc là Kỳ bộ ; nhóm này cũng xưng là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng luôn ủng hộ và tôn vinh ông Nguyễn Tường Tam là lãnh đạo của Đại Việt Dân Chính. Rất nhiều người đã biết ông Nguyễn Tường Tam vì muốn đứng ké dưới hào quang của anh hùng Nguyễn Thái Học, nên đã có liên minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng do cụ Vũ Hồng Khanh, cụ Nghiêm Kế Tổ và cụ Chu Bá Phượng lãnh đạo một thời gian ngắn ; mục đích là để cướp quyền lãnh đạo của Việt nam Quốc Dân Đảng Chính Thống, nhưng không thành. Sau biến cố Ôn Như Hầu, tháng 3/1946, cụ Vũ Hồng Khanh đã rút quân lên vùng Bùi-Phát và đã được Đức Cha Lê Hữu Từ và Giáo dân giúp đỡ phương tiện, kể cả việc cung cấp thực phẩm để thành lập Chiến khu Cao-Bắc-Lạng để chiến đấu với cộng sản. (Bởi Ân Đức ấy, nên khi Đức Cha Lê Hữu Từ tạ thế, chính Tướng Siêu Hải Vũ Hồng Khanh, Nguyên Tư lệnh Chiến khu Cao-Bắc-Lạng, đương kim Chủ tịch Trung ương Pháp định đã ra lệnh cho tất cả đảng viên VNQDĐ trên toàn quốc đều làm lễ Truy điệu và chịu tang).

Còn ông Nguyễn Tường Tam ngay sau biến cố Ôn Như Hầu đã rút lui khỏi liên minh và cùng một nhóm Đại Việt Dân Chính đã chạy trốn sang Tàu… Vì vậy, đương nhiên kể từ lúc đó, tháng 3/1946, là ông Nguyễn Tường Tam đã trở lại với Đại Việt Dân Chính. Nhưng tiếc rằng, vẫn có nhiều người vì không thấu đáo mọi chuyện, nên đã lầm tưởng ông Nguyễn Tường Tam là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tại miền Trung, người ta biết ông Nguyễn Tường Tam đã đứng đàng sau nhiều người.

Trước hết, là ông Lê Đình Duyên cựu Quận trưởng quận Duy Xuyên, Quảng Nam, ông Lê Đình Duyên đã mang con dấu quận trưởng đem trả cho chính phủ, kế đến là ông Phan Thiệp, quận trưởng quận Tam Kỳ, người thứ ba là ông Phan Vỹ, quận trưởng quận Thăng Bình. Cả ba người này sau khi đem trả con dấu Quận trưởng họ đều rút ra bưng cùng một số đảng viên thành lập ra Chiến Khu Nam-Ngãi, để chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Ông Lê Đình Duyên là con ruột của Bác sĩ Lê Đình Thám là người Quảng Nam, là một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã tập kết ra Bắc ; song ông đã hồi kết, và vẫn như bóng vời hình tại miền Nam, đặc biệt là tại miền Trung. Chính Bác sĩ Lê Đình Thám là người đã đẻ ra cái gọi là « Gia đình Phật tử », là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Hà Nội. Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Bác sĩ Lê Đình Thám, cộng thêm với cảm tình với ông Nguyễn Tường Tam là người gốc Quảng Nam, nên nhóm này đã lôi kéo được một thiểu số đảng viên của Cụ Vũ Hồng Khanh ra chiến khu. Chính điều này, đã đưa Cụ Vũ vào một thế vô cùng khó xữ… Song sau đó nhờ sự sáng suốt của Ông Ngô Đình Nhu mà đa số những người này đã tự ý rời bỏ « Chiến khu Nam- Ngãi » trở về làm việc lại như cũ, chứ Chiến khu Nam- Ngãi không hề bị quân đội VNCH tấn công như những lời tuyên truyền xuyên tạc của Phật giáo. Chỉ có một thiểu số vẫn trung thành với hai ông Nguyễn Tường Tam và Lê Đình Thám mà thôi. Vì vậy, nên cuối cùng tôi quyết định xin cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh, bởi tôi không bao giờ chấp nhận những hành vi của đảng Đại Việt Dân Chính do ông Nguyễn Tường Tam lãnh đạo ».

Chức vụ cuối cùng của ông Trần Quốc Dân là một trong bốn Phó Chủ tịch Thành bộ Hợp nhất Đà Nẵng. Vào ngày 24/03/1975, trong lúc Đà Nẵng chưa mất, nhưng Lực lượng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo kiểm soát Thành phố Đà Nẵng rồi. Trong lúc ông Dân chuẩn bị đưa vợ con di tản, thì bất ngờ hai ông Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận nhì ( cả hai là cố vấn của LLHHHG thị bộ Đà Nẵng) đã dắt theo một đám thanh niên Phật tử có vũ trang đến nơi ( sau này tất cả đều trở thành công an VC). Hai người vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói :

« Chúng tôi ban lãnh đạo Lực lượng hòa hợp-hòa giải thị bộ Đà Nẵng mời ông lên chùa tỉnh hội ( chùa Pháp Lâm) để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đúng trong lòng dân tộc ».

Nói là « mời » nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông này, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác hơn nên ông Dân đành phải theo chúng lên « chùa ».

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy nên vợ ông đã dắt hai đứa con nhỏ của ông lên « chùa » Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm để xin gặp mặt chồng, nhưng đội « An ninh Phật tử » chặn ngay ngoài cổng không cho vào. Vợ ông khóc lóc van lạy thế nào cũng không được nên đành dắt con trở về.

Ngày 30/03/1975, khoảng 10 giờ sáng, Ủy ban Hòa giải Phật giáo đã đưa ông Trần Quốc Dân đi từ « chùa » Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị viên chức chính quyền, các cán bộ Nghiệp đoàn lao công và các đảng viên VNQDĐ, trong cuộc bạo loạn mang bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966, khi áp giải các vị nói trên đến nhà tù ( chùa) Phổ Đà ở số 340, đường Phan Châu Trinh ĐN. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế mà vẫn chưa đủ mà « An ninh Phật tử » còn cầm súng đi kèm. Thấy ông Trần Quốc Dân bị chúng áp giải trên đường phố, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là « Ủy ban Phật giáo Áp giải ».

Ngày 03/03/1975, khoảng 9 giờ tối, Nguyễn Chơn, tướng VC, đã cùng mấy tên cận vệ đến nhận ông Trần Quốc Dân tại nhà giam rồi dẫn ông ra khỏi trại. Đến sáng hôm sau, người ta phát hiện ông Trần Quốc Dân đã chết, xác ông được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng ; và trên thân thể của ông có nhiều vết đạn. Ai cũng hiểu rằng những vết đạn ấy là do chính Nguyễn Chơn đã bắn chết ông Trần Quốc Dân.

Điều đáng nói không phải là chuyện Nguyễn Chơn xử tử ông Trần Quốc Dân, bởi Chơn là cộng sản thì giết người là chuyện bình thường. Mà điều đáng phải lên án là cái « Lực lượng Hòa hợp- Hòa giải Phật giáo », đã theo lệnh của Việt cộng là phải bắt ông Trần Quốc Dân giam trong chùa Pháp Lâm từ ngày 24/03/1975 , để chờ giao cho Nguyễn Chơn để xử bắn. Ngoại trừ cộng sản, không ai có thể chấp nhận được những việc làm tàn ác này của Phật giáo Ấn Quang. Bởi, nếu Phật giáo không sai Thích Như Ký và Huỳnh Phổ Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN, đến bắt ông Trần Quốc Dân đem giam tại chùa rồi đem nộp mạng cho Nguyễn Chơn, trong lúc ông sữa soạn đưa vợ con di tản, thì biết đâu có thể ông đã ra hải ngoại, hoặc vào tù cải tạo, hay chết trong tù chứ không chết một cách tức tưởi như thế !!!

Sau khi ông Trần Quốc Dân đã chết bọn VC đã xông vào nhà ông dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà. Vợ ông chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt hai đứa con thơ về nương tựa với mẫu thân tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

(còn tiếp)

HÀN GIANG TRẦN LỆ TUYỀN

http://www.dangvannham.com/modules/news/article.php?storyid=299

June 3, 2009 Posted by | TỘI ÁC ĐẪM MÁU CỦA GIÁO HỘI PGVNTN ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC | | Leave a comment

30-04-1975: Máu và Nuớc Mắt – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

30-04-1975: Máu và Nuớc Mắt – Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30- 04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng. Ngày 29/03/1975.

Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam – Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai « thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt”.

Tiếp theo, Thích Như ký nói:

« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn”.

« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », Nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản. Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »

Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại”.

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

Sau đó, “Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo” đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »

Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »

Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »…cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, Nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác.

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

“Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:

Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống”.

Ông trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:

“Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống”.

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:

“Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ”.

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám “Thanh niên Phật tử” có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

“Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử”.

Nói là “mời” Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị QCCVNCH, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội “An ninh Phật tử” còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là “Ủy ban Áp giải”.

Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.

Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chon là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chon đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chon lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chon (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chon xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.

Sau khi ông Dân chết, bọn “An ninh Phật tử” đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là “Nhà của Diệm”.

Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của “Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang”:

Tối 29-03-1975, Đội “An ninh Phật giáo” Đà bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:

1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội “Dư đảng Cần Lao”.

2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.

3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội “Dư đảng Cần Lao”.

Lúc “Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên Đà bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn “Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!

Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vuợt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?

Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ “An ninh Phật giáo” Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:

“Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà”.

Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn “An Ninh Phật Tử” liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.

Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.

« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »:

Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phuờng Thanh Bồ – Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng.

Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »

Đối với Quân, cán, chính VNCH đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.

Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ – Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:

« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sì quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu”.

Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15… vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:

” Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách”.

Đến nuớc này, thì các vị không có “súng ngắn” chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho “Lực Luợng An Ninh phật Giáo” đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây “súng ngắn” trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái “Giấy chứng nhận trình diện” của “Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải”. Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù “cải tạo” T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây… súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây… súng ngắn nữa không???

Việt Cộng trả công cho “Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang”:

Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH Đà giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; thì Lực luợng Hòa hợp – Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời “Ủy ban Quân quản” đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:

« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!”.

Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.

Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:

“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.

– Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.

– Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.

Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của “Ủy ban quân quản”, có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:

« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị”.

Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!

Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:

Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đinh Phật tử Quảng Nam – Đà Nẵng ».

” Chính quyền Phật Giáo”:

Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phuờng, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.

Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức Đà giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu nhu sau:

« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phuờng, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».

Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:

« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »

Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cuời lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:

« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được Nhưng không được cầm quyền”.

Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:

Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam – Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng Đà ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». “Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải ” đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:

« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.» thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô …hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô: « Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc”, thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »

Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cuời một mình.

Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:

«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?» thì có tiếng của đồng bào đáp trả: « hoan hô… hoan hô… »

Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:

« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »

Đồng bào lại hô « đả đảo … đả đảo …». Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có « hoan hô » với « đả đảo » cái… gói cơm.

Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:

«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai… làm… rớt… gói… cơm… thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? » Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».

Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:

” Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại”

Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.

Khi đến đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:

“Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».

Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.

Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:

« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.

Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do …tự do… ».

Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ … tự do!!!

Trong lúc y còn nói chuyện, Nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.

“Trại Cải Tạo T.154”:

Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi Đà bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC Đà cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành “Trại cải tạo T.154”, để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước muời năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.

Sau đó, khi đưa tất cả các vị QCCVNCH đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua Tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp duỡng ( nhà bếp) một trạm xá. Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài: Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng, Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng, Linh mục Nguyễn Đình Ánh. Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, Nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại “Lập biên bản” để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam – nữ tù đều biết tất cả.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, » nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chuớc « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải “đạt chỉ tiêu”. Nói tóm lại làm việc gì cung phải « đạt chỉ tiêu » hết.

Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía… Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn “không đạt chỉ tiêu”. Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, Nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả

Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:

-Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trể, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông Đà lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.

– Đại úy Nguyễn Phuợng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên Tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!

-Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ Đà lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!

– Chúng tôi cũng đãà chứng kiến tại “Đồng Cừ”, hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại “Đồng Cừ”, cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để dấu đi những dòng nuớt mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.

– Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.

Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.

– Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình … Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, Nhưng ông không thể ung dung để huởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!

– Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».

Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế » Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đinh nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói.. Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức.Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thu vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hung người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.

Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao Thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.

Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng nhu lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.

Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đa4 tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, Nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn Đàu của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù “cải tạo”!!!

Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà “Biệt giam 2.79” tức Đồng Mộ và nhà “Biệt giam Nhà Trắng” cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bênh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, Nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.

Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!

Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đãà tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.

Tạm thay lời kết:

Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ – Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phuờng lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_30041975MAUvaNUOCMAT.htm

June 3, 2009 Posted by | 30-04-1975: Máu và Nuớc Mắt - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền | | Leave a comment