ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

GHPGVNTN – Thích Đôn Hậu – Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài 1968

GHPGVNTN- Thích Đôn Hậu – Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài 1968 from ditmehochiminh on Vimeo.

http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/05/ghpgvntn-thich-on-hau-giet-ong-bao-hue.html

June 1, 2009 Posted by | GHPGVNTN- Thích Đôn Hậu - Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài 1968 | , , , | Leave a comment

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!” (9 – end)

CON ĐƯỜNG ĐẠO (9 end)

Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

Bách Linh

oo0oo

23. Một vài suy nghĩ về tự do, dân chủ trong tương laị Cần phải chú trọng đến vấn đề ma đầu lưu manh toan tính đoàn ngũ hóa các tầng lớp dân chúng, nhất là thanh thiếu nhị

Thượng tọa Thích Minh Tuyên của GHPGVNTN đã tổ chức Đại Hội Thế Giới Cư Sĩ Phật Tử Việt Nam trong 3 ngày 6, 7 và 8/1996 tại Hoa Thịnh Đốn. Đại Hội phật tử này có đến 4 cương lĩnh… tổ chức và chính trị! Đáng kể nhất là trong Cương Lĩnh số 2 Thích Minh Tuyên khẳng định phải “đoàn ngũ hóa” các tầng lớp phật tử hải ngoạị Trong cái gọi là Cương Lĩnh số 4, Thích Minh Tuyên có tham vọng đoàn ngũ hóa luôn tất cả các tôn giáo, đoàn thể, và các tổ chức quốc tế thành một khối do Tổng Hội Cư Sĩ Phật Tử Thế Giới của y cầm đầu, điều khiển. Tham vọng của Thích Minh Tuyên đã xì hơi, thất bại vì bị lật tẩỵ

Sự kiện trên đây chứng tỏ thủ doạn thông thường và cốt lõi của đảng Cộng sản, GHPGVNTN và bất cứ tổ chức nào có dã tâm khống chế người Việt Nam, là đoàn ngũ hóa tất cả mọi người, mọi giới, cả nam lẫn nữ, từ thiếu nhi đến lão nhân, trong nhiều tổ chức có vẻ tầm thường, bình dân, vô hại, để rồi tập trung vào những cái gọi là mặt trận liên minh, thống nhất.

Từ đó, những cán bộ gộc, những tên đầu sỏ sẽ tự phong những danh xưng oai vệ, hách dịch, để chúng biến thành những người “khổng lồ”. Chúng sẽ được sự cung kính, sợ sệt của các cá nhân nhỏ bé trong tổ chức. Chúng sẽ điều khiển họ như… lính cảm tử cuồng tín để liều mạng, liều chết cho các mục tiêu khuynh đảo chính quyền quốc gia, và các mục tiêu chính trị và cướp chính quyền. Rồi chúng gọi những người chết cho chúng là “hi sinh vì đạo pháp”, là “thánh tử đạo!”

Nước Việt Nam độc lập tự do trong tương lai sẽ phải chăm lo đến tự do hạnh phúc của toàn khối dân tộc, gồm hơn 80 triệu người đang trên đà gia tăng với nhiều sắc dân. Các chính quyền quốc gia Việt Nam không thể để cho một thiểu số lưu manh ma đầu, ma giáo quốc doanh núp dưới bóng tôn giáo để khuynh đảo quốc gia dân tộc, xâm phạm đến quyền tự do và sự an sinh của nhân dân, và đe dọa sự trường tồn, đoàn kết của dân tộc và quốc giạ

Tất cả mọi tội ác gian manh của Cộng sản và các tổ chức và nhân sự ngoại vi Cộng sản trong GHPGVNTN và Mặt Trận Tổ Quốc phải được chép thành sử sách để truyền lại cho đời saụ Cần phải ngăn chận bọn lưu manh, ma đầu chính trị núp dưới bóng tôn giáo và đảng pháị Chúng có thể làm bất cứ cái gì, kể cả mượn thế lực, tiền bạc ngoại bang để đánh phá chính quyền quốc gia và nền độc lập, tự chủ và tự do của Việt Nam một lần nữạ Tóm lại đảng Cộng sản Hà Nội, tập thể GHPGVNTN và các tổ chức phụ thuộc, các tăng ni quốc doanh, các nhân sự trong các tổ chức ngoại vi Cộng sản trong Mặt Trận Tổ Quốc, các tổ chức Cộng sản trá hình… đều phải được đặt ra ngoài vòng pháp luật.

* * *
Trong nước Việt Nam tự do và độc lập sau này sẽ chú trọng ngăn cấm mọi hình thức “đoàn ngũ hóa” (regimentation) để kiểm soát và điều khiển tư tưởng các thanh thiếu niên, thiếu nhị Một điều quan trọng trong Hiến Pháp của một nước Việt Nam tự do là cấm ngặt mọi hình thức đoàn ngũ hóa trói buộc công dân Việt Nam mọi lứa tuổi cho các mục đích chính trị, đảng phái, giáo hội, và chia rẽ sự đoàn kết dân tộc.

Đoàn ngũ hóa cũng có nghĩa là nô lệ hóa (subjugation, enslavement), xử dụng tổ chức, giáo hội, đảng phái như một phương tiện quyền lực khổng lồ để đè bẹp các cá nhân nhỏ bé. Các học sinh, sinh viên phải hiểu rằng không nên nhẹ dạ gia nhập bất cứ tổ chức chính trị, tôn giáo, hay giáo hội nào có tính cách bó buộc, đoàn ngũ hóạ Vì vào những tổ chức này là bị kẹt không thể rút rạ Các đoàn viên, hội viên hay đảng viên sau khi gia nhập, sẽ bị mê hoặc đến cuồng tín, sẽ bị dụ dỗ, ép buộc phải làm những việc sai trái với ý muốn, trái với lương tâm, nguy hiểm cho bản thân, làm hại người khác và phản bội tổ quốc dân tộc.

Mỗi người Việt Nam từ nhỏ đến lớn đều phải được hoàn toàn tự do trong một quốc gia độc lập, không bị trói buộc vào trong một tổ chức chính trị hay giáo hội nào có tính cách độc quyền, độc tài, chuyên chế và bịp bợm. Người Việt Nam không cho phép và không chấp nhận bất cứ ai “đoàn ngũ hóa” họ thành những đàn bò dễ bảo hay thành những đám đông cuồng tín, những lợi khí để phục vụ cho các mục đích chính trị đen tối của những tên ma đầu, lưu manh, tham tiền, tham dâm dục, tham quyền lực nhưng mặc áo thầy tu và núp dưới bóng tôn giáọ

Tất cả mọi người Việt Nam, nhất là thanh thiếu nhi, đều phải được tự do học hỏi, phát triển trong tinh thần đoàn kết và hòa hợp dân tộc. Mọi kỳ thị và phân biệt chủng tộc, tôn giáo, địa phương đều phải được xóa bỏ. Từ bậc trung học trở lên các học sinh, sinh viên đều phải học những bộ môn giáo dục thiết thực đến đời sống tâm linh, chính trị, kinh tế, xã hội và nền tảng gia đình.

Thí dụ trong bậc trung học, mỗi tuần phải có một giờ về triết học, triết lý tôn giáo, đường lối tu hành khác nhau của mỗi tôn giáo lớn, khoa học siêu hình, khoa học tâm linh, phát triển cơ thể và trí tuệ về hướng tâm linh, sự khác biệt giữa tôn giáo thiêng liêng và các giáo hội và giáo điều giáo luật do người phàm tục đặt ra, đạo làm người quân tử, thế nào là tiểu nhân, thế nào là Cộng sản gian ngoan, giảo quyệt, tàn ác, bịp bợm, lật lọng…

Các học sinh, sinh viên sẽ phải học và nghiên cứu tập quán, tục lệ truyền thống và nền văn minh cổ xưa của giòng giống Lạc Việt và của các sắc tộc địa phương. Cần phải hiểu tại sao Việt Nam lại có truyền thống thờ cúng tổ tiên? Truyền thống này có phải là mê tín dị đoan hay không? Có cần phải duy trì và tiếp tục truyền thống thờ cúng tổ tiên đã có từ 5 ngàn năm trước, lâu hơn cả nhiều thứ tôn giáo đương thờị
Cần phải học hỏi về luật lệ, luật quốc gia và các thứ luật và giáo lý, giáo luật riêng biệt của các đảng phái và giáo hộị Cần tìm hiểu tại sao quốc gia phải cần có luật pháp để bảo vệ công dân và các quyền lợi, quyền tự do công dân. Cần tìm hiểu tại sao những luật lệ do con người, không phải quốc gia, đặt ra lại có thể trói buộc những công dân Việt Nam trong vòng nô lệ tinh thần, tâm linh và bóc lột tiền bạc? Cần phải tìm hiểu tại sao những người cũng mang giòng máu Việt Nam lại trở thành những kẻ nội xâm, nội thù, đánh phá dân tộc, tổ quốc Việt Nam?

Một giờ học khác mỗi tuần sẽ dạy về các loại chính trị khác nhau Cộng sản Bắc Việt và các hoạt động chính trị núp dưới bóng tôn giáọ Phải tìm hiểu tổ chức chính trị theo các kiểu độc tài đảng phái công an trị, độc tài giáo hội công an trị, độc tài tham nhũng công an trị, độc tài gia đình gia nô công an tri.. Tại sao các chế độ độc tài phải áp dụng công an trị dưới nhiều hình thức và danh xưng. danh hiệu khác nhaủ

Tại sao những tên chính trị gia hoạt đầu (opportunists), mị dân (dimagoguis), những tên tham lam ngu dốt phải núp bóng tôn giáo để thành lập các “giáo hội chính trị”? Chúng chỉ nhằm nô lệ hóa, trói buộc con người về nhiều mặc xã hội, kinh tế. Chúng bắt tín đồ, đảng viên, phật tử đóng góp tiền tài, sức lực, nô lệ tinh thần và tâm linh, trong khi chúng vẫn vổ ngực hô to dân chủ, bình đẳng tự do với mục đích bịp bợm. Bọn ma đầu, ma giáo quốc doanh chỉ giỏi bịp bợm những người đang bị Cộng sản kềm kẹp nên ít học và ít suy nghĩ. Khi dân trí tiến bộ và văn minh như những người Việt hải ngoại hiện nay thì bọn ma đầu, ma giáo quốc doanh không thể bịp bợm.
Một giờ học khác sẽ dạy lịch sử về các hình thức xâm lăng đất đai thuộc địa, xâm lăng tinh thần và tín ngưỡng, xâm lăng vào trong tâm não người dân hiền lành và các thanh thiếu nhị Cần phải giáo dục học sinh và sinh viên hiểu rõ thế nào là đời sống dân chủ, tự do trong tinh thần yêu quê hương, tổ quốc, nòi giống, và sự kính trọng quyền tự do, dân chủ và tư hữu của người khác.

Chỉ cần phân tích và xử dụng một giai đoạn lịch sử trong 2 thế kỷ 19 và 20 để giáo dục, cũng đủ cho các học sinh, sinh viên Việt Nam có sự hiểu biết sâu rộng về chính trị đa diện và các sự tàn ác, gian ngoan, hiểm độc của các cuộc xâm lăng tinh thần, xâm lăng thực dân thuộc địa, xâm lăng và nội xâm của Cộng sản, bè lũ nội thù quốc doanh GHPGVNTN và các tổ chức phụ thuộc ngoại vi trong Mặt Trận Tổ Quốc Cộng sản.

Học đường và các trường đại học phải tổ chức các buổi tranh luận, đấu lý, phân tích giữa các nhóm sinh viên, học sinh (debating groups) về tự do, dân chủ, tôn giáo và nhiều đề tài khác. Nên đặt câu hỏi tại sao các đoàn thể, đảng phái, tổ chức, giáo hội lại có thể cướp mất quyền tự do dân chủ của người dân bằng cách đoàn ngũ hóả Phải chăng đoàn ngũ hóa cũng là một hình thức nô lệ hóa và cầm tù con người trong những luật lệ nhỏ hẹp, không phải luật lệ quốc giả Cần phải tranh luận về khả năng của các tổ chức, đảng phái, cá nhân, nhận tiền bạc và hậu thuẫn từ bên ngoài để khuynh đảo quốc gia, dân tộc và để cướp đi quyền tự do dân chủ của dân Việt qua nhiều hình thức, phương pháp khác nhaụ

Khi được giáo dục đầy đủ như vậy thì các thanh thiếu nhi sẽ trở thành những công dân sống trong tự do dân chủ với thông minh, sáng suốt, hiểu rõ phải trái, hiểu rõ sự thật của nhiều vấn đề. Họ sẽ có đức tin thật trong sáng và thánh thiện nơi các vị thiêng liêng mà họ thờ lạy tôn kính. Họ sẽ không bị mắc vào vòng mê tín, dị đoan và nhất là không tin theo những tên ma quỷ, ma giáo núp bóng tôn giáo và các vị Chân Sư thiêng liêng.

Tín ngưỡng và đức tin là đời sống riêng tư của mỗi ngườị Mỗi người đều có quyền lựa chọn bất cứ tôn giáo nào họ muốn khi đến tuổi trưởng thành. Không ai, kể cả chính quyền hoặc người hôn phối có quyền xâm phạm đức tin và tín ngưỡng riêng tư của mỗi cá nhân. Không ai có quyền dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc công dân Việt phải tham gia bất cứ giáo hội hay tổ chức nào có tính cách “đoàn ngũ hóa”.

Không ai có quyền dùng xảo ngôn, xảo ngữ để lừa gạt bịp bợm, lung lạc, lợi dụng thanh thiếu niên và công dân nước Việt Nam về mặt tiền bạc, quyền lực và thao túng chính tri.. Mỗi người Việt Nam đều có quyền sống tự dọ Không có cá nhân hay giáo hội, đảng phái, phe nhóm nào được quyền xâm phạm tự do cá nhân của công dân Việt Nam.

Tất cả tổ chức, hội đoàn nào muốn xin phép hoạt động phải được đặt thành vấn đề là có mục đích và dụng ý đoàn ngũ hóa hay không? Phải có quy chế và cam kết rõ ràng về danh xưng, danh hiệu, điều lệ, cương lĩnh cho mọi hình thức ra báo chí, phát thanh, truyền thông, lập hội, lập đảng chính trị và lập giáo hộị Mỗi người không có quyền tự đặt tên, hoặc xử dụng những danh xưng to tát, bất xứng và quá lố để khiến cho người khác tự nhiên phải xưng hô, xưng tụng mình với các danh hiệu đầy cao ngạo và lố bi.ch.

Không lẽ tự đặt tên mình hay đặt tên cho con mình là “Nguyễn Ông Nội” rồi bắt các người khác phải kêu mình hay con mình là “ông nội”? Không lẽ vừa mới cạo đầu, xuống tóc, mặc áo cà sa nhưng hỉ mũi chưa sạch mà khiến cho những bậc trưởng thượng lớn tuổi phải kính cẩn kêu mình là “thượng tọa”, “đại đức”, “”ông nội” và “thưa thầy xưng con”? nếu không có những biện pháp phòng ngừa ngay từ đầu thì một số người háo danh sẽ làm cho cả nước bị loạn danh xưng. Đi đến đâu ta sẽ chỉ thấy “đức nầy, ngài nọ, chư tôn đức”, cho chí đến Vô thượng sư sú ma, thượng đế, phật sống, thánh sống, thánh chết…

Tất cả những người dùng tên các danh nhân, anh hùng liệt sĩ trong lịch sử đặt tên cho con cái một cách hỗn láo với tiền nhân, với tổ tiên với người trưởng thượng đều không được làm giấy khai sinh. Tất cả những người, trong và ngoài giáo hội, đảng phái, tự đặt tên cho mình những danh hiệu, danh xưng có tính cách cao ngạo, phạm thượng đều không được tiếp xúc với chính quyền các cấp. Những người nào in vào danh thiếp những danh xưng tự phong, không có ở trong môn bài hay giấy phép hành nghề, dù để bịp bợm hay để cao ngạo, hãnh diện, đều phải đóng một khoản tiền phạt đặc biệt nặng nề.

Tại sao những người thích tự phong cho mình những danh hiệu to tát, oai vệ và cao ngạo một cách lố bịch như vậy, mà không biết ngượng? Có lẽ họ háo danh tới mức không còn liêm sỉ nữa chăng? Những người mang danh tu hành mà còn ham các danh xưng to tát thì không phải là tu hành thật sư.. Chỉ có ma quỷ mới thích được gọi bằng danh xưng, danh hiệu đầy cao ngạo, hỗn láo tới Trời, Phật, Thượng Đế.

Đức tính cao quý nhất của bất cứ người chân tu nào, kể cả các vị Chân Sư như Thích Ca và Jesus, đều là sự khiêm tốn, khiêm nhượng, nhã nhặn, từ bi, bác ái, độ lượng, vị thạ Nếu Đức Thích Ca hay Đức Jesus có hiện diện thì sự thánh thiện sẽ tỏa rộng như hào quang sáng ngờị Mọi người sẽ hiểu ngay các Ngài là siêu phàm và tự động cúi đầu cung kính các Ngàị Các Ngài không cần phải tự xưng danh Phật hay Chúạ

Các Ngài không cần cả đến sự cung kính của trần gian, thì cần gì phải có danh xưng oai vệ? Các Ngài chỉ cần độ hóa cho mọi người, bất cứ người nào, không phân biệt tôn giáo và giáo hội, khi họ cầu khẩn các Ngài để được sự cứu giúp, ân độ về đường tu hành, tiến hóạ Các Ngài không bao giờ có ý định lập các tôn giáo hay giáo hội riêng biệt, Các Ngài không bao giờ muốn đoàn ngũ hóa và nắm giữ tinh thần mọi ngườị “Tự do Tinh thần, Tư tưởng và Tin tưởng” và tiến tới sự Giác Ngô…. là mục đích chính yếu của sự tu hành và lý tưởng cao siêu của các vị Chân Sự

Các vị Chân Sư không bao giờ và không cần phải hiện thân cho mọi người thấỵ Sở dĩ mọi người không thể thấy được sự hiện diện của các Ngài vì các Ngài chỉ là Ánh Sáng chói lòa với sức rung (vibrations) cao đô.. Đôi khi những trẻ nhỏ ngây thơ có thể nhìn thấy vì chúng còn trong sạch, vô nghiệp và được ân độ đặc biệt để gia tăng sức rung, để có thể thấy hoặc nghe… các Ngài không cần hiện diện, ra mặt, hiện thân như một lãnh tụ tôn giáọ Mọi người chỉ cần noi theo gương tinh thần của các Ngài là đủ.

Chỉ có ma quỷ Cộng sản, ma quỷ các loại, quỷ ngạo mạn, quỷ vô thường, quỷ tham và các ngạ quỷ mới cần đến những danh hiệu tự phong một cách cao ngạo, hỗn xược và phạm thươ.ng. Ma quỷ thích hiện diện ra mặt với mũ cao áo đẹp để gây sự cung kính cho mọi ngườị Chúng giấu giếm sự ngu dốt, phàm tục, đầy tham lam, tội ác và không có quyền năng siêu phàm của chúng. Chúng thích thú làm cho người đời phải kính sợ chúng qua những danh xưng oai vệ với sự cung kính vái lạy, khấu đầu, và đưa tiền cho chúng tiêu!

* * *
Nước Việt Nam sau này muốn được ổn định, thái bình thì phải có những luật lệ nghiêm minh, rõ ràng để bảo vệ quyền công dân, quyền tự do sinh sống, quyền tư hữu, quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do di chuyển, lựa chọn chỗ cư trú… Phải có sự phân biệt và chia cách rõ ràng giữa các giáo hội và quốc gia (Separation of church and state). Phải có sự bảo vệ quyền tự do phát triển và tinh thần, thể xác cá nhân các công dân.

Báo chí, truyền thông, học đường, các cơ quan hành chính và các tổ chức hội đoàn cần phải thường xuyên lố bịch hóa, khôi hài hóa những danh xưng hỗn xược, ngạo mạn quá lố để răn đe và ngăn ngừa những kẻ kiêu căng, tự đắc, cao ngạo và thích tự tôn.

Cũng cần phải có luật nghiêm cấm mọi sự xâm phạm các quyền tự do, tài sản và sinh mạng của mỗi công dân. Mỗi tờ báo hay đài phát thanh, mỗi hội đoàn hay tổ chức, mỗi đảng phái chính trị hay giáo hội đều phải có những điều lệ về tổ chức, danh xưng, danh hiệu, điều hành, sổ sách, kế toán, thu nhập, thuế má, và các đòi hỏi quy định về luật pháp, hành chánh… trước khi được cấp giấy phép. Các tổ chức, giáo hội nào nhận tiền của người ngoại quốc hoặc vận động thế lực ngoại quốc để khuynh đảo chính trị quốc gia đều phải chịu tội phản quốc, phản bội dân tộc.

Không thể có chuyện treo đầu dê, bán thịt chó! Không thể vổ ngực tự xưng tu hành, rồi lập giáo hội làm chính trị, đoàn ngũ hóa, xách động tín đồ phật tử vào con đường tranh đấu chính trị, đánh phá dân tộc, tổ quốc và chính quyền quốc giạ Các giáo hội phải có điều luật trừng trị giáo chức, tu sĩ, tăng ni phạm giới, tham dâm, tà dâm, tham tiền và phải đóng tiền phạt thật nặng cũng như bồi thường thật nặng cho các nạn nhân. Phải có biện pháp trừng phạt đối phó với những tu sĩ đưa ra những bài giảng hay thuyết pháp có tính cách chính trị, xách động quần chúng, để gây rối loạn.

Những tên ma đầu, ma giáo quốc doanh, lưu manh chính trị luôn miệng đòi tự do cho hội đoàn của chúng. Chúng không bao giờ nghĩ đến tự do của dân tộc, của tổ quốc và của những người khác trong nước. Chúng không bao giờ tôn trọng quyền tự do cá nhân và quyền công dân của mỗi ngườị Miệng chúng hô hào tự do dân chủ, tự do tôn giáo nhưng chúng vẫn thích đoàn ngũ hóa mọi người dân để đưa họ vào vòng nô lệ chính trị, nô lệ tôn giáo, và để chúng lợi dụng trong các mục đích gian manh.

Bọn tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang xúi dại những người trẻ tuổi chết cho các mục đích chính trị lưu manh của chúng. Chúng gọi đó là “tranh đấu”. Chúng đẩy những người chết cho mục đích đánh phá chính quyền, rồi chúng gọi họ là “hi sinh vì đạo pháp”, là “cúng dường Tam Bảo”, là “Thánh tử đạo”, là “bồ tát”, “bồ tát tại gia”… Bản thân chúng thì chỉ nói láo, nói bịa đặt, và thu tiền của Phật tử cho đầy túi tham, chứ chẳng thấy tên nào “hi sinh vì đạo pháp”!

Khi Thích Trí Quang nhận tiền của tướng Khánh, tướng Kỳ, y có chia chác cho tăng ni hay phật tử nào không? Hay y gởi ra chiến khu tiếp tế cho đặc công Cộng sản để giết người Việt? Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang đã hô rằng sẽ liều mình vì đạo pháp! Sư quốc doanh Thích Không Tánh, Thích Nhật Liên, Thích Hạnh Đức, Thích Nhật Ban… đã hô tuyệt thực cho đến chết biết bao nhiêu lần… để rồi vẫn sống nhăn!

Toàn thể nhân dân Việt Nam phải được hướng dẫn, giáo dục, học hỏi rõ ràng về tự do, dân chủ, nhân quyền và các quyền hạn, quyền lợi và bổn phận công dân. Khi mỗi người dân hiểu biết được thế nào là sống trong tự do dân chủ, thế nào là độc tài công an trị, thế nào là bịp bợm, mị dân, thì những tên chính trị hoạt đầu, những tên lưu manh, ma đầu, ma giáo quốc doanh sẽ không thể hoạt động chính trị bịp bợm được nữạ

Đứng trước sự đe dọa xâm lăng thường xuyên từ phương Bắc, dân tộc Việt Nam phải giữ vững cái thế đoàn kết dân tộc như tổ tiên ta đã duy trì trong hai ngàn năm quạ Dân tộc Việt Nam không cho phép những tên ma đầu chính trị, ma giáo quốc doanh, đảng phái, giáo hội phá hoại và chia rẽ sự đoàn kết để trường tồn nàỵ
Xin trích một đoạn trong tập Hiển Thơ Mầu Nhiệm để kết thúc bài này:

Quỷ truyền, ma dạy… dạ vâng!
Tu hành kiểu đó! khỏi cần quy y!
Gặp đảng quỷ, lòng thì run sợ!
Gặp Chúa Ma, ú ớ không lời!
Nghe lời quỷ dạy… ngu ngơ,
Sửa Kinh lời Phật! Ai ơi… coi chừng!
Nghe lời lũ quỷ rừng, đấu tố!
Tố Thầy sư, tố khổ các Cha!
Giả vờ… mặc áo cà sa,
Cạo đầu trọc lóc, trong là dao găm!
Đảng lũ Quỷ cố tầm Kinh sách
Cho công an… học cách tu hiền,

Vất Dao Thành Phật: Người Đồ tể giết gà, chó, trâu, bò, một khi vất giao đi thì có thể tu hành đắc đạọ
Còn Chính Trị Bộ Hà Nội, chính xác là giặc miền Bắc tới đâu bàn tay nhúng máu hôi tanh, giết hại đồng bào, phá nát quê huơng. Lột xác kiểu Tư Bản Đỏ chính là khoác áo cà sa giáp thép thật rộng để giấu gươm sắt, giao găm, lựu đạn: Dù người thông manh cũng thấy rõ. Thật là bịp bợm! Vải thưa che mắt Thánh!
Chính trị là thuần thủ đoạn nhưng phải là Hoa Nhân Áị Ái Hoa mới đạt tới hạnh phúc hài hòạ

Mạt Đông Kỷ Mão
Bách Linh

http://ghpgvntn-toiacphatgiaoanquang.blogspot.com/2009/05/con-uong-ao-9-het-bach-linh.html

June 1, 2009 Posted by | CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | | Leave a comment

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!” (8)

CON ĐƯỜNG ĐẠO (8)

Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

Bách Linh

oo0oo

21. Dùng tôn giáo thay cho đảng phái chính trị để kềm giữ người Viê.t.

Sự xử dụng đức Tin và tôn giáo để đoàn ngũ hóa, “kiểm soát và điều khiển tư tưởng” (mind control) đã trở thành một khoa học tinh vi. Các cán bộ “thầy” chỉ huy điều hành mặc áo cà sa, “tận tâm” hướng dẫn, dìu dắt, nhồi sọ các đoàn viên, đoàn sinh, đệ tử, miệng luôn luôn nói những lời đạo đức giả. Chúng mê hoặc mọi người “đồng đạo” và đệ tử, đoàn sinh, đoàn viên tới mức chúng nói gì, ra lệnh gì, họ đều răm rắp nghe, không ai dám cưỡng lại, và cũng không thể bỏ trốn hay bỏ cha.y.

Thủ đoạn thông thường của bọn ma giáo, ma quỷ là chúng dùng cò mồi để khéo léo, tâng bốc, vỗ tay. Các “thầy” thường dùng vài ba chục đệ tử để vỗ tay mỗi khi “thầy thuyết pháp”. Khi “thầy” vừa dứt câu là bọn đệ tử cò mồi vỗ tay vang dội, nồng nhiệt, khiến cho cả hội trường vỗ tay theo. Những người mới đến để nghe ngóng xem sao, thấy chấn động và dễ bị lôi cuốn theo. Chắc “thầy” phải nói hay lắm, hấp dẫn lắm nên mới có nhiều người vỗ tay hoan nghênh như vậy!

Tại Việt Nam thì ta thấy hiện tượng “tranh đấu” xuống đường, biểu tình, tự thiêu… do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức để đánh phá chính quyền quốc gia từ 1963 đến 1975, cũng là một hình thức đoàn ngũ hóa và điều khiển tư tưởng đám đông. Những bài báo viết lách cũng nhằm mục đích nhồi sọ đám đông và thanh thiếu niên, thế hệ trẻ, một cách từ từ và đồng thời bóp méo lịch sử.

Từ năm 1992, bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang vẫn tiếp tục hoạt động Cộng sản, vẫn chửi các chính quyền quốc gia, vẫn chửi Tổng Thống Diệm và công giáo, vẫn khéo léo khoe khoang thành tích Cộng sản.

Nhìn kỹ hoạt động của bọn tăng ni quốc doanh, ta thấy chúng đang “tẩy não” cả nước bằng cách bóp méo lịch sử Việt Nam cho lẫn lộn với lịch sử Phật giáo Cộng sản của chúng. Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu và Thích Tuệ Sỹ đang được bộ máy tuyên truyền quốc doanh hải ngoại đề cao, cũng là do công tác bóp méo lịch sử để tẩy não cả nước Việt Nam. Chúng chỉ nói rằng sư tăng Phật giáo đã mở nước, dựng nước từ Luy Lâu xuống đến Hà Nội, Huế, Sài Gòn, từ hơn 2 ngàn năm trước. Chúng không dám nói rằng Phật giáo là “ngoại lai” xuất xứ từ Ấn Độ cũng giống như đạo Nho, đạo Lão và Thiên Chúa giáo ngày nay. Mỗi người đều có tự do tín ngưỡng. Nhưng bọn ma giáo quốc doanh GHPGVNTN cố tình xử dụng tôn giáo để bóp méo lịch sử, tự nhận là “mở nước, dựng nước”, phủ nhận luôn cả tổ tiên Hồng La.c.

Ngoài GHPGVNTN Ấn Quang, ta thấy các hiện tượng nhân điện và vô thượng sư sú ma (supreme master) đã làm cho nhiều người phải khánh tận vì dâng hiến tài sản cho chúng, nghe chúng nói láo bịp bợm, và gia đình tan nát. Ta cũng thấy những văn nghệ sĩ, báo sĩ, đài sĩ, trí thức, khoa bảng, tai to mặt lớn cũng khúm núm trước mặt “thiền sư vén váy”. Có vị chỉ cần thấy tí tiền còm là bán rẻ ngay danh dự và linh hồn sẵn sàng tôn “thiền sư vén váy” lên làm “phật sống”!

* * *

22. Hoạt động chính trị Cộng sản của Gia Đình Phật Tử trong tương lai.

Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPTVN) chỉ là một tổ chức “ngoại vi” (satellite) của GHPGVNTN. Ngày nay GHPGVNTN bị kẹt cái tên “quốc doanh” do nhân dân đặt cho, nên phải dùng GĐPTVN làm mũi nhọn chính trị với mưu đồ “đoàn ngũ hóa” các tầng lớp dân chúng, phật tử, lấy Phật giáo làm bình phong hay là nòng cốt lý thuyết. Từ căn bản này, chúng sẽ điều khiển tư tưởng nhân dân cả nước, kể cả báo chí truyền thông, bằng các thủ đoạn “tranh đấu” để xách động quần chúng.

Khi tổ chức GĐPT đủ lớn mạnh ở tầm mức quốc gia, bọn ma đầu quốc doanh sẽ yêu sách, đòi hỏi, xuống đường tranh đấu, khích động những người trẻ tuổi thanh niên và dân chúng tham gia thật đông đảo. Miệng chúng hô to rằng bị đàn áp, “Pháp nạn” với “Mạt Pháp”. Chúng khuyến khích các đoàn viên thanh niên trẻ tuổi hăng hái “tử vì đạo” bằng tự thiêu, liều mạng chống cảnh sát, rồi làm “cách mạng”. Có khi chúng dàn cảnh “đốt” người rồi hô rằng nạn nhân đã “tự thiêu” và đổ tội cho chính quyền đàn áp tôn giáo, cấm đoán tự do tôn giáo.

Chúng có thể cho các thiếu nhi đi đầu các đám biểu tình. Lỡ có một trẻ nhỏ bị chết, hoặc chúng dàn cảnh cho chết, thì chúng sẽ thổi phồng lên rằng chính quyền, cảnh sát đàn áp, giết trẻ nhỏ để gây công phẫn, căm thù trong dân chúng, phật tử. Thiếu nhi, thiếu niên nào bị chết thì chúng sẽ phong làm “thánh tử đạo” để làm gương cho các thiếu nhi khác bắt chước. Để rồi lại tiếp tục tranh đấu, xuống đường với nhiều “thánh tử đạo” nữa.

Dân chúng dễ bị lung lạc, sẽ hùa theo chúng thành dư luận chống đối chính quyền. Bọn ma giáo quốc doanh sẽ tổ chức đình công, bãi thị, xuống đường biểu tình đánh phá, khích động cảnh sát phải dẹp biểu tình. Khi cảnh sát dẹp biểu tình, chúng sẽ bạo loạn, chống lại và gây thương tích, đổ máu. Rồi chúng sẽ hô hoán rằng chính quyền đàn áp “dã man” và kêu cứu với quốc tế… cho đến khi thành một phong trào và dư luận chống đối bao trùm cả nước, rồi lan rộng sang đến quân đội, cảnh sát, công chức…

Chúng sẽ liên minh, liên kết với các đoàn thể, hội đoàn, tổ chức hay đảng phái khác qua hình thức dọa nạt, lôi kéo, khủng bố tinh thần, hoặc dụ dỗ dối trá rằng sẽ chia ghế, chia phần… Với các phương tiện và thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm và lưu manh sẵn có, chúng sẽ làm cho báo chí quốc tế và dư luận thế giới xúc động, hùa theo chúng, bênh vực chúng…

* * *

Vấn đề bọn ma đầu đoàn ngũ hóa và kềm kẹp con người, cá nhân, trong tổ chức hay đảng phái thường rất tinh vi, thâm đô.c. Bọn ma đầu chính trị, ma giáo quốc doanh thường dùng những danh từ, danh xưng có vẻ hiền lành “vô tội” như Gia Đình Phật Tử, Tăng Đoàn Bảo vệ Chánh Pháp, khiến không ai có đủ lý do hành chính hay chính trị để cấm cản hay ngăn chặn chúng hoạt đô.ng.

Nếu không trình bày rõ ràng những cạm bẫy của bọn ma giáo quốc doanh này thì rất nhiều người trẻ tuổi sẽ bị mắc vào lưới nhện ma quỷ của chúng. Các phụ huynh dễ vô tình khuyến khích con em gia nhập các đoàn thể, tổ chức với danh xưng có vẻ hiền lành, vô ha.i. Một khi đã mắc vào mạng lưới nhện “đoàn ngũ hóa” thì bản tính cá nhân thay đổi rất nhanh. Đảng viên, đoàn viên, hội viên, tín đồ, phật tử đều mau trở thành cuồng tín, quá khích, say mê, bị mê hoặc và không còn suy nghĩ sáng suốt. Các phụ huynh vì thờ ơ không chú ý, đã có thể “mất con” cho bọn ma quỷ lợi du.ng.

Từ năm 1992, thấy không thể xóa bỏ cái tên “quốc doanh” và sự hợp tác “tuy hai mà là một” của GHPGVNTN. Từ năm 1998 danh xưng GĐPTVN là tổ chức gốc.

Tại miền Nam và hải ngoại GHPGVNTN tổ chức nhiều đơn vị GĐPT và tên GĐPT Long Hoa. GĐPT miền Thiện Minh, GĐPT Miền Quảng Đức, GĐPT Chánh Pháp, Chánh Tín, Pháp Bảo, Pháp Hoa, Ấn Quang, Vạn Hạnh v.v… Các đơn vị GĐPT đã trở thành một mạng lưới nhện khắp nước Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới để thu gom các thiếu niên, thiếu nhi phật tử, để giáo dục, nhồi sọ, tẩy não và huấn luyện (Indoctrination Ờ brainwash) chúng trở thành những phật tử có tinh thần hăng say, cuồng tín và sẵn sàng “tử vì đạo” cho GHPGVNTN!

Tổng số các đơn vị và đoàn viên GĐPT tại Việt Nam là 1,496 đơn vị và 219,000 đoàn viên, 192,000 đoàn sinh. Tại Âu Châu 32 đơn vị, 1,057 đoàn viên và 889 đoàn sinh. Tại Canada 10 đơn vị, 650 đoàn viên và 600 đoàn sinh. Tại Hoa Kỳ 58 đơn vị, 6,850 đoàn viên và 6,500 đoàn sinh. Tổng cộng có 1606 đơn vị và 27,655 huynh trưởng GĐPT tại Việt Nam và trên thế giới. Nhưng đây cũng là một bằng chứng các đơn vị của tổ chức GĐPT thuộc GHPGVNTN vẫn được Cộng sản cho phép hoạt động công khai trong nước, trong Mặt Trận Tổ Quốc, trong vấn đề đào tạo thiếu nhi phật tử trở thành một thứ cán bộ Cộng sản kiểu mới, trá hình.

Các cư sĩ quốc doanh đã lầm lẫn khi khoe rằng Lê Đình Thám đã tổ chức Gia Đình Phật Tử từ năm 1935 và chết năm 1969. Thật ra thì Lê Đình Thám, một cán bộ Cộng sản loại trung kiên, từng là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Liên Khu 5 của Cộng sản Việt Minh, đã tổ chức Gia Đình Phật Tử rập khuôn theo tổ chức hướng đạo từ năm 1945, và bao gồm luôn cả gia đình, anh chị em của các thiếu niên phật tử. Thám chết năm 1979. Cộng sản tổ chức giáo hội Phật Giáo Cứu Quốc và Gia Đình Phật Tử. Người ngoài thấy thì tưởng rằng Cộng sản cho tự do tín ngưỡng. Không ai ngờ Cộng sản chỉ dùng Phật giáo làm chiêu bài, vỏ ngoài, bình phong. Thực chất thì cán bộ giả làm tăng ni lãnh đạo để đoàn ngũ hóa và điều khiển tinh thần tư tưởng của phật tử và thanh thiếu niên.

Cuốn sách GĐPT Việt Nam công khai khoe mục đích chính là “đoàn ngũ hóa” các gia đình và thanh thiếu niên phật tử để đưa họ vào những mục tiêu chính trị và đấu tranh đổ máu cho chúng. Chúng nêu lên những gương tranh đấu, tự thiêu, thánh tử đạo với những tên Nhất Chi Mai, Quách thị Trang, Thích Quảng Đức, Thích Tiêu Diểu, Thích Thanh Tuệ, Thích Nguyên Hương, ni cô Diệu Quang, Thích Quang Hương, Thích Thiện Mỹ… của thời tranh đấu đánh phá các chính quyền quốc gia từ 1963 đến 1975 để cho thanh thiếu niên phật tử tiêm nhiễm và noi theo làm một thứ “anh hùng quốc doanh” hay “thánh tử đạo quốc doanh”!

Chúng bịa đặt ra hai câu “thơ” khuyến khích tử đạo và nói rằng của sư Thích Quảng Đức:

Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh!

Trong cuốn sách, bọn tăng ni và cư sĩ quốc doanh công khai tôn vinh những khuôn mặt Cộng sản như Tố Liên, Đôn Hậu, Minh Châu, Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Huyền Quang, Thiện Hoa, Tâm Giác, Trí Tịnh, Thiện Minh, Thiện Siêu… Chúng gọi giai đoạn 1963-1975 mà GHPGVNTN nằm vùng đánh phá các chính quyền quốc gia miền Nam và đón Cộng sản vào chiếm miền Nam năm 1975, là “Thời Kỳ Dấn Thân và Tái Ổn Định 1963-1975”.

Lê Đình Thám đã khoe là “thầy” Thích Trí Quang. Lê Đình Thám có một người con trai tên là Lê Đình Duyên làm dân biệu Việt Nam Cộng Hòa. Một người con trai khác tên là Lê Đình Luân. Trước 1975, ông Luân là đại tá Phòng Nhì (Quân Báo) trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi mất miền Nam năm 1975, ông Luân hiểu sự tàn bạo dã man của Cộng sản. Ông đã tự tử nhưng được binh sĩ của ông cứu sống. Sau đó ông bị Cộng sản bắt đi tù học tập cải ta.o.

Năm 1975, Lê Đình Thám (bác sĩ) từ Bắc vào tiếp thu Viện Pasteur ở Sài Gòn. Năm 1977, Thám đến trại cải tạo thăm con trai là ông Luân. Khi biết có bố đến thăm thì ông Luân, một người căm thù và kinh tởm Cộng sản, đã ra gặp Lê Đình Thám. Khi thấy mặt bố, ông Luân quỳ xuống lạy 3 lạy và nói: “Tôi lạy ông 3 lạy để trả ơn nghĩa cha con và để đoạn tuyệt từ đây. Từ nay trở đi, mỗi người một ngả, kể như không còn liên hệ gia đình!” Nói xong, ông Luân quay vào trong tra.i. Nếu chịu nhận họ hàng thì cán bộ Cộng sản cấp cao Lê Đình Thám có thể bảo lãnh cho ông Luân được về sớm. Nhưng đại tá Luân đã không hèn, và không thèm cái thứ ân huệ Cộng sản đó. Đại tá Luân đã bị Cộng sản giam cầm khoảng 15 năm và đã qua Mỹ theo chương trình H.O. Nghe nói các con ông Luân đều thành nhân và thành danh. (Chuyện này do một sĩ quan VNCH cùng học tập cải tạo kể lại).

Từ năm 1998 trở đi, tổ chức quốc doanh của GHPGVNTN có tên là Gia Đình Phật Tử Việt Nam đang được đưa lên sân khấu chính trị hải ngoa.i. Đảng Cộng sản Hà Nội và GHPGVNTN sẽ dùng Gia Đình Phật Tử như một tổ chức chính trị không có cái tên quốc doanh. Nhưng thời thế vào năm 1998 đang biến chuyển quá nhanh trong khi chính đảng Cộng sản đã mất hết quyền hành, không thể chỉ huy được bất cứ ai, và không thể thi hành được bất cứ âm mưu, thủ đoạn chính trị bịp bợm nào.

Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN còn có tham vọng đặt một nền tôn giáo công an trị mà chúng gọi là xây dựng một triều đại giống như nhà Lý ở thế kỷ 11. Nhưng bọn sư hổ mang quốc doanh Cộng sản này có “tu thật” đâu mà đòi bắt chước nhà Lý?

Một số phật tử và cư sĩ trong giai đoạn 1963-1975 và cho đến ngày nay cũng không hiểu những thủ đoạn độc ác, nham hiểm, lưu manh của bè lũ cán bộ Cộng sản núp dưới áo cà sa và tự xưng là tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang và các giáo hội, tổ chức phụ thuô.c.

Hi vọng rằng sau 1975 và ngày nay, mọi người phật tử, cư sĩ đã sáng suốt và hiểu rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang và các tổ chức phụ thuộc do cán bộ Cộng sản dựng lên và núp dưới chiêu bài Phật giáo để hoạt động Cộng sản, đoàn ngũ hóa người Việt trong mục đích đánh phá tổ quốc và dân tộc Việt Nam và áp đặt độc tài tôn giáo công an trị. Chúng không bao giờ thay đổi bản chất Cộng sản. Chúng muốn trá hình dưới hình thức “Đạo Phật” với các danh xưng có vẻ hiền lành, Phật giáo. Chúng muốn “biến Đạo thành Đảng” để tiếp tục khống chế dân tộc Việt Nam dưới bàn tay sắt công an trị!

Chúng ta không nên để bọn tăng ni Cộng sản đoàn ngũ hóa con em chúng ta dưới một danh hiệu hiền lành “Gia Đình Phật Tử” để có ngày sẽ làm vật hy sinh, tranh đấu xuống đường, biểu tình, cuồng tín đánh phá ngay quốc gia dân tộc mình, làm “thánh tử đạo”, cho những mục đích chính trị đen tối của GHPGVNTN Cộng sản. Dân tộc và chính quyền Việt Nam đương nhiên không thể cho Cộng sản tồn tại dưới bất cứ hình thức, danh xưng nào. Sang thế kỷ 21, mọi hoạt động chính trị và tôn giáo trong nước Việt Nam phải có sự minh bạch, rõ ràng. Không thể có sự mập mờ. Ma quỷ núp trong chùa, trong lớp áo thầy tu, trong bất cứ tổ chức “hiền lành” nào cũng bị tiêu diệt tận gốc.

Chư vị phật tử, cư sĩ cũng nên coi chừng vấn đề nghiệp báo hay là hậu quả. Nếu chư phật tử, cư sĩ phụ họa bênh vực tăng ni quốc doanh Cộng sản thì cũng phải chịu chung nghiệp báo tội ác Cộng sản của chúng, và đó là đạo kiếp vĩnh viễn. Tại sao tu theo Phật mà lại đi cung kính ma quỷ Cộng sản và “lạy thầy xưng con”? Nếu không thể phân biệt ai là Cộng sản, ai không, thì nên tu tại gia và trực tiếp cầu nguyện chư Phật là tốt nhất.

Theo Luật Trời, cũng là luật Nhân Quả, tội ác Cộng sản phải nhân bình phương với khoảng hơn 100 triệu người dân tộc Việt hiện nay và các nạn nhân Cộng sản đã chết trong hơn 50 năm qua, và dội lại thành nghiệp báo đánh vào bè lũ Cộng sản, tăng ni GHPGVNTN và những người hùa theo chúng, bênh vực chúng. Cộng sản phải bị tiêu diệt cũng vì lẽ chúng phải đền trả những tội ác nhân lên gấp trăm triệu lần.

Cái tài tình của người Mỹ là họ đã xử dụng những tên Cộng sản nằm vùng tại miền Nam “làm việc” không lương cho họ. Người Mỹ không cho cảnh sát miền Nam bắt giam bọn này. Trái lại họ còn dung túng, tỏ vẻ hỗ trợ và đồng ý với hoạt động Cộng sản của bọn tăng ni GHPGVNTN. Các báo cáo tốt đẹp và thành công của tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang đã khuyến khích Cộng sản Bắc Việt phải tấn công miền Nam.

Cộng sản Hà Nội đã coi Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Trí Dũng, Thích Nhất Hạnh, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên, Thích Minh Châu, Thích Thiện Minh, Ni sư Huỳnh Liên và tập thể tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang … là lập được công đầu khi chiếm xong miền Nam năm 1975.

* * *

http://ghpgvntn-toiacphatgiaoanquang.blogspot.com/2009/05/con-uong-ao-8-bach-linh.html

June 1, 2009 Posted by | CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | | Leave a comment

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (7)

CON ĐƯỜNG ĐẠO (7)

Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

Bách Linh

oo0oo

19. Tìm hiểu tổ chức ngoại vi của GHPGVNTN Ấn Quang gọi là Gia Đình Phật Tử. Một vài câu chuyện về Cộng sản tẩy não và đoàn ngũ hóa các tầng lớp nhân dân, thanh thiếu niên.

Cuốn sách quảng cáo cho tổ chức “Gia Đình Phật Tử”, một tổ chức ngoại vi của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước và hải ngoại, được in và bán thật đắt tiền với giá $50 đôla, phát hành trong năm 1998 để kỷ niệm 50 năm “tuổi” của Gia Đình Phật Tử. Trong cuốn sách người ta không thấy gì là đạo lý tôn giáo hay “ích quốc lợi dân”. Chỉ khoe khoang hình ảnh những tên sư hổ mang Cộng sản như Thích Trí Quang, Thích Minh Châu, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu và những tên sư quốc doanh có thành tích hoạt động đuổi Mỹ, đánh phá chính quyền quốc gia như Thích Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ…

Cuốn sách kỷ niệm 50 năm Gia Đình Phật Tử chẳng nói gì đến “gia đình” hay giáo lý Nhà Phâ.t. Chúng chỉ đề cao gương tự thiêu và các “thánh” tử đạo, nhưng không dám nói rõ rằng GHPGVNTN và Gia Đình Phật Tử đã “đốt người” và khích động những người trẻ tuổi hăng hái, cuồng tín tự thiêu, tự tử, nhằm mục đích đánh phá quốc gia, dân tộc và chính quyền để rước Cộng sản vào chiếm miền Nam.

Khi phát hành cuốn sách Gia Đình Phật Tử Việt Nam, lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất “không” giấu giếm ý đồ muốn tiến tới “đoàn ngũ hóa” các tầng lớp dân chúng cả nước dưới chiêu bài “Phật giáo”, thay vì với chủ thuyết Cộng sản đã lỗi thời và không hợp với người Việt Nam.

Vậy ta cần tìm hiểu tại sao cuốn sách “Gia Đình Phật Tử Việt Nam” nhấn mạnh đến vấn đề “đoàn ngũ hóa” (regimention) với các con em, thanh thiếu nhi phật tử trở thành “đoàn sinh, đoàn viên”? Ta cần tìm hiểu cái gì là “đoàn ngũ hóa”? Tại sao một tổ chức “Phật tử” lại cần phải đoàn ngũ hóa con người và thanh thiếu niên?

Thế giới tư bản văn minh ngày trước không bao giờ nghĩ đến một cách thực tế và cụ thể những vấn đề như “kiểm soát và điều khiển tư tưởng” (mind control), “tẩy não” (brainwash), “đoàn ngũ hóa, đội ngũ hóa” (regimention). Những xứ văn minh đều có chủ trương tôn trọng tự do tư tưởng, tự do cá nhân và tự do phát triển tư tưởng, tâm linh và Đức Tin của mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Do đó không mấy người hiểu những dụng tâm sâu độc của những tổ chức, hội đoàn, có vẻ hiền lành, bình thường nhưng có những ẩn ý thâm độc để xử dụng con người, hay là các đoàn sinh, đoàn viên, hội viên thành những công cụ chính trị, bạo động mà chúng gọi là làm “cách mạng” với tranh đấu, chống đàn áp, bất công, bạo động, tự thiêu, khuynh đảo, gây hỗn loa.n… cho đến khi các chính quyền các cấp từ xã ấp, lên đến quận, tỉnh, quốc gia, đều phải lệ thuộc chúng, vâng lệnh chúng, hoặc bị chúng đánh đổ. Các hội đoàn, tổ chức khác và báo chí, truyền thông, và toàn xã hô.i… đều bị chúng khủng bố, dọa dẫm, áp lực, dụ dỗ, bịp bơ.m… đều phải hùa theo chúng mà không ai dám lên tiếng phản đối.

Một thí dụ rõ rệt nhất là ở hải ngoại, nhất là Hoa Kỳ, với tự do báo chí, mà hầu như không một đoàn thể, chính khách, chính trị gia và báo chí, phát thanh nào “dám” lên tiếng tố giác các tội ác hoạt động Cộng sản của tăng ni GHPGVNTN từ 1963 đến nay, và các tội ác dâm dục, tham lam, độc ác của chúng. Ngược lại, nhiều tờ báo và đài phát thanh chỉ làm những phóng sự có lợi và đề cao tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, coi chúng như những “lãnh tụ” tôn giáo, những “phật sống”, đạo đức, đạo mạo, từ bi, với lực lượng phật tử mạnh mẽ lắm, với các chùa to lớn, có thể thay thế Cộng sản và nắm chính quyền trong tương lai. Các báo và đài phát thanh “thân” và “sợ” GHPGVNTN đã cố tình che đậy, khỏa lấp các tội ác của bọn tăng ni quốc doanh, với mục đích đánh lừa các thế hệ trẻ, thanh niên hải ngoa.i.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hồng quân Liên Xô được Đồng Minh thỏa thuận cho chiếm đóng Đông Âu để giải giới quân Đức. Nhưng lợi dụng sức mạnh, Liên Xô đã ép buộc các quốc gia như Đông Đức (East Germany) Ba Lan (Poland), Hung Gia Lợi (Hungary), Ru Ma Ni (Roumania), Albany, Tiệp Khắc (Czechoslovakia)… đều phải thành lập đảng và chế độ, chính quyền Cộng sản với công an trị. Tất cả dân chúng Đông Âu đều phẫn uất nhưng không thể chống lại Liên Xô.

Tại Hung Gia Lợi có một vị Hồng Y Thiên Chúa Giáo tên là Joseph (Cardinal) Mindszenty đã lên tiếng mạnh mẽ tố giác Cộng sản. Ông được sự hậu thuẫn và ủng hộ nồng nhiệt của toàn thể nhân dân Hung Gia Lợi và dư luận báo chí quốc tế. Tự nhiên, mọi người thấy ngay sự tranh chấp một giáo chức tôn giáo cao cấp trực diện đối đầu với Cộng sản. Trùm Cộng sản Liên Xô lúc đó là Stalin hiểu ngay vấn đề. Stalin thấy cần phải bẻ gẫy Hồng Y Mindszenty xong thì tất cả dư luận chống đối sẽ xẹp xuống ngay.

Khoảng cuối năm 1948, công an Cộng sản Hung nhào vào nhà thờ và bắt Hồng Y Mindszenty trước sự ngơ ngác của giáo dân. Không ai đề phòng. Không ai nghĩ rằng Cộng sản có thể làm bất cứ điều gì, thủ đoạn gì, mà không phải sợ dư luận, chửi rủa hay pháp luâ.t. Cộng sản chỉ có lý lẽ của kẻ mạnh, của công an, của bạo lực khủng bố, của súng đạn, tù đày trong các trại tập trung, để làm khiếp đảm tinh thần, mọi người phải sợ hãi và im tiếng.

Khi được hỏi vấn đề chống Cộng ở miền Bắc thì một cán bộ đã già, nhiều kinh nghiệm, nói: “Ngay chúng tôi là cán bộ của nhà nước mà còn chịu không nổi, huống hồ là dân! Nhưng trong một chế độ mà hai người không dám nói thật với nhau thì làm sao chống đối? Mỗi cá nhân chúng tôi đều hiểu rằng chỉ cần bị nghi ngờ thôi, cũng đủ bị bắt đi tù cải ta.o. Cái thân mình bị tù đã đành, nhưng vợ con, gia đình ai lo? Tất cả mọi người đều sợ vì bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt giam tù không giới hạn, không xử án và hoàn toàn vô tô.i. Người ta (Cộng sản) tha hồ buộc tội mình và bịt miệng không cho cãi. Họ lấy đa số tập thể và sức mạnh để đè bẹp mình là cá nhân, cô đơn, thiểu số. Thành thử cái sợ không phải là sợ bị tù, sợ chết, hay sợ chính quyền hay công an nhà nước (Cộng sản), mà là sợ gia đình tan nát, con cái trẻ nhỏ bị đói rét, không nhà, phải sống đầu đường xó chợ cho đến khi chết dập vùi đâu đó… !

Thành thử nếu sơ ý, lỡ mồm miệng, bị nghi ngờ phản động mà bị tù, bị giết, thì các nạn nhân có “tội” với gia đình con cái trước tiên!

Trong chế độ công an trị thì cả nước là một cái nhà tù khổng lồ. Nhưng người bình thường hay phật tử thì bị “tù” trong các tổ chức “đoàn ngũ hóa” thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, hay là tổ chức ngoại vi Cộng sản. Như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất , Gia Đình Phật Tử Việt Nam, Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp, Liên Hiệp Phụ Nữ, Việt Kiều Yêu Nước, Công Giáo Yêu Nước. Các tổ chức “đoàn ngũ hóa” khác trực thuộc đảng Cộng sản như Thiếu Nhi Khăn Quàng Đỏ, Thanh Niên Xung Phong, Hội Văn Nghệ, Hội Nhà Văn, Tổng Công Đoàn Lao Động, Hiệp Hội Báo Chí, và rất nhiều các tổ chức phụ thuộc hay ngoại vi nhỏ hơn đều có ý đồ khép chặt người dân Việt Nam trong mọi thành phần, lứa tuổi đều phải nằm trong các loại “khuôn đoàn ngũ” do cán bộ Cộng sản cầm đầu, chỉ huy.

Sau một thời gian ngắn bị giam cầm, đầu năm 1949, Cộng sản Hung Gia Lợi (Hungary) đưa Hồng Y Mindszenty ra tòa xử công khai và mời báo chí quốc tế tham dự. Tại tòa, Hồng Y Mindszenty khai rõ ràng ông làm gián điệp cho Hoa Kỳ! Kết quả, Hồng Y bị tòa xử 7 năm tù.

Cả thế giới tự do và Giáo Hội La Mã bàng hoàng! Không ai hiểu tại sao một người có trình độ tôn giáo thâm sâu, đã trưởng thành và nhiều tuổi, với giáo phẩm cao bậc nhất trong giáo hội, lại có thể bị Cộng sản “bẻ gẫy” tinh thần và ý chí nhanh đến như vậy? Nói cách khác, Cộng sản đã “giết” con người tinh thần công giáo và tư tưởng bất khuất chống Cộng sản của Hồng Y Mindszenty chỉ trong một thời gian thật ngắn. Giáo Hoàng vội triệu tập cuộc họp mật với tất cả Hồng Y để bàn kế hoạch đối phó với thủ đoạn tàn bạo “tẩy não” và “điều khiển tư tưởng” của Cộng sản.

Phải đến 7 năm sau, năm 1956, Hồng Y Mindszenty mới mãn hạn tù và được thả. Khi cuộc nổi dậy ở Hung Gia Lợi năm 1956 với thủ tướng Imre Nagy bất thành thì Hồng Y Mindszenty chạy vào tòa đại sứ Mỹ và xin tị na.n. Ông hiểu rằng ông sẽ bị bắt lại và có thể bị buộc tội đã chủ mưu hoặc kích động cuộc nổi dâ.y. Ông Imre Nagy sau đó bị mật vụ Liên Xô bắt đi và thủ tiêu mất tích. Hồng Y mindszenty kể lại rằng Cộng sản tra tấn, hỏi cung suốt ngày đêm cho đến khi ông kiệt quệ và tê liệt tinh thần. Sau đó, chúng bỏ đói, bỏ lạnh cho đến khi thể xác ông hết tự chủ và cũng tê liệt, chỉ tuân theo mệnh lệnh nhu cầu của ăn uống, quần áo. Mỗi ngày, trước khi cho ăn uống, thì cán bộ Cộng sản buộc Hồng Y phải trả lời sao cho chúng vừa ý. Nếu không biết trả lời thì chúng đọc cho ông nghe câu trả lời và bắt ông phải học thuộc và nói như một con vẹt… đến khi ra tòa, thì Hồng Y Mindszenty không cần nhớ những gì là của mình. Đầu óc gần như rỗng không vì tê liệt, ông chỉ nhắc lại một câu nói “tôi làm gián điệp cho Mỹ!” Như một băng cassette hay một con vẹt!

* * *

Có lẽ vì vậy mà sau này Giáo hội La Mã không đặt vấn đề chống Cộng cho các lãnh tụ, giáo phẩm tôn giáo tại các xứ Cộng sản. Tất cả phải cố gắng hòa mình và sống chung với Cộng sản để bảo vệ sinh lực và thực lư.c. Trên thực tế thì giáo hội không thể nào chống lại chính quyền, Cộng sản hay tư bản, bằng vũ lực hay bạo lư.c. Nếu giáo hội có thể sống chung với các chính quyền thế giới tự do mà không xen vào chính trị, thì tại sao lại không thể sống chung với Cộng sản và đứng ngoài chính trị?

Cộng sản sớm hay muộn cũng phải cáo chung. Cộng sản thường tiêu diệt hết tinh hoa dân tộc và những người quốc gia, chống đối. Lúc đó giáo hội vẫn còn đủ chủ lực và thực lực với cán bộ giáo chức, chức phẩm. Giáo hội gần như một mình một chợ, lại bung ra và bành trướng, có khi còn mạnh mẽ hơn trước Giáo Hội La Mã không cần phải lo đến chủ quyền hay sự tự do ấm no của quốc gia dân tộc, hay sự đe dọa tù đày, đói khổ, cùm kẹp công an trị Cộng sản. Đó không phải là việc của Giáo hội La Mã, và giáo hội không cần phải quan tâm.

Khoảng năm 1972, cô Patricia Hearst, ái nữ của nhà tỷ phú báo chí Hearst, đã bị mất tích từ căn nhà sang trọng của cô ở Beverly Hills, California. Ít lâu sau, cô xuất hiện với vài tên giang hồ khác, tay cầm súng, đi cướp nhà băng! Tại nhà băng cô hô to “Ta là Tania, thuộc quân đội Symbionese Army!”. Ngân hàng bị cướp đi khoảng 9,000 đôla. Người ta không hiểu tại sao một cô con gái nhà tỷ phú, sống trên nhung lụa, lại nhập đảng cướp và đi ăn cướp một cách hung bạo như vậy? Phải đến khi bắt được cô Hearst và đảng cướp, người ta mới rụng rời vì thủ đoạn tẩy não và bịp bợm thật tinh vi của bọn cướp. Chúng nhồi sọ cô con gái nhà giàu, ngây thơ và trong trắng tinh thần này bằng đủ các câu chuyện tưởng tượng về tư bản ngân hàng, bót lột, về chính trị, cảnh sát…

Khi sửa soạn đi cướp nhà băng thì cô gái này đã gần thành như người máy, hay là “chiến sĩ cách mạng” sẵn sàng đứng ra thay đổi hẳn quốc gia, xã hội! Bọn cướp đã dạy cô Hearst rằng chúng đã nắm hết cảnh sát, quan tòa, và đã làm chủ tình hình. Cô Patricia cứ việc hiên ngang cầm súng vào nhà băng, hô to cho mọi người biết mình là ai, và đàng hoàng lấy tiền, đi ra, mà không cần phải sợ ai! Sau khi điều tra xong, cảnh sát hiểu rằng cô Patricia Hearst chỉ là nạn nhân của “tẩy não” và “điều khiển tư tưởng, suy nghĩ”. Nhưng luật là luâ.t. Cô Hearst vẫn bị án tù. Phải sau này, cô mới được Tổng Thống Ronald Reagan đặc cách ân xá.

Trên đây chỉ là trường hợp cá nhân và có vẻ bị dồn ép. Nhưng đến năm 1982, vụ giáo phái Temple xảy ra tại Guyana thuộc Anh, Nam Mỹ, với hơn 1,000 người uống thuốc độc chết cùng với ông “đạo” Jones thì cả thế giới sửng sốt. Rồi đến các vụ Waco ở Texas năm 1994 chết hơn 80 người, giáo phái AUM ở Nhật với chủ trương đầu độc tập thể làm cho cả nước Nhật và thế giới kinh hoàng. Năm 1997, giáo phái “Cổng Trời” đã khiến cho 39 người “tự nguyện” chết để được lên phi thuyền không gian về… thiên đàng!

Người ta còn nhớ ông “đạo” Bagwan người Ấn Độ đã tụ tập khoảng 7,000 người vào năm 1983, 1984 và đã thành lập một tỉnh nhỏ được gọi là “đạo viện” ở bang Oregon. Mỗi người đều làm việc sản xuất nhưng mỗi tháng chỉ được ăn và được 10 đôla bỏ túi, còn bao nhiêu lợi tức “thầy” Bagwan lấy hết. “Thầy ” Bagwan giữ hết để tiêu xài và không thèm nộp thuế. “Thầy” Bagwan cho các đệ tử tự do làm tình thả giàn bất cứ ai, tha hồ đẻ con rồi cho tập thể nuôi. “Thầy” Bagwan tuổi mới ngoài 50 nhưng vì hành lạc, trác táng quá độ nên đau lưng thường xuyên và trông hom hem như một ông già 80 tuổi. Thầy “phải” mua xe Rolls Royce để đi lòng vòng quanh đạo viện cho êm cái lưng. Khi cảnh sát giải tán cái đạo viện lý thú này họ đã ngạc nhiên thấy “thầy” Bagwan có những 105 cái xe Rolls Royce, mỗi cái theo thời giá năm 1984 khoảng 200 ngàn đôla! Trong khi đó thì các đệ tử đi… bộ, vì không ai cần phải có xe!

Người ta coi phim ảnh thấy cảnh “thầy” Bagwan ngồi xe Rolls Royce bỏ mui đi chầm chậm quanh đạo viện cho đệ tử chiêm ngưỡng. Các đệ tử nam nữ mặc áo tu màu nâu đứng nghẹt hai bên đường để đợi “thầy”. Khi xe của “thầy” Bagwan đi tới thì mọi người tươi vui hoan hỉ như được nhìn thấy Phật sống hay Thượng Đế, cúi đầu chắp tay xá một cách vô cùng cung kính… Sau này “thầy” Bagwan bị một cô đệ tử kiêm thư ký riêng và vệ sĩ, đã làm phản và tố giác “thầy” với cảnh sát địa phương. Tại tỉnh nhỏ này, người ta bắt đầu sợ “thầy” Bagwan vì nếu có bầu cử thì đệ tử của “thầy” sẽ nắm đa số phiếu. Nếu “thầy” kiêm luôn cả chức thị trưởng thì cả tỉnh còn có nước dọn nhà đi tỉnh khác, nếu muốn con cái được nên người.

Bị cảnh sát bố ráp đạo viện vì tội trốn thuế, “thầy” dông lên máy bay chạy trốn, nhưng chính viên phi công lại báo cho cảnh sát và hạ cánh xuống cho cảnh sát bắt. Người ta tịch thu toàn bộ tài sản, bán đấu giá dàn xe Rolls Royce nhưng cũng chưa đủ để trừ số thuế còn thiếu khoảng hơn 100 triệu đôla. “Thầy” Bagwan bị tống xuất về xứ vì Hoa Kỳ chẳng muốn mất lòng Ấn Độ và mang tiếng “đàn áp” một giáo phái (?) từ Ấn Độ qua.

Một ông đạo khác tên là Sun Young Moon, người Nam Hàn, cũng giỏi về đoàn ngũ hóa, tập thể hóa và điều khiển tư tưởng đám đông đệ tử không kém bất cứ ông đạo nào. Ông này tụ tập hàng ngàn đệ tử từ khắp các nước trên thế giới. Ông chỉ người nam này lấy người nữ nọ, bất chấp sự kiện họ chưa bao giờ quen biết nhau, khác chủng tộc và ngôn ngữ bất đồng. Nhưng các đệ tử kính sợ và tin tưởng “thầy” một cách thật cuồng tín, vẫn răm rắp tuân theo. Từ năm 1984 đến nay, thầy Moon đã làm nhiều lần đám cưới tập thể cho các đệ tử, mỗi lần vài ngàn cặp vợ chồng, có lần đến hơn 4,000 cặp! Đầu tháng 2/1999, ông Moon làm đám cưới cho 40,000 cặp vợ chồng tại Hán Thành (Seoul). 12,000 cặp khác giống, khác tiếng nói, được ông Moon lựa chọn theo ảnh của họ.

* * *

20. Vụ Trần văn Trường treo cờ máu và ảnh quỷ Hồ đã khơi dậy ý chí căm thù Cộng sản của toàn thể người Việt và làm thay đổi thái độ chính quyền Hoa Kỳ đối với dân tộc Việt Nam. Phải sau này, người ta mới có thể ghi vào lịch sử là các cuộc biểu tình chống Cộng rầm rộ tại phố Bolsa, quận Cam, California, đã là một khúc quanh lịch sử chống Cô.ng.

Việt Nam có những ông “đạo” nổi danh như thầy nhân điện Lương Minh Đáng mới bị bắt tại Bỉ đầu năm 1999 vì tội lường gạt, chữa bệnh không bằng cấp, ông Tám Lương Sĩ Hằng, Thanh Hải Vô Thượng Sư… Đặc biệt là những “thầy” này công khai tự xưng là thượng đế sống, là phật sống, với “khai ngộ, truyền tâm ấn, thành Phật tức thì” (Instantly reach anh Buđhahood) mà vẫn có nhiều người tin theo. Nhiều người đã tan nát gia đình, tán gia bại sản, tiêu tùng sự nghiệp, mà vẫn u mê không tỉnh.

Nhưng các cá nhân này không nguy hiểm bằng tập thể tăng ni quốc doanh. Bọn này rất gian ngoan. Chúng làm việc có hệ thống, có phương pháp, có sách vở, đường lối chính sách giống Cộng sản để đoàn ngũ hóa các thành viên, đoàn viên. Chúng khéo léo tẩy não, nhồi sọ cho họ trở thành cuồng tín, sẵn sàng “tử vì đạo”!

Cuối năm 1998, Trần văn Trường về Hà Nội và nhận cờ Cộng sản và ảnh Hồ chí Minh. Từ tháng 12/1998, Trường treo cờ và ảnh trong tiệm Hi-Tek của y, tại phố Bolsa, quận Cam, California. Trường treo cờ và ảnh cả tháng rồi nhưng không ai thèm chú ý. Y viết hai lá thư thách thức Cộng đồng người Việt biểu tình chống y. Ngày 19/1/1999, khoảng hơn 400 người biểu tình chống đối và đả đảo Trường trong nhiều ngày. Họ dùng chân dày xéo lên hình ảnh Hồ. Tòa án phải ra lệnh khẩn cấp buộc Trường phải bỏ cờ, ảnh. Khi bỏ cờ ảnh, hai vợ chồng Trường, vợ tên Kim, quỳ lạy ảnh Hồ và cờ Cộng sản. Tên Kim còn âu yếm hôn ảnh Hồ đề chọc tức đám đông.

Cộng sản Hà Nội lập tức lên tiếng bênh vực Trường, nói rằng Trường có quyền tự do phát biểu theo Hiến Pháp Hoa Kỳ. Ngày 10/2/1999, khoảng 400 cảnh sát dã chiến Mỹ, vũ trang dẹp biểu tình đến tận răng, đã hộ tống Trường tới tiệm của y để treo cờ, ảnh trở la.i. Cảnh sát Mỹ đánh đập những người biểu tình đả đảo Trường và Cộng sản. Hình ảnh này được TV Mỹ chiếu. Lập tức cả mấy chục ngàn người Việt từ khắp nơi kéo đến tràn ngập đường Bolsa. Đến 9 giờ 30 tối, thì cảnh sát Mỹ chịu rút lui. Đám đông tự động giữ trật tự và biểu dương tinh thần chống Cộng với cờ quốc gia và những khẩu hiệu, ca hát cho đến sáng.

Một sự tình cờ của lịch sử là ngày 20/2/1999 cũng là ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Mão, kỷ niệm trận Đống Đa tiêu diệt quân Thanh 210 năm trước, năm Kỷ Dậu, 1789.

Tối ngày 22/2/1999, một nhạc hội với 2 khán đài và khoảng 150 nghệ sĩ đã thu hút khoảng 50 ngàn người Việt chống Cô.ng. Họ tỏ rõ thái độ chống Cộng, không phải chống Mỹ. Họ chứng tỏ trình độ văn minh bằng cách tự động giữ trật tự và vệ sinh, không xả rác, không cần có mặt cảnh sát, khiến cho toàn thể dư luận Mỹ phải khen ngơ.i.

Chính quyền Mỹ thay đổi ngay thái độ chính trị đối với Cộng sản Hà Nô.i. Họ hiểu rằng từ Thái Bình và toàn Việt Nam sang đến Hoa Kỳ, hơn 80 triệu người Việt Nam đều nhất chí chống Cộng và phải tiêu diệt Cộng sản.

Tuy bọn chó săn, cò mồi Cộng sản và ma giáo quốc doanh đã mau chóng “lái” dư luận và tinh thần chống Cộng sang “tranh đấu và cầu nguyện cho dân chủ và nhân quyền”, nhưng đã trễ. Một cao trào truy lùng, tố giác Cộng sản và những tên thân Cộng ở hải ngoại đã bắt đầu. Các “lãnh đạo tinh thần” của các giáo hội tưởng rằng mình nắm được tín đồ, phật tử, đã trơ mắt ếch vì chẳng lãnh đạo được ai!

Sang đầu tháng 3/1999, cảnh sát lục soát tiệm của Trường và bắt được khoảng 160 đầu máy sang băng và 15,000 cuốn băng lâ.u. Trường phải ra tòa về tội ăn cắp tác quyền và bản quyền. Cộng sản Hà Nội nín khe khi lộ chuyện là cán bộ của chúng toàn đồ ăn cắp. Các luật sư của tổ chức ACLU đứng ra biện hộ, tranh cãi cho Trường, cũng tự động rút lui trong sự sượng sùng.

Hậu quả của vụ treo cờ ảnh Cộng sản đã khiến cho nẩy ra 2 cuộc biểu tình biểu dương khí thế và tinh thần chống Cộng mãnh liệt của toàn dân Viê.t. Bọn ma giáo quốc doanh, cò mồi nhân quyền, dân chủ, và Cộng sản Hà Nội hiểu rằng thời thế của chúng đã hết. Chúng đã thất bại vì không thể lay chuyển nổi ý chí căm thù Cộng sản. Giấc mơ Cộng sản Hà Nội đặt lãnh sự quán khắp nơi để nắm người Việt bằng khủng bố công an trị, đã tan thành mây khói.

Bọn Cộng sản Hà Nội cũng không chịu thua. Chúng cố gắng ký hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ vào tháng 9/1999, nhưng lại thất bại hoàn toàn. Sư thất bại này có thể chấm dứt thế hòa hoãn của Hoa Kỳ đối với Cộng sản Hà Nội, và trở thành cái thế chết của chúng.

http://ghpgvntn-toiacphatgiaoanquang.blogspot.com/2009/05/con-uong-ao-7-bach-linh.html

June 1, 2009 Posted by | CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | | Leave a comment

Ác quỷ việt cộng sư Thích Đôn Hậu thảm sát Huế Mậu thân 1968

GHPGVNTN Sự Thật về Thích Đôn Hậu- Liên Thành- CKV pv 29-5-2009

http://www.dailymotion.com/user/dadaovietcong/video/x9g8gi_ghpgvntn-sy-thyt-vy-thich-yon-hyu-l_news

June 1, 2009 Posted by | Ác quỷ việt cộng sư Thích Đôn Hậu, Ác quỷ việt cộng sư Thích Đôn Hậu thảm sát Huế Mậu thân 1968 | , , | Leave a comment

Từ " Xóm vắng " đến " Phố Nắng " Võ Thủy Tiên Nguyễn văn Hoàng là ai ?

TinParis. Sau khi TinParis.net phổ biến E-Mail của HueTran ngày 9.7.2008 với tựa đề ” Kẻ chủ trương Diễn Đàn Phố Nắng là ai ? ” lên trên Trang Nhà , chúng tôi có nhận được mail  của  Bs Nguyễn văn Hoàng ngày 10.7.2008 , một trong những người chịu trách nhiệm của Phố Nắng, yêu cầu dành quyền trả lời cho ông trên TinParis, và đến ngày 15.7.2008 chúng tôi lại nhận thêm Mail thứ nhì và có lẽ cũng là mail cuối cùng của Nguyễn văn Hoàng thú nhận chính ông là ” Võ Thủy Tiên ” ( xin xem các links ở cuối bài). 

Trong một tuần lễ , chúng tôi có nhận được các mail từ ” diễn đàn mail ” Phố Nắng gởi tới một cách tự động mặc dầu chúng tôi không có ghi danh vào diễn đàn ( hầu như đó là thông lệ của “các diễn đàn mail” ) .

Nói chung, các  mail được phân chia thành các loại sau đây :chưởi bới du côn, khuyên can giải hòa, phân tích ” sâu sắc ” hay ” hời hợt” tùy theo lúc có ” thuốc hít ” hay không , ra lệnh phải thi hành ( rút bài xuống, xin lỗi,..), chê TinParis.net ấu trĩ thiếu kinh nghiệm, muốn quảng cáo nổi danh. Tuy nhiên cũng có những mail ủng hộ việc làm của chúng tôi  như gởi đến những e-mail chứng minh những điều Paris đã đề cập đến là đúng v.v…

Nhờ vậy, với chừng ấy mail, tôi có dịp được biết rõ thêm những người quen biết,  những người chưa quen và đo lường được giá trị của họ về tánh tình, cách cư xử, việc tôn trọng chử TÍN,  cũng như về khả năng suy luận, lòng can đảm hay sự ” hời hợt ngu dốt” của những kể tự coi mình có  khả năng lãnh đạo, hướng dẫn dư luận quần chúng. Tôi cũng cám ơn những đọc giả TinParis dù ” im lặng ” nhưng đã nói lên sự chín chắn của họ khi họ đặt tin tưởng vào TinParis.net. Điều đó thật là quý báu và chúng tôi thành thật cám ơn họ! Đôi khi ” nói là rác rưới, mà  im lặng là Kim Cương ”

Trước khi đi sâu vào vấn đề ,chúng tôi xin nói rỏ lập trường của TinParis, và của cá nhân tôi từ trước đến giờ chưa bao giờ thay đổi :

– Phát huy chánh nghĩa Quốc Gia Dân Tộc để dẹp tan chế độ CSVN ở trong nước và tay sai của chúng ở Hải Ngoại (bọn nội tuyến nằm vùng, bọn trở cờ, bọn Hòa Hợp Hòa Giải ) và nhất là Băng Đảng Mafia Việt Tân ( khi  đọc  Việt Tân xin quý vị phải hiểu đó là Băng Đảng Mafia Việt Tân ) trước đây là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Tại sao ? Vì HCM là một tội đồ của Dân Tôc vì đã ” lường gạt tiền” của đồng bào Hải Ngoại lập ” Kháng Chiến ma ” , làm mất đi niềm tin của đồng bào. Mất Niềm Tin thì còn làm gì được ? Mặt khác khi một Phong trào phát triển bừa bãi  để cố tình ” lường gạt ” đồng bào, thì CS cài người rất dễ dàng!

Muốn đạt được mục tiêu, với phương tiện truyền thông sẳn có là Internet, TinParis xung phong ” vạch trần ” những âm mưu đen tối của CSVN và tay sai, càng nhiều càng tốt, và ủng hộ các đoàn thể, cá nhân nào cùng chung lập trường với mình. Chúng tôi cần xác định rỏ   TinParis không phải là một tờ báo ” thương mại ” nên chúng tôi không bị ràng buộc vào tài chánh.

Do đó, TinParis cùng rất nhiều “thân hữu” đã cố gắng bỏ công sức, trí óc làm sao cho số đọc giả tăng thêm, trong nước cũng như tại hải ngoại để họ biết rỏ đâu là Sự thật và đâu là chánh nghĩa, và tránh khỏi cạm bẩy của CSVN và tay sai. Ráng tới đâu thì hay tới đó, “Tận nhân lực, Tri thiên mạng “.

Điều khó nhất hiện nay là làm sao biết được độ chính xác của một ” bản tin “. ” Nhiều tin quá, làm sao biết hư thực ?”. Hiện nay có 2 nguồn tin “phá rối ” nhất : một là do CSVN tung ra, hai là do Việt Tân ( CS giựt dây) từ các site Web, Forum, Radio, Báo chí .Với truyền thông trong tay của bọn chúng thì có cá nhân nào dám cự lại bọn chúng ? Bằng cớ là các Đài Tiêng Nước tôi ở Mỹ xuyên tạc trắng trợn các đối thủ của chúng. Các bạn hãy đếm trên Net có bao nhiêu Site chống ” thật tình ” Việt Tân và Cộng Sản”. Có bao nhiêu ” lãnh tụ ” chùm gởi ” phải dựa vào Băng Đảng VT để có tiếng nói,v.v.vì VT có tiền ( do lường gạt khi làm kháng chiến ma , và có tiền thì  đẻ ra tiền ).

Làm sao biết được người nào chống Cộng thật ? chống Cộng ” bề ngoài ” ? Có những kẻ VT thổi phòng lên nhưng thật sự là dỏm như Nguyễn Chính Kết, Đổ Đăng Hải , Hoàng minh Chính, Trần Khuê,v.v..hoặc như Nguyễn chí Thiện giả mà TinParis đã có lần nói đến trước đây. Có  thi sĩ nào mà khi được tự do lại không làm được một bài thơ mới cho ra hồn. Người biết rỏ NCT là ” giả ” là Ông TCĐ, người đã chứng kiến Hoàng Cơ Định, cùng vị Đại Tá Mỹ gốc Nhật đến rước NCT và đưa y đến San José trong buổi ra mắt đồng bào tại đây, cũng như đưa ra câu ” mật mã” để kiểm chứng NCT tại trường Trung Học Madison ở Portland sau đó.  
 
Biến chống Cộng thành ” trò hề ” tức là tiếp tay cho CS, và đó cũng là ” chiến thuật ” thâm độc của CSVN ,  như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh , các chính phủ Đào Minh Quân, Nguyễn hữu Chánh, Lý tòng Bá ( Việt Nam Cộng Hòa Foundation ), Phan văn Song Chủ tịch Đại Việt QDĐ , tiến sĩ giả , v.v..mà mọi người đều biết rỏ nhưng không dám nói. Chuyện “Chống Cộng” là quan trọng , ai cho các anh đại diện Cộng Đồng ở Hải Ngoại có quyền ” phong chức ” bừa bãi y như trong các gánh hát ” bầu tèo “?  Đó là hành vi của những kẻ ” lưu manh “, lường gạt và tiếm danh.

 Nếu TinParis.net, một site tranh đấu mà không dám nói lên những sự việc đó, thì nên dẹp bỏ đi chứ có ích lợi gì ?

Kể từ ngày thành lập đến giờ, TinParis.net đã xung phong để ” quét sạch nội tuyến, tay sai CSVN”, Việt Tân, và bọn hoà hợp hoà giải CSVN trong các chính đảng, và Phật Giáo Quốc Doanh khi chúng tôi tố cáo Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, thân hữu Già Lam, Phật Giáo về nguồn từ tháng 7.2007. Do đó, số đọc giả càng ngày càng tăng thêm vì TinParis đã đáp ứng đúng nguyện vọng của họ. Số đọc giả/tháng từ đầu năm dến giờ trên 80000 người, nhiều nhất là ở Mỹ :36000, VN : 15000, Pháp : 14000, Canada :5000, Đức 4000 Úc : 3000 Hòa Lan, Bĩ, Anh trên 1000 người , ngoài ra còn các nước khác như Nhật, Nga,Tiệp, Ba Lan v.v. vài ba trăm người. Những thành phố nhiều đọc giả nhất là Hà Nội ( 6000), Saigon ( 3000), Paris ( 3000) , Sydney (1400), Houston ( 1400), v.v…Tuy các con số rất khiêm nhường, nhưng điều đó cũng làm ấm lòng chúng tôi vì Tinparis.net chỉ đăng những bài tham luận rất khô khan, và đọc giả của TinParis.net là những người còn quan tâm đến thời cuộc và tình hình chánh trị Việt Nam.  Số trang Web đọc trên TinParis đã vượt qua số hàng triệu trang  từ lâu rồi!

Như quý độc giả đã theo dõi TinParis từ trước đến giờ, chúng tôi chỉ đưa một vấn đề lên Net khi nào có đủ các dữ liệu ( người hoặc sự kiện )đã được phối kiểm. Do đó, có khi phải mất một thời gian khá lâu, chúng tôi mới dám hành động.

Như trường hợp Nguyễn văn Hoàng  “diễn đàn mail Phố Nắng ” , chúng tôi đã có đầy đủ dữ kiện lúc NVH còn chủ trương  “diễn đàn mail Xóm Vắng” do HueTran báo tin cho chúng tôi biết vào khoảng tháng 4.2008. Xin mở dấu ngoặc ở đây : diễn đàn theo đúng nghĩa của nó là dưới dạng FORUM, có người administrator chịu trách nhiệm dàng hoàng, và người xin ghi tên vào diễn đàn cũng vậy, ít nhất cũng có một chút tối thiểu kiểm soát. Còn các “diễn đàn mail” như Phố Nắng thì “không có sự kiểm soát”, đôi khi lại bị ghi danh ép buộc ! Trong những “diễn đàn mail ” , chúng ta gặp được dủ thành phần, nhiều nhất lá cán bô CS và tay sai để phân tích tình hình cộng đồng, cũng như loan tin thất thiệt gây hoang mang chia rẽ và hạ nhục những người dám chống lại chúng. Sau vài tháng phối kiểm, chúng tôi mới đăng bài viết ” Kẻ chủ trương Diễn Đàn Phố Nắng là ai ? ” .

Chúng tôi có hỏi thăm Nhạc sĩ Trần Quan Long  để xác nhận những tài liệu mà chúng tôi có được của HueTran, và xin phép được đua tên ông ra làm nhân chứng. Ns Trần quan Long là cậu bảy của Nguyên văn Hoàng, cho biết là những tài liệu của HUETRAN là đúng, và nếu cần chúng tôi nên hỏi thêm Khúc Vượng & Trần Thị Lan Australia 011 61 7 37 14 99 77 Ông Khúc Vượng là dượng  tám của BS NVH ( bà Khúc Vượng, tức Trần Thị Lan, là dì ruột (thứ tám) của Bs NVH).  Một người bạn khác cũng cho chúng tôi tin về  người chị Hai của Ông Nguyễn văn Trích là Bà Hai Én, có chồng Bs Ánh, trước đây làm việc cho Labo   dược phẩm KIM của Dược sĩ Nguyễn Kim Loan, đường Cao Thắng Saigon. Sau 1975, bà hai Én rất giàu vì làm ” áp phe ” với các chóp bu CSVN.

Những kẻ làm tình báo cho CSVN làm sao mà biết rỏ được họ ? Trừ khi nào họ bị bằt như Huỳnh văn Trọng hay Vũ Ngọc Nhạ, hoặc sau 1975 khi ” ván bài đã lật ngửa”  như Trần văn Chiêu , Tướng Nguyễn hữu Hạnh, Phạm Xuân Ẩn thì chúng ta mới biết được. Trường hợp ông Nguyễn văn Trích , một công chức cao cấp của Miền Nam VNCH, sau 1975 vẫn còn ở nhà của mình, con cái đi học đàng hoàng, không bị ” kỳ thị ” lý lịch không đi ” cải tạo” , xin để quý đọc giả suy luận. Sau 1975, ông Khúc Vượng đã năn nỉ các người bạn của mình  ” tha Ông Nguyễn văn Trích” sau khi công tác ” phá hoại Nhà đèn ” của CSVN tại Saigon  do nhóm của ông Khúc Vượng chủ trương đã thất bại. Ai muốn tìm hiểu thêm thì cứ liên lạc thẳng với những người ” trong gia đình ”  như Ns Trần Quan Long hay Ông Khúc Vượng thì biết rỏ sự thật. Đây không phải là trọng tâm của TinParis.net ngày hôm nay.

Trong số những người ” Tỵ nạn CSVN sau năm 1975″, có biết bao nhiêu kẻ Cộng Sản nội tuyến nằm vùng ?
Quá khứ chống cộng của một người chưa bảo đảm được rằng họ còn tiếp tục chống Cộng hay không ( trường hợp Nguyễn Cao Kỳ ), huống chi là một người đã có ” quá khứ ” theo CSVN ? Dĩ nhiên là vẫn có các trường hợp ” ngoại lệ ” như những kẻ đã thật sự ” hồi chánh ”  Chúng ta không nên quơ đũa cả nắm.

Ngoài ra,  TinParis tôn trọng tuyệt đối một nguyên tắc dân chủ căn bản là  ” Trách nhiệm cá nhân “. Ai làm nấy chịu ! Vi phạm nguyên tắc nầy là  chống lại chế độ Dân chủ . Chỉ có Cộng Sản  và các chế độ phong kiến mới chủ trương ” trách nhiệm tập thể ” do đó  CS mới đẻ  ra cái quái thai ” Hộ Khẩu “.  Vì thế, trước 1975, ngoài Bắc làm gì có chuyện trốn ” quân dịch ” như  trong Miền Nam. Một người mà trốn quân dịch thì cả nhà đều bị ” cúp hộ khẩu ” đấy !  Có chế độ nào mà tàn ác như  CSVN không ?

Do đó, trong bài ” Kẻ chủ trưong Diễn Đàn Phố Nắng là ai  ? ”  , TinParis  chỉ đề cập đến  cá nhân ” Nguyễn Văn Hoàng ”   vì nghĩ rằng Nguyễn  văn Hoàng  đã làm những việc  có hại  cho công cuộc tranh đấu của cộng đồng  Người Việt Quốc gia , và có lợi cho Cộng Sản Việt Nam.


Trở lại vấn đề ” Diển Đàn Mail Phố Nắng ” của Ông Nguyễn văn Hoàng TinParis đã nêu lên  2 điểm chánh :

1- Ông Nguyễn văn Hoàng trước đây là người của Mặt Trận HCM tức Băng Đảng Việt Tân sau nầy.
2- Ông NVH viết những điều có lợi cho CSVN trong ” Xóm vắng ” với các Nickname như Võ Thủy Tiên, QLD,v.v…CSVN sẽ  mừng lắm khi gặp  một người chống cộng kiểu ông NVH !

Xin mời quý vị đọc các links  dưới đây  thay  thế  các câu trả lời của chúng  tôi.

Người việt ta có câu ” Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã”, Quý vị nào thích “thảo luận ”  cở tầm mức Võ Thủy Tiên thí cứ tham gia ” diễn đàn Phố Nắng ” tùy hĩ !Chúng tôi cho đăng mail của ông Song Kiên để quý đọc giả suy nghĩ :

  • On Thu, 7/10/08, kien song <songkien68@yahoo. com> wrote:

 

From: kien song <songkien68@yahoo. com>
Subject: Re: Phố Nắng Nguyễn Văn Hoàng đã từng phất Cờ Máu ủng hộ CSVN Re: [NguoiVietQuocGia] Lai them mot nan nhan bi chup non coi
To: vietnamthidan@ yahoogroups. com, ThiCa@yahoogroups. com, thaoluan9@yahoogrou ps.com, NguoiVietQuocGia@ yahoogroups. com, “Tinh Lam” <tinhlam@yahoogroups .com>, “diendan dautranh” <diendandautranh@ yahoogroups. com>, “Chinh Luan” <CHINHLUAN@yahoogrou ps.com>, “Dien Dan Chinh Tri” <DienDanChinhTri@ yahoogroups. com>, “Nuoc Viet” <Nuoc_VIET@yahoogrou ps.com>, vietnamconghoa@ yahoogroups. com, “diendan congluan” <diendancongluan@ yahoogroups. com>
Cc: huatho@yahoo. fr, daotien@gmail. com, tcm0475@yahoo. com, mai565@verizon. net, vuuyengiang1@ yahoo.com, ngaynay@cox. net, pauluscn@hotmail. com, dangvannham@ yahoo.com, “Ho Cong Tam” <hocongtam@gmail. com>
Date: Thursday, July 10, 2008, 12:32 PM

 

” Người thân của cháu biết ông Nội cháu là “HỘI ĐỒNG HẠC”, không gọi ông là “CẢ HẠC”. Người viết chữ “Cả” này có thể không phải là người miền Nam, mà là người Bắc….”
” Hồi cháu còn học mẫu giáo, ba cháu làm phụ tá Tổng Trưởng bộ Thanh Niên, hình như ông Võ Long Triều làm Tổng Trưởng, sau đó ba cháu làm Thanh Tra Tài Chánh, rồi làm Tổng Thơ Ký Bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia,..”

Gia thế oanh liệt như vậy sao BS Hoàng không giữ gìn mà đi treo cờ máu quảng cáo không công cho VC ?
Giòng họ danh gía vọng tộc sao không biết giữ nề nếp lại đi giả danh phái nữ (Võ Thuỷ Tiên) để chửi bới người ta?
Hôm xưa đã vậy; hôm nay lại vậy…hôm mai sẽ ra cái giống gì ?
.
Nếu coi những người như BS NV Hoàng là thành phần chống Cộng thì quả thật phe chống Cộng …..hết thời!
Ai tin được BS Hoàng thì tin.
SK nhất định không tin được vì quan niệm đối xử của SK đối với người cùng chiến tuyến là phải đặt căn bản THÀNH TÍN làm đầu. SK không thấy được BS Hoàng có những điểm căn bản này.

Cách đối xử của BS Hoàng trong quá khứ giống băng đảng Việt Tân nhiều hơn. Xưa SK đã không hợp với giả thân của BS Hoàng (Võ Thuỷ Tiên) nay lại càng không hợp vì cách xử thế khác nhau.

Thôi thì xin chào BS Hoàng lần đầu cũng là lần chót.

Nhân đây SK cũng cám ơn Admin của DĐ Phố Nắng đã cộng tên của SK vào group. SK xin phép được tự mình lấy tên ra khỏi group để khỏi phiền lòng Admin.

SK     

Chúng tôi xin mời quý đọc giả bấm vào các Links dưới đây để hiểu rỏ vấn đề, vì các trang WEB nầy đủ xác nhận những điều mà chúng tôi đã nói. Do đó, HueTran, thân hữu của chúng tôi không cần phải xuất hiện. Chúng tôi nói rỏ là sẽ không đề cập nữa đến ” Diễn đàn mail Phố Nắng ”  trên TinParis.net. Vấn đề nầy coi như đã giải quyết xong.

Hứa Vạng Thọ
Ngày  21.07.2008

 
Xin mời quý đọc giả bấm vào các LINKS dưới đây để hiểu rỏ tại sao Tinparis.net  ” lật tẩy ” Nguyễn văn Hoàng  người chủ trương  ” Diễn Đàn mail PHỐ NẮNG “

http://tinparis.net/vn_index.html

June 1, 2009 Posted by | Từ " Xóm vắng " đến " Phố Nắng " Võ Thủy Tiên Nguyễn văn Hoàng là ai ? | | Leave a comment

GÃ "THẾ CHÔM" : CHỦ NỒI CHÁO HEO KẺ XẢ RÁC TRUYỀN THÔNG !

GÃ “THẾ CHÔM” : CHỦ NỒI CHÁO HEO KẺ XẢ RÁC TRUYỀN THÔNG !
– TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Lời người viết: Trong nước có nhiều tệ nạn như tham nhũng, buôn bán phụ nữ, nô lệ….hải ngoại cũng không kém như đón gió trở cờ, làm ăn với Việt Cộng, kháng chiến dỏm…nhưng cái tệ nạn CHỤP MŨ là Việt Cộng, Công An cũng thường thấy; tuy nhiên kẻ chụp mũ không có bằng chứng và tư cách, lập trường mập mờ như” cõi vô minh” mà lại cho người nầy là V.C, người kia là công an….thì không ai tin, nhưng lòi ra kẻ chụp mũ là người” thò bàn tay cầm chiếc nón cối” để chụp trên đầu người khác, hóa ra tự tố cáo mình là” đại lý nón cối” đấy, ngậm máu phun người dơ miệng mình, là câu châm ngôn răn những kẻ xấu hay có tật vu khống người khác để thỏa mãn tự ái cá nhân, gây xáo trộn trong cộng đồng tỵ nạn Cộng Sản hải ngoại. Trong tinh thần vạch ra những tệ nạn ấy, bài viết nầy không mang tính cách bút chiến, vì đây có quan hệ đến sinh hoạt cộng đồng, nhằm lượm bớt rác khắp nơi.

” Rác, xả rác cho bàn tay không ngừng nghỉ.
Cho địa cầu ô nhiễm, hại môi sinh.
Ngay cả trong lãnh vực truyền thông.
Nhớ bỏ rác vào thùng và đậy nấp”.

Rác ngày nay là một vấn đề vô cùng quan trọng cho nhân loại, đang được hầu hết các nước trên thế giới lưu tâm đặc biệt, hàng đầu; nên các chánh khách, đảng phái chính trị tại các nước dân chủ, thường dùng RÁC để làm đề tài tranh cử, và có nhiều người đã đắc cử nhờ vào rác; nên rác thấy là đồ bỏ như vậy, mà quan trọng lắm, nếu biết cách” làm sạch rác” là được lòng dân, kể cả những nhà bảo vệ môi sinh, khoa học gia…. lý do là môi trường sinh thái càng ngày càng bị con người:

” Tung rác rưới khắp nơi trên hoàn vũ.
Nhiễm độc môi sinh khắp địa cầu”.

Rác có nhiều loại, từ bịt nylon khó tiêu hủy, khí thải Dioxine, hóa chất, vật liệu… đến các phế thải do con người làm ra và nhất là loại rác nguyên tử, thường bị những tổ chức bảo vệ môi trường phản đối mạnh mẻ, tại các nơi chứa, trên đường vận chuyễn. Rác nguyên tử, rác thải do các nhà máy, là vấn đề mà nhiều nước quan tâm; nên các nước Tây Phương, tiên tiến thường hay dùng tiền để” mướn” những nơi đổ rác tại các nước chậm tiến, dù biết nguy hiểm, nhưng vì tiền nên các chính phủ nghèo phải chấp nhận:

” Cũng đành nhắm mắt đưa chân.
Thử xem rác rưới, trữ tàng đến đâu?”.

Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mới thoát thai vào con đường kỷ nghệ, sau khi nhận thấy lối sản xuất lấy” sức người thay sức trâu bò, máy móc, nói dốc sang giàu” đã trở thành lạc hậu lỗi thời, phản động như Đoàn Trung Thông trước đây, thời Hồ Chí Rận chủ trương triệt để:

” Bàn tay ta làm nên tất cả.
Với sức người, sỏi đá biến thành cơm”.

Mới bước vào con đường kỷ nghệ với:” trăm lần vui, có vạn lần sầu”, nên những” đỉnh cao trí tuệ loài người” tha hồ mà” ký hợp đồng, hợp điếc, hợp câm, hợp mù” cho các công ty nước ngoài được quyền xả rác có chính sách, nên trải qua chỉ hơn hai thập niên” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” thì toàn thể sông ngoài, kinh rạch, mặt đất đã hoàn toàn bị giải phóng từ mặt bằng, mặt lồi, mặt lỏm với:” có những độc chất từ nơi nhà máy, lan ra làm nhiễm nặng môi trường, khắp nơi nơi đều là độc hại”. Từ những hãng bột ngọt, làm xì dầu đến các cơ sở làm ăn cá thể, tập đoàn sản xuất quốc doanh, cùng nhau thi đua xả rác, thải độc đến” mệt mà không thèm nghỉ” để thu nhiều lợi nhuận, vì việc xả rác đã được đảng và nhà nước thông qua, cùng nhau” nhất trí” ăn tiền, chia chác, hối lộ, nên chỉ lên tiếng hụ hợ khi dân chúng” bức xúc” vì có nhiều nơi dân bị chứng” ung thư tập thể”, rồi đâu lại vào đấy. Đã là những kẻ” rước công ty ngoại quốc vào gây độc”, nhưng lại đổ thừa cho” thằng Mỹ rải chất độc da cam” hầu kiếm chút tiền bồi thường ( nhiều lần bị thất bại và nay không còn hy vọng gì nữa, khi tòa phá án không chấp đơn, họ biết tất cả rồi)

Nguy hiểm nhất là từ việc thi hành cái hợp đồng” bí mật” của tổng bí lù Nông Đức Mạnh với quan thầy Trung Cộng từ năm 2001, mãi đến năm 2009 mới” bật mí” khi Trung Cộng công khai thực hiện công trình khai thác quặng Boxít tại Tây Nguyên, là đe dọa môi trường rất lớn mà còn đe dọa” môi trường an ninh quốc phòng” khi đảng Cộng Sản” rước quân Tàu về dầy đất tổ”, làm khổ dân chúng, quả đúng là tập đoàn buôn dân bán nước, bắt chước Lê Chiêu Thống, làm giống như Hồ Chi Minh, toàn là lũ cầu vinh mãi quốc, bán tất cả đất tổ tiên, lấy tiền bỏ túi, Việt Cộng đều là điếm thúi đấy.

Rác là một vấn nạn trên toàn cầu, nên nhiều nước khuyến khích tái biến chế ( recycle) để nhẹ bớt ô nhiễm, chớ để rác cứ” tự biên tự diễn” tích tụ thành đống, lắng đọng đáy sông, bờ biển, thì vấn đề vệ sinh phòng” dịch tể, ôn dịch vật là không được đảm bảo” và không bao lâu nữa, trái đất ngập đầy cả rác. Tại nước Úc có ông Ian Kerian, phát động ngày” Clean up Australia” hàng năm, được hàng triệu người hưởng ứng. Tuy nhiên, dù có nổ lực thế nào, rác cũng là rác, con người cứ xả, có khi vô ý thức, xả rác” không người lái”:

” Hốt bao nhiêu rác mà không hết.
Tái chế bao nhiêu, rác vẫn còn”.

Ý thức được sự quan trọng của vấn đề rác, nên hầu hết các nước phát triển Âu-Mỹ đều có những chương trình khuyến khích dân đừng xả rác nơi công cộng, họ đặt nhiều thùng rác ở trên các con đường phố, đông người qua lại và đồng thời có kèm theo những hình phạt bằng tiền, dành cho bất cứ ai, không phân biệt màu da, tôn giáo, đảng phái, giới tính….hể xả rác là bị phạt ngay, không chừa tổng thống, thủ tướng; khác với quan lớn các nước Cộng Sản, làm nhiều chuyện tày trời mà vẫn ” thanh tâm trường yên ổn” như các vụ tham nhũng PMU 18, PCI…thì xả rác đâu có nhằm nhò gì, chuyện rất nhỏ thôi, nên tại Việt Nam, rác rưới khắp nơi, thi đua cùng với những tệ nạn khắp từ nông thôn đến thành thị. Nhưng nghiêm nhặt nhất là nước Singapore, xả rác bị phạt rất nặng, nên thành phố của họ được coi là sạch nhất thế giới.

Trong lãnh vực truyền thông cũng thế, dù không có luật lệ cấm xả rác bao giờ, nhưng những người tự trọng, có ý thức không xả rác bừa bải, trái lại còn phải ra sức” lượm rác” của những kẻ vô ý thức, rác Vẹm, rác hai hàng, rác đón gió, rác của đám ” THAY MƯỢN” truyền thông làm THƯƠNG MẠI mà miệng bô bô chống Cộng để câu khách….những ổ rác nầy đã và đang tung xả bừa bải trên khắp:” nẻo đường truyền thông hải ngoại”; có nhiều nơi còn lượm rác Việt Cộng từ các thùng rác báo chí, đài, truyền hình, và họ lại thiếu trách nhiệm, mang những thứ phế thải, có nhiều độc chất đó, rải vào môi trường truyền thông hải ngoại, nên thường hay có những tin vịt, tin giả, phản tỉnh dỏm, phản phé gia, nhà tù lương lẹo, bẹo trò dân chủ đấu tranh của bọn lưu manh cò mồi, là thứ tồi chống đảng theo” hợp đồng”, thay lòng đổi dạ, nên không ai lấy làm lạ về những cơ quan truyền thông xả rác nầy….

Tuy nhiên khi cần phải bỏ thứ phế thải, thì những người có ý thức, lập trường, bỏ ngay vào các thùng rác đã có sẵn từ thời” có đảng, có Bác mới có ngày nay”. Đó là những thùng rác có đề bên ngoài hai chữ” Việt Cộng” màu đỏ chữ vàng, dễ nhận ra, thì bất cứ thứ rác như: vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, ăn cướp tài sản, bắt dân làm nô lệ, buôn báo phụ nữ, lao nô, phản tỉnh giả, đảng cò mồi (Dân Chủ của Hoàng Minh Chính chẳng hạn…)…. được những người làm truyền thông chính chắn, không thương mại, có lập trường dứt khoát, không lợi dụng truyền thông để khoát lát, nói năng huênh hoang ( có tới 300 cây viết…chùa), có thêm trang web, ngoài Nồi Cháo Heo là: tí tù ti, mới nghe qua như câu: ” tù tu tú tí” nói về những kẻ thuộc loại” chơi bậy, đéo lén” mà người bình dân gọi là thứ:” mèo mả gà đồng”. Đó là cách làm thương mại, trong chính sách: lai rai nói láo, học theo lối Cáo, bát nháo truyền thông, là thứ” kỳ nhông”, lông bông đổi màu, khác nào báo Vẹm…Thùng rác Việt Cộng là nơi tha hồ mà bỏ những thứ không thể chứa hay xài vào cái gì ích lợi nữa, xong đậy nấp lại, là an toàn.

Thùng rác Việt Cộng là:” không thể canh tân, cách mạng, sữa đổi, sơn phết…tốt nhất là đừng nên tái biến chế ( recycle)”. Nhiều người đã bỏ những thứ rác dơ vào thùng nầy, như luật sư Nguyễn Văn Chức thường bỏ vào thùng rác” Việt Cộng là chó đẻ” hay có những thứ rác như: đảng cướp Việt Cộng, tên quốc tặc Hồ Chí Minh, thằng Nông Đức Mạnh, thằng Nguyễn Minh Triết….nhưng cũng có một số cơ quan truyền thông, vì không biết dơ nên lượm lại rác trong thùng Việt Cộng, đoạn mang về nhà, tái biến chế thành” rác phẩm” với những phó sản rác là các từ Việt Cộng như: chất lượng, phát hiện, xử lý, tình huống, cơ bản, cơ sở, nghiêm túc, khẩn trương….và gần đây, vài loại rác được” tổng hợp” thành những” phá sản chữ nghĩa” như: động-thái, đạo-cụ, đặc-tình, giao-hợp, điều-kinh, kích- cỡ, ……một số cơ quan truyền thông còn có” sáng tạo lẫn tối tạo” biến hai chữ Việt Cộng thành: nhà nước Cộng Sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam, đảng Cộng Sản Việt Nam…..sau khi dùng máy lọc, bỏ đứt mấy chữ” ác ôn, bạo quyền..” vì bị rét hay có mục đích quảng cáo, binh vực cho thùng rác Việt Cộng luôn nặng mùi. Rác có giòi bò lúc nhúc, thì được lượm lên, lau sơ và gọi là ÔNG, như ông Hồ Chí Minh, Thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, Ông Nguyễn Tấn Dũng…(.vân vân và vân vân).

Trong lãnh vực bảo vệ môi trường truyền thông không bị ô nhiễm do những người xả rác bừa bải, vô ý thức, nên ngày nay có đặt thêm mấy thùng rác nữa, là thùng:

-Băng Đảng Mafia Việt Tân: dành cho các thứ rác đặc biệt như: biến ngày quốc hận 30 tháng 4 thành” diễn hành cho tự do”, ngày giỗ tổ Hùng Vương thành” ngày quốc khánh”, công nhận:” đảng Cộng Sản Việt Nam là thành phần dân tộc” và” Hồ Chí Minh là người có công với đất nước”, biểu tình đòi đất đảo vùng biển chống Trung Cộng, còn Việt Cộng thì phớt lờ….sau nầy trong thùng rác nầy còn có thêm thứ rác” hiện đại” được nhặt và mang vào phòng khách trưng bày như bảo vật:” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự”, đồng dạng với loại rác phế thải cũ là:” dùng bất bạo động để tháo gỡ độc tài” mà nhiều người đã vứt vào thùng nầy từ lâu. Được biết thứ rác cũ nầy đã từng được Ghandi xài từ hơn nửa thế kỷ, nay đã” bỏ vào sọt rác lịch sử”, thế mà vẫn còn người lượm lại và tái chế biến, nên cái mùi Cà Ri bay mất, chỉ còn màu vàng như nghệ mà thôi. Thùng rác Băng Đảng Mafia Việt Tân cũng có chứa vài loại giấy cứng, có mộc, chữ ký, nhìn kỷ thấy những chữ như” tiến sĩ, bác sĩ, kỷ sư, luật sư…” những thứ nầy bị dính mở Vịt Tiềm nên trở thành rác, chỉ được bỏ vào thùng và không thể tác biến; ngay cả những” chủ ao cá bác Hồ” trong nước cũng có người hổng dám xài vì sợ bị dính mở, và bên cạnh có cái giỏ có đề câu:” nhớ bỏ giấy vào thùng”.

-Rác từ một số nồi cháo heo truyền thông hải ngoại: nồi cháo heo nặng mùi nhất, phải kể đến” take 2 tango” của gã THẾ CHÔM làm chủ, dưới tay có đủ 300 cây viết, không biết thật hư, coi như” nói dốc”, là đồ nhái cốc…..nồi cháo heo nầy cũng lợi dụng THẾ trang điện báo để CHÔM bài của người khác, làm bài của mình, nên những ai đã” từng bị chôm bài” hảy cùng nhau:” đề cao cảnh giác trước gã Thế Chôm, thường hay lấy bài của người làm của mình, với những âm mưu diễn biến khoát lát mà còn nhiều khi cắt bài của người ta mà hỗng thèm hỏi ý kiến tác giả, thật là gã lưu manh” không người lái”, tự tung tự tác, báo nhát truyền thông”. Nồi cháo heo đã vốn tạp nhạp từ khi mới ra lò, càng ngày càng thêm nặng mùi, thế là chung quanh nồi cháo là thứ rác, đủ loại, lẫn lộn với những thứ tốt, thật là” tả pín lú cháo heo”. Tuy nhiên, gã Thế Chôm là người” ở dơ như heo” nên chủ trương” xả rác” để làm phương tiện truyền thông câu khách; lý do là nơi nào có rác, dơ bẩn, là luôn có” ruồi nhặng” bay tới để cùng nhau hưởng những thứ phế thải, nhưng đối với thứ nầy là” đại yến tiệc”, là việc” nhớn” của gã Thế Chôm, chả thơm chút nào, bài nào cũng đăng, bất kể lập trường, thói thường kẻ thương buôn, luôn luôn kiếm lời, gặp thời lếu láo, làm báo lưu manh, chỉ mới tanh tanh, xưng danh nổ lớn, đúng là cà chớn.

Cái mục” Ý Kiến” bên dưới những bài viết của ai đó, hay chôm chỉa, được gã Thế Chôm cho phép xả rác, nên những” ý kiến phe ta” hay có” chính sách” từ băng đảng nào đó, thế lực đen, thế lực đỏ, thế lực nâu…. được gã cho” xả rác” bừa bải, nên ở chung quanh nồi cháo heo, luôn đầy cả rác rưới, tha hồ mà xả, nếu hiểu được ý của gã ” Chủ Chôm”, thì dù ý kiến có chứa cả tiếng Đan Mạch, gã Thế Chôm cũng cho là” ý kiến hay” và đăng lên. Phần” ý kiến” được coi là” chủ đạo” và câu khách, là phần” cò mồi” lộ liễu hơn cả:” đêm giữa ban ngày” của bầy quạ truyền thông, núp bóng take 2 tango, nhi nhô, thô lổ, nói năng vô bổ, chẳng rỏ lập trường, là phường nói bậy, che đậy mưu đồ” bôi nhọ” những người quyết tâm chống Cộng, nếu ai động tới thầy tổ, dù không có căn cơ, cũng quơ” phái hoại”, chụp mũ” CÔNG AN”, tha hồ cho đội nón cối, là lũ nói dối, a dua, thật là tai hại của gã vô loại Thế Chôm xả rác trên diễn đàn.

Do đó, cái mục nầy chính là” bải xả rác không người lái” được gã chủ bải rác kiêm chủ nồi cháo heo cho phép” đổ rác tự do” mà không sợ tội vạ gì, có đổ cứ đổ, rác, rác và rác…Cho nên những người ý thức, sau khi nhìn thấy nồi cháo heo và chung quanh đầy rác là tránh xa, vì đây là thứ rác” đa dạng” đủ thành phần, hể ai có Computor, trả tiền mướn đường dây internet, có biết chữ Việt” chút chút” là cứ gởi vài phần” ý kiến” để cùng nhau xả rác trong môi trường truyền thông, lợi dụng” diễn đàn tự do” để đánh phá những người quyết tâm chống Cộng; nên những ai ở sạch thì xa lánh cái nơi” làm ô uế môi trường truyền thông”, ngoại trừ những người bị mất thính giác, thị giác…là còn quờ quạng chung quanh nồi cháo heo.

Phần” ý kiến đọc giả” hay là” ý Kiến ĐỘC GIẢ” là trò chơi” bắn súng nước” con nít, thế mà gã Thế Chôm đưa lên hàng” chiến lược truyền thông” nhằm câu khách những thành phần không có khả năng nhưng thích làm” nhà phê bình văn học”ngang hông. Do đó, hầu hết những” nhà phê bình hay PHÊ-BINH” lập trường, a dua theo” chủ nhân nồi cháo heo” thường hổng dám đề tên thật, vì sợ bị lột mặt hay nhiều lý do khác. Đó không khác gì những tên” du kích” luôn mai phục sẵn trong phần” ý kiến” của nồi cháo heo, và khi” tình huống” thuận lợi”, cứ nhắm bắn bừa bải, nên những người viết văn kỳ cựu như Hoàng Hải Thủy, có cảm thấy” hồ hởi phấn khởi” không?

Khi những bài viết của mình ( có khi gởi lên hay bị chôm?) được những” bầy kên kên” rỉa, xẻ, mổ, xơi đến khi chỉ còn là bộ xương khô, là hoàn thành nhiệm vụ” xả rác truyền thông” một cách xuất sắc, núp dưới bóng” sinh hoạt dân chủ, tự do truyền thông”. Tuy nhiên phần ý kiến đọc giả nầy chính là” vũ khí bắn tỉa” của gã Thế Chôm, giống như cuộc” đấu tố bài viết”, rập khuôn theo kiểu” đấu tố địa chủ” hay là” đấu tố văn học” như vụ mổ xẻ” Văn Nhân Giai Phẩm”, được những tay ngang, cò mồi, tha hồ mà lên án những văn nghệ sĩ có tài vậy. Cho nên, xin đề cao cảnh giác với những cây viết kỳ cựu, chớ đừng gởi bài, cũng nên lên tiếng khi bị chôm bài và bị” đặt trong nồi cháo heo” và bị đám kên kên” ý kiến” tha hồ mà cắn xé theo” thú tính” của gả Thế Chôm.Những cơ quan truyền thôn đúng đắn, có lập trường rõ ràng, không dùng mục” ý kiến bá láp” để câu khách và cũng là cách tôn trọng những người nặn óc viết thành bài; đau lòng, khi thấy những bài viết có giá trị, đăng ở trên và bên dưới la liệt những thứ rác từ đám” ý kiến tạp nhạp” bôi đen, làm mất ý nghĩa, giá trị và phụ lòng người viết.

Một số thứ rác” không thể recycle” nhưng lại được những” đỉnh cao trí tuệ xả rác” mang về, đoạn đem vào chưng ở phòng khách, mang ra triển lãm, phô trương, là thứ rác mới như:” biểu tình tại gia, bất tuân dân sự”. Thứ rác nầy đã bị nhiều người cho vào thùng rác, nhưng có những kẻ” U-Mù” đầu óc như cõi VÔ MINH, tưởng đâu là thứ tốt, nhưng họ VINH MÔ mà biết được” Chỉ nhắm mắt đi theo tấm bản chỉ đường, có khi đi lần vào cõi ma quái, thì con đường biến nơi địa ngục Cộng Sản thành” thế giới cực lạc” là còn xa vời, khi mà hiện nay vẫn còn có lắm kẻ” trót nghe theo lời u mê”.

Trước 1975 ở miền Nam, có” ÔN” Thích Trí Quang, một thời vang lừng là” đức trọng cao dầy nên những Phật Tử có học như bác sĩ Nguyễn Duy Tài cũng còn tôn sùng; Thích Trí Quang từng đưa cho nhiều người” tiêu diêu nơi miền Cực Lạc” qua những biến động Phật giáo suốt hai thời kỳ đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa; nếu lúc các sư làm loạn miền Trung vào lúc chiếm ưu thế, trong tay có các đơn vị lính VNCH” giác ngộ” dưới trướng, ai dám chống lại Trí Quang là coi như tàn đời, cũng như đụng tới” pháp nạn” vậy.

Sau 1975, có Trí Siêu, Tuệ Sĩ….là những người” cam đảm” trong vụ án Già Lam và sau nầy trở thành” Già Hồ”, lòng người khó đo lường lắm. Đó là những kinh nghiệm xương máu, đừng bao giờ đặt hết lòng tin vào giới” Trung Gian tôn giáo” qua giới tăng ni nữa, vì ngày nay là mạt pháp, chánh tà khó biết, khi nào ló đuôi chồn mới hay, thì e là quá trễ đấy. Đạo Phật không bao giờ sai, dạy chúng sinh làm lành lánh dữ, tu thân, giải thoát; tuy nhiên bên cạnh đạo Phật, nhan nhản những kẻ xấu: mượn đạo tạo đời, mượn đạo tạo tiền, tạo danh, tại lợi, tạo thế….nên ngày nay trong hàng” trung gian Phật Giáo” xuất hiện đầy dẫy những” dâm tăng” mà người đời nói đùa là: Thích Âm Đạo, Thích Âm Hộ, Thích Ái Nữ, Thích Hành Lạc….còn ni như sư Chưn không cũng dám gọi là” Thích nữ THU ĐẠM” lắm!.

Thời mạt pháp thấy rõ như” đêm giữ ban ngày”, từ dâm tăng, thêm” sư tiếm danh, sư về nguồn luồn trôn Pác Pó” và nay thì” bất tuân dân sự, biểu tình tại gia..” xúi dân vào chỗ chết mà cho là” thượng sách đấu tranh” trong thời buổi kinh tế suy thoái mà dân” bất tuân dân sự, ở nhà, lấy gì mà sống?”, cư sĩ họ Võ thì lập trường trồi sụt như kinh nguyệt phụ nữ ( lúc cùng Nhất Hạnh phản chiến, khi làm lành với Quảng Độ, khi tố sư tiếm danh, khi đứng chúng tuyên cáo) thử hỏi, ngày nay Phật giáo” xuống cấp” như thế nào? Đồng bào và Phật tử chân chính biết tin ai bây giờ?

Nhân vô thập toàn, trên thế gian nầy, ai cũng sai lầm vài lần trong cuộc đời, nhưng làm sai mà biết sửa lại thì mới đáng quí trọng. Tuy nhiên có những người làm sai mà tự cao tự đại, ỷ là lãnh đạo, biến sai thành đúng, bên dưới có nhiều kẻ” tung hô” thì việc dẫn dắt nhiều người theo con đường trước mắt là” chệch hướng”. Điển hình là đảng cướp Cộng Sản Việt Nam, chúng cho là: triết học Marx Lenin không bao giờ sai, đảng Cộng Sản thi hành chủ thuyết Marx lenin không bao giờ sai, chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, là không bao giờ sai..” Cái vết xe đó trước mắt, tại sao không nhìn ra? Có phải là” cùng dắt tay nhau đi vào cõi vô minh không?”

Rác truyền thông khá nhiều, ngoài các thứ rác” cơ bản” nêu trên, còn có thứ” phế thải” của phụ nữ, như” Tã Hồng cài Háng”, Tu đạo, cụp lạc, căn tu, tam rờ ( núp bóng từ bi rờ đi, núp bóng thiên môn rờ L.., núp bóng thầy tu rờ Mu.), hang Pác pó…. Những thứ nầy được bỏ ngay vào thùng rác Đón Gió hay bất cứ thùng nào cũng được, miễn là đừng đổ ngoài thùng, là ruồi tới chia phần. Do đó, trong lãnh vực truyền thông, có sẵn những thùng rác, người ý thức nhớ câu” bỏ rác vào thùng”, chớ đừng xả bừa bải chung quanh nồi cháo heo như gã Thế Chôm nhé!. Trong” triết lý của nhà làm vệ sinh phòng dịch tể” cũng nên lấy câu:

” Lấy rác, xả rác, rác ấy chồng chất.
Lượm rác, quét rác, rác ấy tiêu tan”

Truyền thông cũng thế, hảy cũng nhau làm sạch diễn đàn, để cờ vàng được vinh danh, đừng đem đặt vào những ổ rác như nồi cháo heo do gã Thế Chôm làm chủ, đã vậy mà còn lợi dụng” hơi hám cờ vàng” để chụp nón cối, vu không công an cho người khác. Gã Thế Chôm có đủ tư cách để chụp nón cối lên đầu người khác hay không?. Nhưng khi cầm cái nón cối, chưa chụp trúng, là thiên hạ” phát hiện” ra bàn tay cầm nón cối, đó là đòn phản tác dụng mà nồi cháo heo thực hiện, tưởng là thành công, nhưng lòi ra thêm ổ du kích bắn xẻ” ý kiến đọc giả” luôn nằm mai phục, chực hờ” thề phanh thây, xé xác các bào viết chôm hay có người gởi” hay hùa theo các bài viết cò mồi do gã Thế Chôm tung ra khu muốn chụp mũ ai; thật là đốn mạt, đây không phải là làm truyền thông, mà là” đấu tố truyền thông” đấy.!..

TRƯƠNG MINH HÒA
31.05.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

June 1, 2009 Posted by | GÃ "THẾ CHÔM" : CHỦ NỒI CHÁO HEO KẺ XẢ RÁC TRUYỀN THÔNG ! | | Leave a comment

Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ – Đức Lợi Đà Nẵng

Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ – Đức Lợi Đà Nẵng

24-8-1964

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Cuộc Thảm Sát Bắt Đầu :

Khi nói đến Thanh Bồ, thì nhiều người đều có kèm theo Đức Lợi. Vì phường Thanh Bồ nằm phía mặt tiền, cổng quay mặt ra đường Đống Đa, còn phường Đức Lợi lại nằm phía sau Thanh Bồ sát bờ biển. Ngoài chiếc cổng nhỏ ở góc đường Bạch Đằng, người dân Đức Lợi và Thanh Bồ thường ra vào thành phố cùng một cánh cổng chính dẫn ra đường Đống Đa. Ngoài ra, hai khu này đa số là đồng bào miền Bắc di cư. Bởi thế, mọi người đều gọi chung là Thanh Bồ-Đức Lợi.

Sau khi đốt cháy tòa Thị Chính Đà Nẵng, các thầy chùa như: Thích Minh Chiếu, Thích Như Huệ, Thích Hạnh Đạo … và những hạ bộ như : Phan Xuân Huy, La Thành Tỵ … là đám cầm đầu ra lệnh cho đoàn biểu tình đi thẳng xuống Thanh Bồ- Đức Lợi.

Lúc Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc đến trước một cao ốc cho Mỹ thuê, phía trái cánh cổng Thanh Bồ, quay mặt ra đường Đống Đa. Đám này đã kiếm chuyện gây hấn với các nữ công nhân tại cao ốc này, chúng hét to bằng những lời lẽ hạ cấp, tục tỉu, vô giáo dục nhưng tôi chỉ ghi lại một câu thôi, nguyên văn như sau :

“ Ê ! Mấy con đĩ Mỹ … Mấy con đĩ Mỹ …”

Lúc đó, các nữ công nhân đang lau nhà ở lầu 01. Bỗng nghe những lời lẽ ấy. Tự ái và danh dự bị tổn thương. Nên trong số người đó, có chị Phạm Thị Liễu quê ở xã Kỳ Hà, Quảng Tín, ra Đà Nẵng làm công. Vì uất ức nên chị Liễu đã bưng nguyên xô nước bẩn đang lau nhà đem tạt thẳng xuống đầu đám “ Phật giáo Cứu quốc”.

Việc làm này của chị Liễu, nếu bình tâm mà suy xét, thì không thể trách chị được. Bởi các chị ấy, là những người dân từ các làng quê đã bị Việt cộng đánh chiếm, hoặc đã mất an ninh vì sợ bị VC bắt đưa lên rừng núi làm du kích, nên họ đã chạy về thành phố, nhưng chính quyền lại vô trách nhiệm, chẳng hề giúp đỡ một chút gì cả. Nên họ phải tự tìm cách để mưu sinh. Họ là những phụ nữ thật đáng thương. Ngược lại, “Phật giáo cứu quốc” chẳng những không hề thương xót mà lại còn buông những lời hạ nhục họ nữa ? !!!

Nhưng, mọi chuyện chưa kết thúc ở đó. Vì sau khi bị tạt nước lau nhà, Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc đã dùng gạch, đá ném lên tòa cao ốc này, làm mấy cánh cửa kiếng vỡ tan. Thấy vậy, một người Hoa Kỳ mới dọa bằng cách lấy súng tùy thân bắn mấy phát chỉ thiên. Rồi bảo công nhân vào nhà đóng cửa lại.

Không làm gì được chị Liễu. “ Lực lượng Phật giáo Cứu quốc” bèn kéo nhau tới trước cổng Thanh Bồ. Tay múa gậy, mồm la hét :

“ Cần Lao ác ôn ! Chúng mầy ở trong nầy ! Chúng mầy ra đây ! Chúng mầy không ra, thì chúng tao cũng vô lôi cổ chúng mầy ra mà đánh cho chết hết.”

Tiếp theo là những tiếng hét to hơn :

“ Bọn Cần Lao ác ôn, chúng nó ở trong nầy ! Vô đi ! Vô đi ! Giết sạch hết đi ! ”

Nghe những tiếng la hét như thế, đồng bào có mặt ở đó cứ tưởng là chúng la cho đỡ tức, vì bị tạt nước bẩn. Không ai ngờ là chúng giết người thật.

Thanh Bồ-Đức Lợi Máu Lửa :

Khi nghe những tiếng la hét vang dậy của lũ lục lâm. Và thấy đồng bào hoảng hốt. Vì Thanh Bồ-Đức Lợi cũng là khu Tổng kho, trong đó gồm có : Kho gạo, kho lương thực … Nên các chủ kho là những người đã có sáng kiến xây dựng lên chiếc cổng, mục đích để bảo vệ an ninh và tài sản của các kho. Họ thấy lo sợ nên đã bảo hai thiếu niên Phòng Vệ Dân Sự (PVDS) ra đóng cổng lại.

Thấy vậy, “Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc” liền xúm nhau xông vào phá cổng và túm lấy hai thiếu niên, rồi dùng gậy gộc, gạch., đá, nắm đấm, chân giày. Chúng cũng đã xúm nhau vào đấm, đá, đánh, đạp vào tấm thân gầy yếu của hai em, cho đến khi cả hai đếu gục chết.

Thương xót hai em, một Hạ sĩ quan Không quân không biết từ đâu chạy ra tìm lời phân giải. Thì lập tức lũ côn đồ này liền vồ lấy vị quân nhân, rồi cũng dùng gậy gộc, gạch, đá, đánh anh cho đến khi chết hẳn.

Nhưng “Phật Giáo Cứu Quốc” cũng chưa chịu buông tha. Mà chúng cùng nhau bẻ dây kẽm gai ở bờ tường rào, đem cột vào cổ hai thiếu niên và vị quân nhân. Rồi chúng xúm nhau đem treo cả ba cái xác chết này lên cổng Thanh Bồ mới hả dạ.

Trước mắt mọi người lúc ấy. Xác chết của hai em bé, bị treo lơ lửng trên cổng Thanh Bồ. Hai cái cổ của hai em bị gãy nơi bị cột dây thép, máu ứa ra từ những chổ có mắt kẽm gai đâm vào. Đầu ngã sang một bên. Áo quần đẫm máu. Cả khuôn mặt đã biến dạng, sưng vù. Bốn dòng máu đỏ sẫm ứa ra từ hai chiếc miệng của hai em dù đã chết. Nhưng bốn con mắt ngây thơ của hai em đều mở to nhìn xuống đám “ người” đã nhân danh là “ Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc”!!!

Nhưng chưa hết đâu. Bởi trong cơn say máu người “Phật Giáo Cứu Quốc” đã ồ ạt xông vào khu dân cư Thanh Bồ-Đức Lợi. Tay vung gậy gộc, gạch, đá mồm la hét :

“Cần lao ác ôn đâu ! …Giết hết …! ”

Rồi có những tiêng la to :

“Hãy đốt nhà chúng nó ! Đốt hết ! Đốt sạch đi ! ”

Chúng cũng đã dùng loa phóng thanh kêu gọi :

“Yêu cầu đồng bào Quảng Nam, hãy mau mau tách rời khỏi dân Bắc cầy, và gia nhập vào Lực lượng Phật giáo Cứu quốc, thì nhà sẽ được chừa ra không bị đốt.”

Nhưng đồng bào Quảng Nam chẳng có một người nào chịu nghe lời của chúng cả. Vì chỉ có người ngu tới tin là “ Gia nhập LLPGCQ, thì nhà sẽ được chừa ra không bị đốt”. Vì lửa đâu có biết phân biệt cái nhà nào là của người Quảng hay người Bắc. Bởi nhà cửa liền nhau, hể đốt một cái là nó sẽ lan ra cháy sạch hết cả Thanh Bồ-Đức Lợi.

Vả lại, qua những năm dài chung sống với người Bắc di cư, người Quảng Nam đâu có thấy “ Cần Lao ác ôn” ở chổ nào, mà họ chỉ thấy đồng bào miền Bắc với những tấm lòng đầy nhân ái. Vì thế, máu của đồng bào Quảng Nam đã hòa lẫn với máu của đồng bào miền Bắc trong cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi !

Sau một hồi la hét, chẳng thấy bóng dáng ai cả. Chúng đã dùng xăng tưới vào mấy căn nhà nhà của đồng bào ở đầu con đường chính dẫn vào Thanh Bồ-Đức Lợi và châm lửa đốt.

Lúc này, dân Thanh Bồ-Đức Lợi đa số là ngư dân nên đàn ông đã ra biển. Chỉ còn đa số là phụ nữ và trẻ em.

Khi ngọn lửa bốc cháy, thì những người không ra biển hôm ấy đã kêu gọi mọi người chạy ra phường Đức Lợi ở ven biển phía sau Thanh Bồ. Rồi tất cả đồng bào Thanh Bồ- Đức Lợi đều bồng bế nhau lên thuyền cùng chạy ra khơi để tỵ nạn Phật giáo.

Trừ bốn nạn nhân đã bị chết thảm trước mắt đồng bào, đó là : Ông Trần Sô sau khi bị đánh chết, đã bị dập đầu, hai em bé và vị Hạ sĩ quan Không quân sau khi bị đánh chết đã bị treo cổ trên cổng Thanh Bồ bằng dây kẽm gai. Ngoài ra, không ai biết chính xác được về con số thương vong, trong cuộc thảm sát này. Vì ngay cả chính quyền lúc ấy đã làm ngơ, không hề để tâm đến, không hề giúp đở đồng bào lâm nạn. Nhưng người ta đều biết đã có những cụ già, em bé, phụ nữ mang thai không chạy kịp, nên sau đó người thân chỉ còn tìm lại được nắm xương khô trong đống lửa đã tàn, vì cả hai phường Thanh Bồ-Đức Lợi đã bị cháy sạch.

Riêng số đồng bào chạy thoát được lên thuyền, cũng lâm vào cảnh rất thương tâm:

Bởi, khi cố chạy từ trong đám cháy để thoát thân, nên rất nhiều người lớn, bé đã bị bỏng, bị thương, mà họ không hề mang theo được một thứ gì để cứu thương cả. Vì thế, có những phụ nữ mang thai đã sinh non trên thuyền, đã chết cả mẹ lẫn con. Đến lúc các thuyền tìm cách đưa những người bị thương đến các bệnh viện, thì có người đã chết. Còn các bệnh viện lúc ấy đã chứa đầy bệnh nhân và cũng là nạn nhân của Phật giáo tại Thanh Bồ-Đức Lợi.

Cũng trong “ Mùa Biển Động- tập 1” Nhà văn Nguyễn Mộng Giác có viết về cuộc thảm sát này như sau :

“Cháy, cháy. Chúa ơi ! Chúng nó đốt nhà. Cứu tôi với ! … Khói ngùn ngụt bốc lên, cùng với tiếng nỗ gỗ và tre nỗ lốp bốp … Thanh niên cầm sẵn Garant vẫn được phát cho Nhân dân tự vệ khu từ trước. Toán thanh niên ô hợp cầm biểu ngữ truy lùng Cần Lao vừa hiện ra thì tất cả chuông nhà thờ đều rung lên liên hồi. Cuộc thánh chiến bắt đầu.”

Những điều nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã viết ở trên. Tôi chắc chắn chỉ đúng với chuyện đốt nhà, và cái đám “truy lùng Cần Lao”. Nhưng “Thánh chiến” thì KHÔNG. Vì “Phật giáo Cứu quốc” đánh, giết người, đốt nhà, còn đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi chỉ biết bồng bế nhau chạy lên thuyền ra khơi để trốn. Chứ không có vũ khí, không chống trả lại PGCQ, nên không có thánh chiến. Và tôi cũng khẳng định là dân Thanh Bồ-Đức Lợi không có “cầm sẵn Garant” không có nhân dân tự vệ, mà chỉ có Phòng Vệ Dân Sự (PVDS). Lúc đó, chỉ được phát gậy để phòng gian. Mà PVDS cũng chỉ toàn là thiếu niên vì các thanh niên từ 18 tuổi trở lên đều đã lên đường nhập ngũ.

Về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, ( LLNDTV) thì ai cũng biết là sau tết Mậu Thân 1968, chính phủ mới cho thành lập lực lượng NDTV có vũ trang. Nhưng đa số là nữ và những người ngoài hạn tuổi quân dịch. Đều được phát súng Carbine M.1 hoặc M. 2. Còn súng Garant thì có phát nhưng vì NDTV đa số là thiếu nữ, nên nhiều người khi bắn không kềm giữ súng được nên lúc bắn thường hay bị giật mạnh, khiến báng súng dộng vào ngực rất đau. Một điều khó nữa là súng Garant lúc đó khó tìm được đạn, vì loại súng nầy vốn là của lực lượng Dân Vệ rồi chuyễn sang cho Nghĩa Quân để lại, khi họ đem giao nộp để nhận súng R.15. Thêm nữa là súng Garant cồng kềnh, và nặng các thiếu nữ và những người già thuộc LLNDTV không chịu nhận. Tôi dám chắc là nhà vãn Nguyễn Mộng Giác không rành về các loại súng và bắn súng như tôi đâu, dù tôi là phái yếu.

Tuy nhiên, tôi cảm thông được là nhà văn Nguyễn Mộng Giác, vừa viết vừa run. Vừa sợ không bán được sách. Bởi mười năm trước đây. Chính ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong và tôi cũng từng bị lũ lục lâm hăm dọa, khi ông chấp nhận đăng những bài viết của tôi trên báo. Ông đã hỏi tôi: “Có dám bất chấp mọi thứ hay không ?“ Và tôi đã trả lời với ông rằng tôi đã sẵn sàng trước khi viết. Dù bây giờ ông đã ra đi, nhưng cho đến giờ nầy và mãi mãi tôi vẫn giữ bút hiệu Hàn Giang kèm theo tên thật để nhớ về ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng.

Vậy, từ nay nếu có viết về các biến cố “Tranh Đấu” của các thầy chùa tôi dám mong nhà văn Nguyễn Mộng Giác hãy viết những gì thật trung thực và đầy đủ. Đó là điều mà những người cầm bút phải luôn luôn tâm niệm.

Trở lại với cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi. Tôi muốn nhắc đến một người dù đã chết. Đó là tướng Nguyễn Chánh Thi.

Ấy là, sau khi nhà cửa của đồng bào bị “Phật giáo Cứu quốc” đốt cháy sạch sẽ, Thanh Bồ-Đức Lợi chỉ còn một bãi cháy, với từng đống cột, kèo và từng vật dụng đã trở thành những đống than, tro. Thì không biết tại sao tướng Nguyễn Chánh Thi lại ngồi trên một chiếc xe tăng thiết giáp. Chỉ huy một đoàn thiết kỵ, trang bị vũ khí đủ loại ầm ầm tiến về phía Thanh Bồ-Đức Lợi.

Khi đến trước cổng Thanh Bồ, tướng Thi đã dùng loa phóng thanh kêu gọi như sau:

“Yêu cầu tất cả Cần Lao hãy mau mau ra đầu hàng trong vòng bốn tiếng. Nếu sau bốn tiếng đồng hồ mà không ra đầu hàng tôi sẽ cho san bằng tất cả “.

Sau bốn tiếng đồng hồ, không thấy động tĩnh. Tướng Thi đã ra lệnh cho đoàn xe tăng thiết giáp tiến sâu vào Thanh Bồ-Đức Lợi. Lúc đó, tướng Thi thấy được toàn cảnh chỉ là một bãi cháy. Ông bèn dùng loa phóng thanh hỏi có ai trong khu này không , Thì bỗng có mấy cụ bà xuất hiện. Hỏi ra, các cụ vừa khóc vừa cho biết là con cháu chưa đứa nào dám trở về cả. Nên các cụ liều thân về trước xem thử tình hình ra sao, không ngờ tất cả đều cháy sạch sẽ.

ME/Nguyen-ob

Nguyễn Chánh Thi

Người ta thấy khuôn mặt tướng Thi lúc ấy có vẻ như đang suy nghĩ điều gì ? Rồi ông buột miệng nói :

“Đ. M. Cái thằng Minh Chiếu nó bịp tao mà. Chỉ có mấy bà già. Cần Lao đâu ? “

Sau đó, tướng Thi đã ra lệnh cho “Lực lượng Phật Giáo Cứu Quốc” phải rút khỏi các khu của đồng bào miền Bắc di cư.

Qua những sự kiện đã kể ở trên, tướng Thi bây giờ đã chết. Nhưng Hòa thượng Thích Minh Chiếu, Hòa thượng Thích Như Huệ, Hòa thượng Thích Hạnh Đạo, Hòa thượng Thích Minh Tuấn… hiện còn sống, đang có mặt tại Hoa Kỳ và Úc Châu. Ngày 1/10/2003, đã được đại hội Phật giáo “Suy cử” vào “Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Tất nhiên, phải biết rõ hết tất cả mọi căn nguyên.

htnhuhue

Thích Như Huệ

HT_HanhDao

HT Thích Hạnh Đạo

ht7

trai

TT Thích Minh Chiếu Trưởng Ban HDPT tỉnh phát biểu khai mạc

Cảnh Ngộ Của Đồng Bào Thanh Bồ- Đức Lợi Sau Cuộc Thảm Sát.

Sau cơn máu lữa, quay thuyền trở lại, thì đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi đã bàng hoàng trước một bãi than, tro tàn rộng lớn, trãi dài theo ven biển. Những tiếng khóc ngất, kẻ lịm đi trước nắm xương tàn khô của người thân vừa tìm được trong sân nhà cũ !!!

Nhưng cái khó khăn nhất trước mắt. Là mọi người phải đối diện với cảnh màn Trời chiếu đất! Tất cả đều bị cháy sạch. Không có bộ áo quần thứ hai, không còn một chiếc đũa ãn cơm!

Trước cảnh Trời sầu đất thảm ấy. Các vị đã chứng kiến cuộc thảm sát. Trước hết là các vị Linh Mục của các giáo xứ như: Linh Mục Nguyễn Quang Xuyên, Quản nhiệm Nhà thờ Chính Tòa, Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Linh Mục Hoàng Hồ, Linh Mục Đinh Văn Lợi, Linh Mục Lê Như Hảo, Linh Mục Lê Như Hào…

Kế đến là các tôn giáo như : Mục Sư Minh (xin lỗi tôi quên họ). Mục Sư Dương Thạnh, và các tín hữu Hội Thánh Tin Lành ĐN. Mục Sư Dương Thạnh hiện nay là Chủ tịch Tổng Liên Hội Tin Lành Viêt Nam. Quản nhiệm ngôi nhà thờ Tiên khởi của Hội Thánh TLVN tại số 164, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

Giáo Sĩ Trần Văn Quế, Chánh Phối Sư Cao Đài Miền Trung, Giáo sĩ Trần Thanh Thuyền, Phụ tá Chánh phối sư, Đặc trách ngoại giao Cao Đài Miền Trung và Hội Thánh Cao Đài thuộc “ Trung Hưng Bửu Tòa Cơ Quan Truyền Giáo Cao Đài Miền Trung ” ở số 35, đường Nguyễn Hoàng, Đà Nẵng. Tôi xin nói thêm là Cao Đài Miền Trung không trực thuộc Cao Đài Tây Ninh.

Và các vị nhân sĩ tại Đà Nẵng đã kêu gọi đồng bào đóng góp giúp đỡ như : Bác sĩ Trần Đình Nam, Bác sĩ Thái Cang, Bác sĩ Huỳnh Tấn Đối, Bác sĩ Lê Nguyên Các, Giáo sư Trịnh Thể, Giáo sư Nguyễn Văn Xuân, Luật Sư Vũ Đăng Dung, Luật Sư Đặng Vũ Niết, Luật Sư Trương Thị Thúy và các Đoàn thể chính trị tại ĐN ..

Sau khi được sự giúp đỡ. Đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi đã tự dựng lên những chiếc lều bằng vải bạt, hoặc bằng lá. Rồi họ phải làm lại từ đầu như mười năm trước. Khi phải đứt ruột để rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn nơi cố lý của miền Bắc thân yêu, để vào miền Nam chạy trốn cộng sản.

Về phía chính quyền. Cũng có một số người muốn giúp đỡ, nhưng họ nói họ rất sợ tướng Nguyễn Chánh Thi. Bởi lúc ấy, sau khi tướng Tôn Thất Xứng vì sợ Phật giáo nên đã vào Sài Gòn tránh mặt. Vì vậy, tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Tiền Phương đã xử lý Thường vụ Tư lệnh Quân Đoàn 1, kiêm Tư lệnh Quân khu 1, kiêm xử lý Đại Biểu Chính Phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Mà ác hại thay, tướng Thi lại có vai trò quan trọng trong cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi. Vì thế, như đã nói là các viên chức chính quyền tại ĐN, rất sợ tướng Thi và thầy chùa. Mà trước mắt là cái chết thảm khốc của ông Trần Sô và hai em bé và vị quân nhân Không quân đã làm mọi người khiếp đảm, nên không có ai dám ra mặt giúp đỡ đồng bào. Ngay khi Phật giáo tưới xăng và đốt nhà của đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi mà sở cứu hỏa cũng đành ngồi nhìn ngọn lữa đốt sống đồng bào, trong đó có những cụ già, em bé, những phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, cùng lúc với nhà cửa và tài sản do mồ hôi nước mắt của họ đã bao năm gầy dựng bởi “Ăn dè hà tiện”.

Và cũng chính vì những điều đã nói ở trên. Bởi, những kẻ cầm đầu của cuộc thảm sát này, không hề bị xét xử theo luật pháp nghiêm minh. Nên nó đã di hại cho đến các cuộc Bạo loạn miền Trung: Mùa hè 1966- Cuộc thảm sát Mậu Thân 1968- và 30/4/1975: Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay cộng sản. Và không biết nó sẽ còn di họa cho đến bao giờ–? !!!

Thay Cho Lời Kết.

Như cả nước Việt Nam đều biết. Mấy chục năm qua Phật giáo đã từng đẻ ra rất nhiều những tổ chức ngoại vi. Từ danh xưng “Gia đình Phật tử” do Bác sĩ Lê Đình Thám, một đảng viên cộng sản kỳ cựu thành lập. Thực ra, cũng là một cách “Đoàn ngũ hóa nhân dân”.

tammin1

Cho đến những tổ chức sau này. Nhưng có những tổ chức đã gây ra máu lữa nhiều nhất mà ai cũng biết, nó được dán lên những nhãn hiệu khác nhau như sau :

*- Lực lượng Phật giáo cứu quốc, Lực lượng Thanh niên Phật tử cứu quốc: Cuộc thảm sát Thanh Bồ-Đức Lợi : 24/8/1964.

*- Phật Giáo Xã Hội Đảng, Quân đoàn Vạn Hạnh , Lực lượng Tranh thủ Cách mạng, Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử: Cuộc bạo loạn miền Trung: Mùa hè 1966. Và Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân: 1968.

*- Lực lượng Phật giáo Hòa hợp, Hòa giải : 30/4/1975, Đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội cộng sản Bắc Việt vào các thành phố, trên khắp lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng lịch sữ đã chứng minh. Trên mặt địa cầu này. Tất cả những cuộc chiến chinh, đều có căn nguyên, có mục đích. Riêng những cuộc “Đấu tranh” của Phật giáo tại Việt Nam với những lý do mà họ đã nêu ra đều không phải là thật.

Theo tôi, với khối óc và cặp mắt bình thường. Tôi khẳng định rằng: Sỡ dĩ bao nhiêu năm qua, Phật giáo cứ liên tục gây ra không biết bao nhiêu máu lữa. Không biết bao nhiêu người đã chết thảm dưới bàn tay của những tên Tăng Phỉ và lũ Hạ Bộ. Ấy chính bởi cái cuồng vọng là muốn tái lập triều Lý. Phật giáo luôn luôn mơ màng về một triều đại Phật giáo là quốc giáo, và chỉ còn có Phật giáo.

Chính vì vậy, để đạt được cái cuồng vọng ấy. Phật giáo đã chủ trương phải tiêu trừ, tận diệt hết tất cả các tôn giáo khác. Đồng thời, cũng phải tận diệt hết tất cả các đảng phái chính trị . Để cuối cùng, chỉ còn duy nhất Phật giáo là tôn giáo và cũng là Phật đảng. Tất cả phải thần phục Phật giáo.

Tôi nghĩ rằng, trong tương lai, dù không còn cộng sản. Dù bất cứ một đảng phái nào, một vị nào dù tài cao đức trọng có đứng ra lãnh đạo đất nước. Thì Phật giáo cũng cứ ca những bài : Độc tài, Gia Đình trị, Pháp nạn… Rồi cũng lại, Tranh đấu, Biểu tình, Xúi dục người khờ dại tự thiêu, nếu không có ai chịu tự thiêu, thì bức tử, rồi đem ra đốt, có khi đem xác chết ra để đốt, rồi hô hoán là họ “tự thiêu”. Tôi sẽ chứng minh những điều đã nói, bằng những tài liệu và hình ảnh làm giặc của thầy chùa thật chính xác trong thời gian tới.

Nghĩa là, ngày nào chưa thành lập được một Việt Nam Phật Quốc. Thì ngày đó, Phật giáo còn “tranh đấu”.

Nhưng ở đời “Mưu sự tại nhân, Thành sự tại Thiên“. Theo tôi, Phật giáo nên theo lời Đức Phật đã dạy mà hãy “Tự đốt đuốc tìm đường mà đi”. Bởi PG qua bao nhiêu năm vẫn còn ngủ mê trong đêm dài tăm tối.

Tuy nhiên, nếu vẫn cứ ôm hoài cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Thì hãy cứ mơ, cứ tưởng, cứ phiêu lưu mãi trên con đường đầy chông gai và đầy bất trắc. Nhưng cũng phải nên nhớ kỹ rằng :

“Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ”.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

================================

PHỤ CHÚ:

Chú Ý: Phần tài liệu dưới đây để nhìn rõ bộ mặt của Nguyễn Đắc Xuân và những tên Cộng Sản phật giáo, trí thức dính máu đồng bào vô tội. Xin đừng quên những nạn nhân vô tội đã chết oan ức .

Ai gây ra vụ đốt phá
Thanh Bồ Đức Lợi ở Đà Nẵng 45 năm trước ?

NguyenDacXuan

Nguyễn Đắc Xuân

tác giả gửi ngày 27 tháng 1, 2009

Bốn mươi lăm năm trước, ai gây ra vụ đốt phá xóm đạo Thanh Bồ Đức Lợi ở Đà Nẵng vào ngày 25-8-1964 ? Đây là một câu hỏi những người trong cuộc hiện còn tại thế cần phải trả lời cho lịch sử Phong trào đấu tranh đô thị ở miền Nam Việt Nam.

Ông Lê Công Cơ – một người lãnh đạo bí mật thanh niên sinh viên học sinh Giải phóng ở các đô thị Đà Nẵng-Huế trong hồi ký Năm Tháng Dâng Người (Nxb Phụ Nữ, 2006) kể lại rằng:

“Tiếp sức với Huế (đấu tranh chống Nguyễn Khánh với Hiến Chương Vũng Tàu do Khánh nặn ra), lực lượng của ta tại Đà Nẵng đã chủ động tổ chức bãi khóa và xuống đường. Hàng vạn học sinh Đà Nẵng giương cao biểu ngữ:

– Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu !

– Đả đảo Nguyễn Khánh!

[…]

Dòng biểu tình cứ kéo qua các phố chính tại Đà Nẵng không dứt, càng về trưa dòng người càng đông nghịt, ngăn tất cả các lối đi trong thành phố. Sơn Hải và Cẩm Nhung cùng một số cốt cán của ta dẫn đòan biểu tình đến thẳng khách sạn Đà Nẵng, nơi mà các gia đình cố vấn Mỹ ở.

Đòan biểu tình vừa đến thì một số lính Mỹ đứng trên tầng cao khách sạn ném chai lọ xuống và to mồm chửi tục. Lập tức, dòng người biểu tình ào vào xông lên khách sạn, lính Mỹ nổ súng, cuộc ẩu đả xảy ra mỗi lúc một ác liệt. Cuộc biểu tình lui về phía Thanh Bồ Đức Lợi để tránh đạn, thì từ phía sau nhiều tóan thanh niên được trang bị gậy gộc xông vào đánh túi bụi đám đông đang cố thủ dọc đường rầy xe lửa. Thế là một cuộc đánh nhau đã diễn ra giữa đòan biểu tình với khu Thanh Bồ Đức Lội, cho mãi tới xế chiều đòan người được tăng viện mỗi lúc một đông hơn và cơn giận đã biến thành ngọn lửa đốt rụi nhiều nhà tại đây.

Tôi đến tận nơi lúc trời gần tối, gặp Sơn Hải và anh Đồng đang gào thét :“đả đảo Mỹ” với hàng ngàn người biểu tình. Tôi kéo anh Đồng lại và nói ngay:

– Hãy hướng dẫn đòan biểu tình về ngay Tòa Thị chính Đà Nẵng bên bờ sông Hàn.

Hàng vạn người tràn qua đường Bạch Đằng nối theo không dứt và tràn vào chiếm tòa Thị chính”. (tr. 208-209).

Qua đọan trích trên chứng tỏ ông Lê Công Cơ (CS) đã lãnh đạo các cơ sở Giải phóng ở Đà Nẵng mà chủ chốt là Sơn Hải, Cẩm Nhung và sau đó có thêm anh Đồng hô hào quần chúng Đà Nẵng chủ động đến khách sạn Đà Nẵng chống Mỹ, chủ động chống lại thanh niên Thanh Bồ Đức Lợi và cũng chủ động gây lên cuộc đốt phá khu Thanh Bồ Đức Lợi và chủ động hô hào đồng bào rút khỏi Thanh Bồ Đức Lợi để về chiếm tòa thị chính Đà Nẵng.

Có đúng như vậy không ?

Trong lúc đó, Phạm Văn Liễu, trước năm 1966, từng đứng đầu ngành công an cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa , trong hồi ký Trả Ta Sông Núi lại cho rằng cuộc bạo động ở Thanh Bồ Đức Lợi do sự hiềm khích giữa Phật tử và thanh niên Thiên chúa giáo Đà Nẵng gây ra:

“Ngày 25-8, bạo động đổ máu ở xã Thanh Bồ, Đà Nẵng. Khi một đòan biểu tình đi ngang qua trạm tự vệ của xã Thanh Bồ, một số tự vệ có thái độ khiêu khích. Những người đi biểu tình bèn tấn công trạm tự vệ trên. Tự vệ Thiên chúa giáo nổ súng khiến 11 người chết, 42 người khác bị thương. Hàng ngàn Phật tử bèn tràn vào đốt phá xã Thiên chúa giáo nầy. Khỏang 500 căn nhà trong xã chỉ còn ít chục căn nguyên vẹn”. (Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi tập 2, Nxb Văn Hóa tại Hoa Kỳ, 2003, tr.143).

Cái dư luận “Phật tử gây ra vụ đốt phá khu Thanh Bồ Đức Lợi” đã qui trách nhiệm cho ông Hòang Văn Giàu – người đứng đầu đòan Sinh viên Phật tử Huế lúc ấy. Nhiều người hỏi tôi (một Sinh viên Phật tử của Hòang Văn Giàu những năm 1963-1964) dư luận ấy có đúng không ? Tôi đã kể lại rằng:

– Lần đầu tôi nghe chuyện Thanh Bồ Đức Lợi bị đốt phá ở phòng riêng ông Hòang Văn Giàu (Đòan trưởng đòan SVPT Huế), trên dãy lầu sau Morin. Hôm ấy ông tiếp sinh viên ban sử địa Đại học Văn khoa Lê Đình Cai. Không biết hai người đã trao đổi với nhau trước đó những gì, tôi đến sau chỉ nghe ông Giàu phê bình Lê Đình Cai đã gây ra vụ đốt phá Thanh Bồ Đức Lợi trái với đường lối bất bạo động của Phật giáo. Lê Đình Cai ngồi chống cằm nghe rất buồn. Lê Đình Cai vốn có họat động với Đòan SVPT nhưng từ sau ngày bị ông Giàu phê bình như thế Lê Đình Cai xa dần chúng tôi. Có người giải thích rằng Lê Đình Cai bị SVPT bỏ rơi nên mới chuyển qua họat động cho đảng Đại Việt. Người khác lại bảo Lê Đình Cai đã là đảng viên Đại Việt trà trộn vào họat động với Phật tử sau khi bị khuyết điểm với Phật giáo Lê Đình Cai ra mặt họat động cho Đại Việt thế thôi. Lê Đình Cai có thời là bạn học sử với tôi nhưng chưa bao giờ tôi hỏi chuyện ấy thực hư như thế nào.

Biết chắc Phật tử không gây ra vụ Thanh Bồ Đức Lợi cho nên trong Nhật ký của tôi viết ngày 25-8-1964, (do Nhận Thức xuất bản tháng 11-1964), có đọan:

“Ngày hôm qua đã nói hình như có đến ba bốn người chết và mấy người bị thương. Máu đã chảy thì không có nước sông biển nào rửa sạch. Máu của những người yêu nước chỉ có lịch sử mới đánh giá được. Người ta đã tự tạo ra những đối lực dùng người VN trị người VN những người VN ở Đànẵng và ở Thanh Bồ ơi, ai là người VN của người VN ai là người VN không phải của người VN?

Dù sao mình cũng phải nhận rằng: đó là một bài học của những người thiếu kỹ thuật và ít sành tâm lý. Con người vốn có mặc cảm có tội dù cái mặc cảm không phải do con người thời đại đã tạo nên mà do khúc quanh của lịch sử.

Chúng ta phải đổ máu để tranh đấu cho nước VN nhưng chúng ta đừng làm vấy máu của người VN”. (Nguyễn Đắc Xuân, Chứng Nhân Của Miền Trung Tranh Đấu, Nxb Nhận Thức, Huế 11-1964, tr. 38 và 39)

Mới đây trên Website tại địa chỉ “www.giaodiemonline.com/thuvien/mluc/ mluc_II06/606_khaiphong- hvg.htm-63k”Thêm một nạn nhân của nạn lộng quyền ở trại tị nạn Songkhla: Hoàng Văn Giàu” của Trường Giang. đăng lại tờ Khai Phóng – một tạp chí của cư sĩ Phật giáo đầu tiên trên đất Mỹ, xuất bản năm 1981, mở đường cho tiếng nói giải hoặc lịch sử, trong số 4, tháng 6/81 có đề cập đến tai ương chính trị mà ông Hòang Văn Giàu đã gặp phải trên bước đường “lưu đày” trong bài mang tựa đề :

Trong bài viết ấy có một đọan đề cập đến vụ Thanh Bồ Đức Lợi như sau:

“Biến cố này xảy ra năm 1964, và khởi sự từ một cuộc biểu tình do Đảng Đại Việt Cách Mạng tổ chức để phản đối Thủ tướng Nguyễn Khánh trong việc tranh chấp quyền lực giữa lãnh tụ đảng này với Thủ tướng Nguyễn Khánh.

Kẻ tổ chức cuộc biểu tình này là Lê Đình Cai, đặc trách Thanh niên, Sinh viên Học sinh của Đảng này tại miền Trung vì thiếu tổ chức và lãnh đạo cho nên sự việc đã xảy ra như sau : Đám biểu tình được hướng dẫn qua một khu dân cư, một bên kia là khu các bar, các room-for-rent cho lính Mỹ thuê ở. Đám biểu tình bị các cô bán bar trêu ghẹo diễu cợt. Một số người biểu tình phản đối, đấu khẩu, một số lấy đá ném các cô. Các cô ấy hoảng hốt kêu cứu các ông bạn Mỹ. Những người Mỹ này tưởng lầm bị biểu tình tấn công, lấy súng bắn. Dân biểu tình hoảng hốt dạt về phía bên làng Công giáo. Vốn sẳn mặc cảm bị đàn áp sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đổ, nhưng người dân nơi đây tưởng là đám biểu tình tấn công, nên họ đã nổ súng vào đám biểu tình khiến có người chết và người bị thương. Quân đội và Cảnh sát phải đến can thiệp và đòi giải giới dân Thanh Bồ Đức Lợi. Họ không chịu. Quân đội phải nổ súng thị uy và tiến vào. Trong lúc đó, một số nhà bị cháy, một số do chính dân trong khu đốt để vu cáo cho quân đội theo phe biểu tình đàn áp họ. Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ vụ này. Ngoài ra, một nạn nhân khác của vụ Thanh Bồ Đức Lợi đã viết sách có nói đến vụ này, đó là nhà văn Lệ Hằng và quyển “Bản Tango Cuối Cùng”, sách đã được tái bản ở Hoa Kỳ. Tác giả là người Công giáo và ở Thanh Bồ Đức Lợi. Phật tử Huế cũng như Hoàng Văn Giàu không dính líu gì đến vụ này” .

Tiến sĩ Quán Như Phạm Văn Minh tại Úc châu, trực tiếp hỏi chuyện lịch sử Hòang Nguyên Nhuận (tức Hòang Văn Giàu), còn lưu lại trên Website tại địa chỉ

www.giaodiem.com/doithoai/phongvanhvg.htm , đã đặt câu hỏi :

“Có những điều không sáng tỏ và đã trở thành mục tiêu để người ta công kích anh như vụ đem bàn thờ Phật xuống đường, vụ Thanh Bồ, các hành động chống Mỹ như đốt xe, đốt phòng thông tin, thư viện, đòi Mỹ rút quân… Hypothetically nếu làm lại thì theo anh nên làm thế nào?”

Hòang Nguyên Nhuận (tức Hòang Văn Giàu) đáp:

[…] Thanh Bồ Đức Lợi ở Đà Nẵng là một biến cố xảy ra ngoài ý muốn của chúng tôi và cũng không do chúng tôi tự ý gây ra trước. Sự việc xảy ra là vì giáo dân trong vùng đã bị tẩy não nên quá lo sợ sẽ bị trả thù. Họ đã phản ứng quá đáng rồi gây đổ máu vì trong tay họ sẵn súng đạn mà họ đã thủ đắc một cách hợp pháp qua chính sách Ấp Chiến Lược và âm mưu thành lập các đặc khu yễm trợ cho chiến dịch xâm nhập Miền Bắc của Mỹ. Giáo dân trong vùng đã nổ súng và ném lựu đạn vào đoàn biểu tình tay không. Lệ Hằng đã nói lý do nào gây ra vụ này trong quyển Bản Tango Cuối Cùng. Lệ Hằng là người Thanh Bồ Đức Lợi và đã sống ở đó trong thời gian xảy ra vụ nầy. Tướng Thi lúc đó là Tư Lệnh Khu XI Chiến Thuật hẳn cũng còn nhớ vụ này khi ông cho lệnh tước khí giới của những toán dân quân tự vệ trong Thanh Bồ.[…]”

Hòang Văn Giàu đề cập đến “giáo dân Thanh Bồ Đức Lợi có sẵn súng đạn” và tướng Nguyễn Chánh Thi “cho lệnh tước khí giới” các giáo dân.

Vậy tướng Nguyễn Chánh Thi còn nhớ vụ Thanh Bồ Đức Lợi như thế nào ?

Trong hồi ký Việt Nam Một Trời Tâm Sự, Nguyễn Chánh Thi viết:

“Đòan biểu tình được một số người quá khích và Cộng sản xúi giục có ý định đốt phá các làng di cư Tam Tòa, Thanh Bồ và Đức Lợi. Tôi nhận được kêu cứu của vị tham mưu trưởng Quân đòan, cho biết là tình trạng rất nguy hiểm mà thiếu tướng Tôn Thất Xứng và ông Thị trưởng Đà Nẵng là Lê Quang Mỹ vắng mặt (Tin cho biết, tướng Xứng đi sài Gòn, còn Lê Quang Mỹ lánh mặt vì được tin dân chúng có ý định đốt tòa Thị chính và bắt ông ta làm con tin). (Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam Một Trời Tâm Sự, Anh Thư xuất bản tại California, 1987, tr.245).

Qua các tư liệu hiện có ta có thể khái quát sự kiện Thanh Bồ Đức Lợi như sau:

Nhân kỷ niệm một năm Pháp nạn, (21.8.1963-21-8-1964) Sinh viên học sinh và đồng bào Phật tử xuống đường tranh đấu chống độc tài Nguyễn Khánh và Hiến chương Vũng tàu. Không khí tranh đấu ở Huế lan vào các tỉnh miền Trung. Lê Đình Cai – đặc trách Thanh niên, Sinh viên Học sinh của Đảng Đại Việt, mượn danh nghĩa Sinh viên Phật tử Huế vận động quần chúng Đà Nẵng (trong đó có nhiều người là Phật tử), đi biểu tình “phản đối Thủ tướng Nguyễn Khánh”, một phần vì mục đích chống độc tài của quần chúng và một phần thể hiện “việc tranh chấp quyền lực giữa lãnh tụ đảng này với Thủ tướng Nguyễn Khánh”. Thấy quần chúng Đà Nẵng xuống đường tranh đấu chống Nguyễn Khánh và Hiến chương Vũng Tàu, ông Lê Công Cơ-người lãnh đạo bí mật thanh niên sinh viên học sinh Giải phóng, chưa biết đó là cuộc xuống đường do đảng Đại Việt giật dây cũng vận động cơ sở hợp pháp tham gia. Đoàn biểu tình diễu qua khách sạn Đà Nẵng – nơi có các bar, các room-for-rent cho Cố vấn quân sự Mỹ thuê ở. Đoàn biểu tình bị các cô bán bar diễu cợt. Một số người biểu tình phản đối, đấu khẩu, một số lấy đá ném các cô. Các cô ấy sợ hãi bèn kêu cứu với “cố vấn” Mỹ. “Cố vấn” Mỹ tưởng lầm là mình bị biểu tình tấn công nên xách súng ra bắn tứ tung. Đoàn biểu tình tay không hoảng hốt chạy dạt vào các làng Thiên chúa giáo di cư Thanh Bồ, Đức Lợi ở bên kia đường sắt. Thanh niên Thiên chúa giáo trong các làng di cư nầy, vốn có mặc cảm là người của chế độ Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ, nghĩ rằng họ bị Phật tử tấn công, nên sẵn vũ khí đã thủ đắc một cách hợp pháp qua chính sách Ấp Chiến Lược và âm mưu thành lập các đặc khu yễm trợ cho chiến dịch xâm nhập Miền Bắc của Mỹ, đã nổ súng và ném lựu đạn vào đoàn biểu tình tay không.

Thông tin đồng bào và Phật tử bị giết phát tán khẩn cấp khắp thành phố Đà Nẵng, dân chúng các nơi đổ về, một cuộc xung đột đốt phá đẫm máu diễn ra ở Thanh Bồ Đức Lợi. Cuối cùng ông Nguyễn Chánh Thi -tư lịnh khu 11 chiến thuật của Quân đội VNCH phải đưa một tiểu đòan Biệt động quân và một Tiểu đòan bộ binh đi kèm theo đến tước khí giới của những toán dân quân tự vệ trong Thanh Bồ mới dẹp yên được. Theo Đòan Thêm (1945-1964, Việc từng Ngày, Nam Chi Tùng Thư, 1966, tr. 402) cuộc xung đột ấy đã có “11 người chết, 42 bị thương, nhiều nhà bị đốt”. Những con số của Đòan Thêm ghi được nhỏ hơn con số thực tế nhiều lần.

Sự kiện gọi là “vụ Thanh Bồ Đức Lợi” là một việc đáng tiếc do sự hiểu lầm từ nhiều phía (“Cố vấn” Mỹ, Thanh niên tự vệ Thiên chúa giáo ở Thanh Bồ Đức Lợi, quần chúng trong tay những người thiếu kinh nghiệm tổ chức đấu tranh). Nguyên nhân gây ra sự kiện nầy do tâm lý bất ổn của các thành phần tham gia, không một ai muốn nó xảy ra như thế cả.

Đính chính sự kiện nầy để cho nó đúng với thực tế đã xảy ra, đồng thời ghi lại một sự kiện không vui trong lịch sử đấu tranh chống Mỹ và chống các chính quyền tay sai ngọai bang ở các đô thị miền Nam 45 năm trước.

Gác Thọ Lộc, đầu năm 2009

Nguồn: Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam (CSVN), số Xuân 205 (1-2009) từ tr.51 đến tr.54

Vào lúc : 10:55 – 20/10/2008

Những ai từng quen biết tôi (đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay), từng đọc bài “Hậu quả của cái chết của tôi” trên Đông Dương Thời Báo và Nghiên Cứu Huế (số 1, năm 2000) gần mười năm nay, đọc Nhã Ca hồi ký vừa xuất bản ở Hoa Kỳ chắc họ đã có ý kiến, đã thấy Nhã Ca dựng thêm một hình tượng “Nguyễn Đắc Xuân lớ ngớ đi tìm thăm Nhã Ca” như thế nào rồi. Hình tượng nầy ngược với hình tượng “Nguyễn Đắc Xuân khát máu ngồi xử án chôn người, bắn một người bạn có mâu thuẫn với mình” trong Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca xuất bản 1969. Đối với tôi, đoạn hồi ký Nhã Ca viết về tôi quá lạ.

NguyenDacXuan

Nguyễn Đắc Xuân

Người cầm bút xứ Huế

Sinh ngày 15-7-1937 tại Huế.

Ba tuổi theo gia đình sống ở Đà Lạt, Đà Nẵng, Quang Ngãi cho đến năm mười bảy tuổi mới về lại Huế.

Cựu học sinh Quốc Học Huế (1956-1961), Cựu sinh viên Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Huế. Từ năm còn ngồi trên ghế trường Trung học đã bắt đầu làm thơ, có thơ in từ năm 1959. Tham gia các Phong trào đấu tranh chống Mỹ ở đô thị, đến năm 1966 (học xong Đại học Sư phạm Việt Hán) theo bạn Hoàng Phủ Ngọc Tường ra vùng kháng chiến, làm thơ viết báo. Năm 1974, ra Hà Nội đi dự Đại hội Sinh viên Quốc tế lần thứ 11 tại Hungary, sau đó đi Trung Quốc chữa bệnh gan đến sau 30-4-1975 mới trở về lại Huế. Từ đó đến năm hưu trí (1998), đã từng công tác ở Hội Văn nghệ Thừa thiên Huế, Tuyên huấn Thành ủy Huế, Hội Văn nghệ TP Huế (Chủ tịch Hội), tạp chí Sông Hương (Phó TBT kiêm thư ký Tòa soạn), báo Lao Động (Trưởng VP Miền Trung và Tây Nguyên). Bên cạnh cuộc đời làm cán bộ công chức, NĐX có một đam mê sưu tầm tư liệu và nghiên cứu Huế và triều Nguyễn. Đã xuất bản trên 50 đầu sách, tham dự hàng chục Hội thảo khoa học về văn hoá lịch sử Triều Nguyễn và Huế.

HẬU QUẢ CỦA “ CÁI CHẾT ” CỦA TÔI
Nguyễn Đắc Xuân

Một ngày vào năm 1970, cơ sở của Thành uỷ ở Huế gởi báo cáo ra cho biết Chánh phủ Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn vừa trao cho nhà văn nữ Nhã Ca một giải thưởng lớn dành cho cuốn Bút ký Giải Khăn Sô Cho Huế – cuốn sách nói xấu lực lượng cách mạng trong tết Mậu thân. Đặc biệt chương 7 Chuyện Từ Thành Nội viết xuyên tạc các hoạt động cách mạng của anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường – Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, và các vị nhân sĩ trí thức trong Liên minh các LLDTDC và HB Thành phố Huế .v.v. Anh Tống Hoàng Nguyên-phụ trách an ninh của Thành uỷ cho tôi mượn cuốn sách, tôi đọc thấy ở Chương 7 viết về nhân vật Đắc “là một sinh viên trẻ trung, hăng hái..Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tù hình hàng loạt người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tội”. Bài ghi chép xem Đắc như một dẫn chứng về tội ác nhồi sọ trí thức của Cộng sản.

Biết Nhã Ca viết ám chỉ mình, nhưng đọc xong chương sách tôi không hề giận tác giả, chuyện phục vụ tâm lý chiến rẻ tiền, cặp vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca phụ trách nguyên cả một chương trình của đời Tự Do của Mỹ tôi còn lạ gì. Chỉ buồn cười thôi. Các hoạt động của tôi ở Huế dân Huế biết, các đồng chí đồng sự của tôi hiện còn đang sống đều biết rất rõ. Giữa một cuộc chiến đấu lớn lao, đông đảo như thế, tôi xử ai và tôi giết ai tôi không thể làm một mình và chắc chắn 30 năm qua những đối tượng ấy không thể làm thinh trước dư luận báo chí trong và ngoài nước. Tôi đã mở toà án ở đâu và xử ai ? Đến nay ở nước ngoài có lẽ Nhã Ca có thể viết rõ ra để chứng minh tính chân thực của cuốn sách được Nguyễn Văn Thiệu trao giải năm nào. Còn tôi,-một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa. Những chuyện Nhã Ca bóp méo sự thật vẽ rắn thêm chân chẳng quan hệ gì với tôi.

Nhã Ca hay Trần Thy Nhã Ca là bút hiệu của cô Thu Vân. Thu Vân học một lớp với bà chị họ Nguyễn Thị Xuyến của tôi. Tôi gặp Thu Vân ở nhà chị tôi ở đường Chi Lăng nhiều lần. Cô không đẹp, khuôn mặt hơi nặng nên bọn em trai của chị tôi cùng thế hệ với cô lúc ấy ít người để ý đến cô. Năm cô đang học đệ Tam hay đệ Nhị gì đó ở trường Đồng Khánh cô có làm một bài thơ nhan đề Quê ngoại (hay Quê mẹ ?) và gởi cho báo Văn nghệ Tiền Phong- một tờ báo lá cải ở Sài Gòn lúc ấy. Bài thơ chưa được đăng thì cô nhận được thư của một người mang tên Hoài Nam – nhân danh một người có quyền ở báo Văn Nghệ Tiền Phong, báo cho cô biết bài thơ cô đã bị vứt sọt rác, nhưng may mắn Hoài Nam nhặt được, đọc thơ thấy tác giả là một cô gái Huế có tâm hồn nên đã đưa bài thơ lên báo. Hoài Nam trở thành ân nhân của Thu Vân. Từ đó Thu Vân và Hoài Nam có quan hệ tình cảm với nhau. Tôi không nhớ rõ vào năm 1959 hay 1960 gì đó, Thu Vân hồ hỡi lên ga Huế đón bạn Hoài Nam ra thăm người yêu ở Huế. Tàu đến, cô hồi hộp vô cùng. Nhưng quái lạ, trong những khách đi tàu xuống ga cô không thấy có người nào để cô có thể nhầm đó là Hoài Nam được cả. Cô nữ sinh Thu Vân thất vọng đứng nép mình bên sân ga. Bỗng nhiên cô thấy có người đàn ông đi sau cùng, tay xách cái túi con, mặt rỗ, tóc đỏ bù xù trước mặt. Thấy Thu Vân, người đó hỏi:” Cô có phải là Thu Vân không ?”. Vượt quá sức tưởng tượng của mình, Thu Vân đáp :” Không. Tôi không phải là Thu Vân”.

Hai người lặng lẽ ra ga, mỗi người đi về mỗi ngã. Thu Vân về nhà ở Bến Ngự. Người khách chính là Hoài Nam về nhà Ngô Đức Chương-một người làm thơ ở với mẹ già tại một ngỏ hẹp của đường Ngô Đức Kế trong Thành Nội. Như chợt có khách thơ, Chương mượn tôi[1] cái giường bố cho Hoài Nam nằm. Hằng ngày Hoài Nam viết truyện ngắn hay làm thơ đăng trên nhật báo Công Dân của Lê Trọng Quát kiếm tiền độ nhựt. Về sau, có lẽ hối hận về hành động phủ phàng của mình, Thu Vân đã tìm đến với Hoài Nam và hai người đã yêu nhau thật sự ngay trong nhà Ngô Đức Chương. Sau đó Thu Vân bỏ học vào nam với Hoài Nam và hai người có hai bút hiệu mới là Trần Dạ Từ và Trần Thy Nhã Ca.

Trong những năm Huế luôn có những phong trào đấu tranh chống Mỹ Thiệu Kỳ, ở Sài Gòn Trần Dạ Từ viết cho mấy tờ báo của Chu Tử thân chính quyền Sài Gòn và có quan điểm chống Cộng rất gay gắt. Trần Dạ Từ có nhiều bài viết xuyên tạc phong trào đấu tranh ở miền Trung, xúc phạm đến nhiều bậc đáng tôn kính ở Huế. Do đó mùa hè năm 1966, Trần Dạ Từ ra Huế tiếp tục nói xấu phong trào miền Trung đã bị anh em Sinh viên Quyết tử chiến lại tại sân bay Phú Bài và buộc anh phải rời miền Trung. Sau đó tôi quá bận với việc đối phó với những lời đe doạ “ làm cỏ” phong trào miền Trung của Thiệu Kỳ, tôi không theo dõi được những bài viết của Trần Dạ Từ về miền Trung nên không rõ anh đã có ý nghĩ về tôi như thế nào. Còn tôi, lúc ấy chuyện quan điểm đấu tranh bất bình với nhau là chuyện bình thường. Không riêng gì những người tay sai Mỹ-Thiệu Kỳ có quan điểm khác chúng tôi, ngay trong hàng ngũ sinh viên tranh đấu chúng tôi vẫn có những chuyện không chịu nhau và sát phạt nhau. Nhưng khi hết tranh đấu rồi lại chơi với nhau bằng tình bè bạn. Những quan điểm trái ngược nhau trong lúc đấu tranh trở thành những kỷ niệm. (Dĩ nhiên những người tôi nói đây thuần túy sinh viên, trí thức, không thuộc phe nhóm đảng phái chính trị nào). Tôi đã nghĩ và đã sống suốt những năm sinh viên như thế.

Sau 1975 về lại Huế, trong các chiến dịch “chống văn hoá độc hại của Mỹ ngụy” (3.1976) nhiều người đặt bài cho tôi viết lên án Nhã Ca. Tôi từ chối. Lý do: Thứ nhất, sách của Nhã Ca có nêu đích danh tôi đâu mà tôi phải lên tiếng. Thứ hai, dù sao Nhã Ca cũng là bạn của chị tôi, nỡ nào tôi lại “đánh” người dưới ngựa bạn của chị mình. Nếu sau giải phóng tôi viết bài đả kích Nhã Ca, ngành nội chính sẽ có thêm căng cứ để kéo dài thời gian học tập của cô lâu hơn. Như vậy nó trái với con người của tôi. Tôi không viết.

Bẵng đi mấy năm không còn có dịp nhắc đến Nhã Ca nữa. Rồi đến một dạo trước năm 1980 (tôi không còn nhớ đích xác năm nào) tôi vào Saigon, được anh Phương H� ở báo Đại Đoàn Kết cho mượn một chiếc xe đạp để đi tìm mua tài liệu cũ về Huế xưa. Nhà anh ở trên tầng cao của cái Building ngay ngã tư Đồng Khởi-Lê Thánh Tôn. Khi gởi xe cho người giữ ở tầng trệt xong, tôi thả bộ dọc đường Đồng Khởi tìm mua cho con anh Phương H� một gói bánh. Cách đó khoảng năm sáu gian phố gì đó tôi thấy có cái quán giải khát vắng vẻ, bên ngoài kê một cái tủ kính bên trên có mấy thẩu bánh (ga-tô hay bánh thuẫn ? ). Nhìn vào trong không thấy khách chỉ có một người đàn bà với nét mặt nặng và buồn, mái tóc thề tóc cắt ngắn ngang vai. Tôi hỏi:” Chị làm ơn bán cho mấy cái bánh!”. Người đàn bà đến mở nắp thẩu lấy bánh cho tôi. Khi tay cô vừa chạm vào mấy cái bánh trong thẩu thì như bị điện giật cô rút tay ra và chụp cái nắp nhôm xuống miệng thẩu kêu một cái cốp rồi quay lưng vô nhà. Tự nhiên tôi kêu lên :
-” Thu Vân ! Tại sao thấy moa, toa lại bỏ đi ?”.
Người đàn bà quay lại nét mặt thảng thốt:
-” Tôi nghe người ta nói anh đang tìm tôi để giết tôi nên sợ quá …!”.
-” Vì chuyện nhân vật Đắc toa viết trong giải Giải Khăn Sô Cho Huế phải không ?” Tôi hỏi và nói tiếp-” Chuyện của nhân vật Đắc có liên quan gì đến moa mà moa tìm giết toa ! Mà làm sao moa có thể giết toa dễ dàng đến vậy !”

Nghe thế có lẽ Nhã Ca thấy đúng là con người thật của tôi khác với con người cô tưởng tượng sau khi tôi tham gia kháng chiến, cô lấy lại tư thế bình thường. Cô không mời nhưng tôi vẫn vào kéo ghế ngồi. Nhã Ca miễn cưỡng ngồi vào ghế đối diện tiếp tôi. Tôi không gọi cô là Nhã Ca, không nói chuyện sách vở mà gọi cô là Thu Vân và chỉ nói về chuyện chị Xuyến tôi vừa vượt biên qua Úc.

Thu Vân cho biết Hoài Nam đang còn học tập chưa về, cô được về sớm để chăm sóc các con. Hoàn cảnh cô đang rất khó khăn. Khó nhất là không ai có sổ gạo. Đến khi câu chuyện trở nên thân tình tôi hỏi thật cô:
– Vì sao năm 1968 Thu Vân lại viết về nhân vật Đắc để ám chỉ tôi như thế?
Thu Vân trả lời rất thành thật :
– Lúc đó ai cũng nói anh chết rồi, chớ ai ngờ …
– Sao Thu Vân lại nỡ dựng chuyện ác cho em của một người bạn mình như thế ? Tôi hỏi với giọng trách móc.
– Như anh biết đó – Thu Vân giải thích- viết ký thì phải có những con người bằng xương bằng thịt mình biết rõ ràng mới hay, chứ anh nghĩ lính giải phóng ở miền Bắc vào tôi nào có biết ai đâu ?
– Té ra như vậy.

Sở dĩ có chuyện không tốt ấy xảy ra là vì nhiều người tin tôi đã chết. Hồi tháng 10.1996, trong một bữa cơm thân mật ở nhà chị Tr� My-anh Phạm Doãn Để ở quận 18 Thủ đô Paris tôi kể lại chuyện gặp lại Nhã Ca trên đường Đồng Khởi trên đây, hai anh chị cười vang :
– “Thế mà bao năm nay anh chị cứ trách Xuân !”.
– Vâng, không phải chỉ có anh chị trách mà còn nhiều người nữa.

Người ta nói tôi đã chết không phải vì ghét tôi hay bịa ra để có chuyện nói với những người thích bày chuyện. Ngay những người rất thương tôi “đã có đầy đủ chứng cứ về cái chết” của tôi.

Sau ngày giải phóng 1975, tôi vào Nha Trang thăm một người bạn vong niên ở 12 Bến Chợ – nhà thơ cổ điển Quách Tấn. Lúc đó mắt anh đã yếu, tôi bước vào nhà rồi mà anh vẫn không nhìn ra tôi. Thấy anh ngồi bên cạnh cái bàn thờ kê giữa nhà, tôi mừng quá gọi lớn :
– “Thưa anh, anh vẫn khoẻ chứ ?”.
Quách Tấn ngước mắt nhìn tôi đầy vẻ kinh ngạc :
– “ Ai mà nghe quen quen đó ?”.
-“ Em đây ! Nguyễn …- người được anh hướng dẫn để nghiên cứu về Bích Khê và Đào Tấn thuở nào đây !”.
Quách Tấn hốt hoảng:
-” Chú Xuân, chú là người hay là ma hiện về đó ?”
Tôi đâm ngạc nhiên :
– ” Em là Xuân đây chứ sao lại là ma !”.
Giọng đoan chắc, Quách Tấn nói tiếp:
-“ Chú chết rồi mà! Tôi đã cúng cơm cho chú nhiều lần rồi mà! “

Tự nhiên tôi khóc. Quách Tấn cũng khóc. Hai anh em ôm nhau. Quách Tấn nói trong nước mắt:
– “Chú chết rồi làm sao chú có thể sống lại và về thăm tôi đây ! Tôi không thể nào hiểu được”.

Sau cái phút bàng hoàng đó, Quách Tấn kể chuyện anh đã nhận được tin tôi đã chết như thế nào :
Năm ấy, sau khi lực lượng giải phóng rút ra khỏi Huế, một người học trò cũ của anh là sĩ quan, trong lúc chỉ huy quân đội dọn dẹp những đổ nát trong Thành Nội, thì phát hiện trong một ngôi nhà sập ở đường Âm Hồn có mấy xác chết đã sình thối, bên cạnh có một tay nải may bằng vải dù bọc cái ví da đựng 200$ bạc Sài Gòn, một Thẻ Sinh viên mang tên Nguyễn Đắc Xuân, một số thư từ, trong đó có thư của l.m.N.N.L. gởi cho Nguyễn Đắc Xuân từ tháng 7.1966 và một xấp nhật ký. Anh sĩ quan nầy vốn là học trò cũ của Quách Tấn nghĩ cái tay nải nầy là của một trong những người đang nằm chết đây. Người sĩ quan liền giấu cái ví và đem về Nha Trang bí mật khoe với thầy. Biết chuyện ấy Quách Tấn đã khóc và không dám nói với người học trò cái tay nải nầy là của chính một người bạn vong niên của mình. Quách Tấn giấu gia đình dẹp một góc bàn thờ bên cạnh chỗ anh đang ngồi hôm nay đặt một chén cơm cúng tôi. Kể đến đó anh lại ôm tôi :
-“ Không ngờ chú vẫn sống và nhớ vào thăm tôi. Đời sao mà có chuyện lạ kỳ đến vậy ! Làm sao chú có thể sống được, chú kể cho anh nghe coi !”.

Nghe đến đó tôi hiểu ra ngay. Chuyện thật đơn giản.
Hôm đó có lẽ quân giải phóng đã chiếm Huế trên mười ngày rồi. Suốt ngày làm việc, đêm ngủ dưới hầm đất, thân thể chúng tôi đứa nào cũng bẩn như hủi. Nhân một buổi trưa vắng tiếng súng tôi theo chân cô Đoan Trinh – con cụ Nguyễn Đoá, về nhà cô ở đầu kiệt 2 đường Âm Hồn xin nước giếng tắm. Tôi mới vào phòng tắm, vừa cởi cái tay nải ra khỏi thắc lưng treo lên cửa thì pháo Mỹ rót ầm ầm xuống khu vực chúng tôi đang có mặt. Nhà cụ Đoá sập, một vài bộ đội tự vệ đang trú trong nhà chết và bị thương nặng. Tôi hoảng hốt chui ra khỏi nhà chạy thụt mạng vào phía Đại Nội. Và từ đó chiến trường quá ác liệt, tôi không còn có dịp trở lại kiệt 2 Âm Hồn để tìm cái tay nải nữa. Không ngờ nó đã văng đến cạnh một người nào đó đã chết và cuối cùng lọt vào tay người sĩ quan học trò cũ của anh Quách Tấn.
Quách Tấn ở tận Nha Trang Khánh Hòa mà còn biết chuyện tôi đã “chết “ cụ thể đến thế huống chi Nhã Ca lúc đó đang ở Huế ? Và không riêng gì Nhã Ca, có một sinh viên lúc ấy tưởng tôi “chết” thật đã ung dung “mượn” cái luận văn tốt nghiệp của tôi ở Đại học Sư phạm Huế về Hát Bội để chế biến lại làm luận văn Cao học của mình và vẫn được chấm đậu như thường. Sau 1975, gặp tôi ở trường Âm nhạc Huế, anh Hoàng Hữu Pha- người anh con ông bác ruột của Hoàng Phủ Ngọc Tường, báo cho tôi biết chuyện ấy, không những tôi không buồn mà ngược lại tôi đã bảo anh Pha :
-” Tôi không còn cần cái luận văn ấy nữa, có người đã biết sử dụng nó như thế cái công làm luận văn của tôi không đến nỗi không có ích”.
Cuộc đời tưởng đã chết mà lại sống, ôi có gì quý hơn nữa đâu !

Nhân đây tôi cũng ghi lại chuyện anh T.M.T. gặp tôi trong Tết Mậu thân. T.M.T. là một sinh viên hoạt động rất tích cực khi thành lập Đoàn sinh viên Quyết tử. Trong 3 đại đội của Đoàn, T.M.T. làm đại đội trưởng Đại đội 1. Đại đội nầy vừa “ra trường Văn Thánh” là vào Đà Nẵng hoạt động ngay. Tôi phụ trách đoàn nên phải ở lại Huế tiếp tục huấn luyện cho Đại đội 2 và 3. Đại đội 1 có một tiểu đội “tác động tinh thần” phụ trách phát thanh, báo chí. Phần lớn những ngưòi trong tiểu đội là bạn thân tôi và về sau tôi được biết nhiều người trong tiểu đội là cơ sở của giải phóng.

Một buổi chiều đang ở Đông H� tôi được anh Lý Văn Nghiên (sinh viên Hán Học) điện thoại gọi tôi vào để giải quyết khó khăn của Đại đội. Tôi vào ngay Đà Nẵng, tôi đến “bản doanh” của Đại đội tại trường Bồ Đề, T. đi vắng, anh em phản ảnh cho biết mấy hôm nay không hiểu sao chiều nào T. cũng say và có nhiều hành vi khó hiểu. Ví dụ như trong một đêm anh em đang ngủ, T. cho người lăn một cái thùng phuy rỗng trên đường Quang Trung ầm ầm, rồi hô hoán là “xe tăng địch”, gọi anh em dậy xả súng bắn tơi bời, làm náo động cả Thành phố Đà Nẵng. Lực lượng ly khai ở Đà Nẵng (do đại tá Đàm Quang Yêu, thiếu tá Tôn Thất Tương, thiếu tá Tôn Thất Trai đứng đầu) lên án sinh viên Quyết tử làm loạn, đòi giải giới sinh viên. Tôi mời họp Đại đội ở cái phòng đầu tiên của dãy lầu xây thẳng góc với đường Quang Trung. Họp được một lúc thì T. chân thấp chân cao về. Thấy tôi đang ngồi ở bàn thầy giáo chủ trì cuộc họp, T. rút dao găm đeo bên hông ném thẳng vào mặt tôi, anh em đội viên hét lên, tôi cúi đầu kịp và cây dao oan nghiệt cắm sâu vào cái bảng đen sau lưng tôi. Anh em bắt T. giam lại và bầu Lý Văn Nghiên thay T. làm Đại đội trưởng. Sau đó Lý Văn Nghiên đưa Đại đội vào Tam Kỳ rồi Quảng Ngãi hoạt động. Hôm Đại đội từ Quảng Ngãi về, T. đến Tổng hội sinh viên đòi phục chức Đại đội trưởng. T. doạ sẽ bắn chết những ai không nghe lời T. Dĩ nhiên là chẳng có ai sợ và cũng chẳng có ai nghe theo lời T. Từ đó T. trở thành một người đối lập với sinh viên tranh đấu, sinh viên làm gì T. cũng tìm cách quậy phá. Một buổi tối sinh viên tuyệt thực ở bùng binh Morin, để bớt căng thẳng chúng tôi tổ chức hát và ngâm thơ. Tôi đọc một bài thơ mới. Khi mới đọc đến câu:
“ Đã bảy lần tham gia tranh đấu
Bảy lần phải đổ máu, mồ hôi
Dân tộc nầy chưa có hòa bình,
tôi vẫn còn tranh đấu mãi không thôi …”

Đang nằm với anh em sinh viên tuyệt thực, T.liền đứng dậy rút súng lục chĩa sau lưng tôi:
-” Không tranh đấu nữa, câm mồm ngay không thôi tau bắn nát óc !”.

Thật kinh khủng. Nhưng cho đến lúc đó tôi vẫn cho rằng T. không được làm Đại đội trưởng nên bất mãn, uống rượu say làm bậy thôi. Khi cuộc tranh đấu bị đàn áp, T. ở lại không bị hề hấn gì trong lúc nhiều sinh viên chỉ tham gia tranh đấu sơ sơ cũng đều bị tù đày. Thế mới biết T. là người của ai. Những người am hiểu tình hình đảng phái ở Huế lúc đó cho tôi biết T. là đảng viên đảng Đại Việt, anh ta được chỉ đạo tham gia tranh đấu để loại trừ ảnh hưởng của Giải phóng và lái phong trào theo đường lối chính trị của đảng Đại Việt. Đến khi không lái được thì quay qua phá hoại. Chuyện đó cũng dễ hiểu. Trong những năm trước đã xảy ra một số trường hợp tương tự như thế rồi. Sau khi chúng tôi lên rừng, T. bộc lộ rõ ý đồ chính trị của mình, anh lên án chúng tôi là “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”.

Đến tết Mậu thân, hình như đến ngày mồng ba mồng bốn gì đó, đội công tác thanh niên chúng tôi đang đào hầm trú ẩn cá nhân trước sân một ngôi nhà ở kiệt 1 đường Âm Hồn, vào lúc xế chiều, có người dẫn độ T. vào gặp tôi. Thấy tôi đang đứng trước thềm nhà, T. hồ hỡi phấn khởi giang hai tay đến ôm tôi và nói:
– “ Bọn tự vệ bắt mình, mình nói là bạn với X. nên họ đưa mình qua đây !”
Nghe T. nói như vậy anh tự vệ dẫn độ T. giang ra. T. đặt tôi vào một hoàn cảnh rất khó xử. Giả như tôi không giận T. mà sau lưng tôi là anh Hoàng Minh Loan- Thành ủy viên, chính trị viên của đội công tác thanh niên, một người rất am hiểu tình hình tranh đấu ở nội thành và chung quanh tôi có nhiều sinh viên đã biết rất rõ hành vi chống đối sinh viên tranh đấu của T., tôi cũng không thể tỏ ý thân thiện với T. lúc nầy được. Nếu tôi không thể hiện rõ về lập trường quan điểm chính trị của mình tôi sẽ bị tình nghi “quan hệ với địch” và sẽ bị tống cổ lên rừng ngay, hậu quả sẽ không lường hết được. Bản năng tự vệ trong tôi buột tôi phải la lên :
– “ Tao mà là bạn của mày được sao !”- Tôi chỉ cái hầm cá nhân đang đào dang dở trước sân nói tiếp- “ Chuyện chi còn có đó. Xuồng ngồi dưới cái hầm cá nhân đó !’.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân vừa qua, đảng viên của những đảng phái chống Cộng nếu họ bị bắt giữa lúc giao tranh thì họ khó lòng sống được. Trường hợp của T.M.T. dễ chết như không. Nhưng không hiểu sao, anh Hoàng Minh Loan lại giao T. cho tôi quản lý giống như các anh đã giao hoạ sĩ Lê Văn T� i cho Đội công tác thanh niên ngay lúc lực lượng giải phóng mới chiếm được Huế. Các anh muốn thử thách người quần chúng Phậ tử nầy chăng ? Thật khó cho tôi.

Cuối cùng tôi đã có một giải pháp. Bên cạnh chỗ tôi đóng quân có nhà của ông nhạc nhà báo Vĩnh Tháp. Vĩnh Tháp ở Vỹ Dạ lên nhà vợ ăn tết gặp lúc chiến sự xảy ra anh tham gia với chúng tôi. Tôi đưa cho T.M.T. một xấp giấy manh và bảo qua nhà anh Vĩnh Tháp ngồi tường thuật những hành động phá hoại phong trào sinh viên của T. T.vâng lời. Chúng tôi gởi cho Vĩnh Tháp một ít tiền lo chuyện ăn uống cho T. Nhưng sau đó chúng tôi bị căn cứ Mang Cá rót đạn cối vào nhà, phải di chuyển ngay chỗ ở. Và tôi cũng không còn có dịp gặp lại T. nữa. Sau Tết Mậu thân nhiều tháng, chúng tôi bị Mỹ rượt chạy lên tận miền tây ở biên giới Lào, mất hẵn liên lạc với Huế cho nên tôi cũng không biết tình hình Huế sau khi chúng tôi trở lại rừng xanh ra sao. Hơn một năm sau tôi mới nghe tin T. đã chết trong tết Mậu thân.
Những khi gặp những người quen biết T., chúng tôi thường đưa ra mấy giả thiết về trường hợp T. chết như sau: Một : sau khi khu vực nhà ông nhạc của anh Vĩnh Tháp bị bom đạn, T. đã trốn ra bên ngoài rồi bị bom đạn lạc giết chết ở dọc đường, hai : T. ra ngoài chạy loạng quạng bị tự vệ hay bộ đội bắn chết; ba: cũng có thể, sau khi T.được tôi gởi qua nhà anh Vĩnh Tháp, những người lãnh đạo lực lượng vũ trang trong Thành nội lúc ấy cho bắt lại và “giải quyết” theo lời phán xét của ông thần chiến tranh. Rất tiếc sau nầy có nhiều lần gặp lại anh Vĩnh Tháp, tôi hỏi anh lúc ấy T. đã chết như thế nào, anh bảo : “Lúc đó ác liệt quá mình mình cũng không còn nhớ.” (Hiện nay anh Vĩnh Tháp còn khoẻ mạnh ở Vỹ Dạ Huế).

Tôi thoát ly đúng vào lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất. Có biết bao đồng chí đồng đội của tôi đã ngã xuống nhưng ít có cơ hội để tôi viết về họ. Cái chết của T. cũng thế. Nhưng vì Nhã Ca đã viết không đúng với sự thực, nếu tôi không viết thêm đoạn nầy thì người đọc trong các thế hệ sau sẽ khó có được một tư duy đúng đắn về sự kiện nầy.

Lịch sử rất khách quan, không ai vu khống được và cũng không xuyên tạc được. Những ai cố tình xuyên tạc, vu khống lịch sử là tự mình gởi lại tương lai một tội lỗi không thể bào chữa được.
Nguyễn Đắc Xuân

ĐDTB, ngày 17/6/06
Trích ĐDTB
NDVN, ngày 28/9/06

Lời bàn:
Giả tỷ như lời ông Nguyễn Đắc Xuân là thật, là bà Nhã Ca gán tội giết đồng bào ở Huế năm Mậu Thân cho ông là “sai người, sai tên”, nhưng ông vẫn cố tảng lờ không trả lời vậy ai là thủ phạm thật giết đồng bào vô tội ở Huế ? nếu không phải là ông thì phải là đoàn ngũ cán bộ csvn khác chứ! Chưa kể chuyện của “ông T.” mắc mớ chi với đề bài đánh trống chạy tội “giết người” của ông đây?

Đã thế trong bài nầy ông Xuân viết giải thích như là ông là người tốt, không nhớ thù dai, không quên tình nghĩa bạn bè? Xin lỗi nghe, láo quá đi! Láo như vẹm chính tông.

Người tốt, người khôn, người hiểu chuyện, người hai mang, và đã từng tiếp xúc và sống tại Miền Nam và trong bộ đội, cả 2 bên, thì làm gì mà không biết bọn cs tuyên tuyền xảo trá mà theo bọn csvn giết nhân dân đồng chũng của mình? Hơn nữa lại là người có học có trí thức biết nhận xét đúng sai? Tôi nghĩ ông là người láo khoét và đần độn thật sự hay vì là sự cố thù hằn riêng tư gì đó với người Việt Quốc gia nên muốn đi ngược lại họ chống lại kẻ thù riêng mà thôi!

Nguồn: Tạp chí Sông Hương

=============

Thư viết tay ngày 24.7 của Thượng tọa Thích Minh Tuấn (Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đánh máy lại), minh xác :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định
« Phật lịch 2552, Nguyên Thiều ngày 24/7/2008

« Kính gởi : Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN « (v/v xác minh các thông tin bịa đặt, ngoài phạm vi quản lý của Tu viện)

« Ngưỡng bạch Hòa thượng,

« Sau lễ tang của Hòa thượng Bổn sư của chúng con, Đức Tăng thống Giáo hội. Tại Tu viện Nguyên Thiều vốn u buồn lại còn u buồn hơn khi tiếp nhận những thông tin cho rằng phát xuất từ bản thân con (Minh Tuấn) và thầy Đồng Thọ. Cụ thể là việc công bố Chúc Thư của Hòa thượng Tăng thống và các nguôn tin có liên quan. Để minh bạch việc này, con xin khẩn bạch Hòa thượng như sau :

« 1- Việc công bố Chúc Thư của thầy Đồng Thọ và sự xác nhận của Minh Tuấn theo thông tin là hoàn toàn bịa đặt, sai sự thật, vì thực tế, Minh Tuấn chưa bao giờ sử dụng phương tiện nào, và phát biểu ý kiến nào trên mạng thông tin bằng lời hoặc bằng văn bản.

« 2- Việc công bố Chúc Thư là việc làm trọng đại của Chư Tôn giáo phẩm Giáo hội. Tu viện và Môn đồ của Hòa thượng không thể nào có khả năng lạm tác và làm một việc phi lý, phi đạo như thế được.

« Nay con xin khẩn trình và minh xác việc này để Hòa thượng thẩm tường và đề cao cảnh giác dư luận.

« Kính bái thư
(ký tên)
« Thích Minh Tuấn »

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng tải dưới đây nguyên văn Bản Tường Trình của Đại đức Thích Đồng Thọ và thư viết tay của Thượng tọa Thích Minh Tuấn :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Tu Viện Nguyên Thiều, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

subacsiledinhtham_01

1.- Thân Thế và Sự Nghiệp :

Bác sĩ : Lê Ðình Thám

Pháp danh : Tâm Minh

Tự : Châu Hải

Sanh năm Đinh Dậu (1897) tại Quảng Nam.

Chánh quán làng Đông Mỹ (Phù Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là thứ nam của cụ Đông các Đại học sĩ sung chức bộ Thượng thơ Lê Đỉnh (triều Tự Đức) và cụ kế mẫu Phan Thị Hiếu.

Lúc nhỏ theo Nho học, thụ huấn trực tiếp với cụ Thượng thơ thân sinh ở nhà cùng với bào huynh Lê Đình Dương.

(Lê Đình Dương là nhà Cách mạng, tham gia Việt Nam Quang Phục hội cùng với cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài. Phụ trách lãnh đạo phong trào Duy Tân khởi nghĩa tại Nam Ngãi. Bị bắt tại Ban Mê Thuộc năm 1926. Không chịu để bị tra tấn, không chịu tủi nhục trước công sứ thực dân Sabatier, nên đã dùng độc dược Cyanure de Mercure để tự vẫn năm 1919, thọ 26 tuổi . Ông đã tốt nghiệp Á khôi Đông Dương Y sĩ khóa đầu tiên năm 1915, tại trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương – Hà Nội).

Tuy tuổi nhỏ, cả hai vị tỏ ra thông đạt kinh sách, văn bài thi phú. Ứng đối nhanh nhẹn. Nổi tiếng là thần đồng.

Lớn lên theo Tây học. Thông minh xuất chúng nên luôn luôn dẫn đầu lớp. Được thầy yêu bạn quý từ cấp Tiểu học cho đến Đại học. Cụ đỗ Thủ khoa Đông Dương Hà Nội và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc năm 1930 tại Y khoa Đại học đường Hà Nội./span>

Ra trường nhằm phong trào Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bào huynh thì bị bắt đày lên Ban Mê Thuộc. Cụ bị Pháp theo dõi gắt gao. Trong thời gian phục vụ tại bệnh viện Bình Thuận, Song Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hòa (1915-1923), ngoài công tác chuyên môn, cụ chỉ lo học hỏi và nghiên cứu thêm Nho, Y, Lý và Số.

Năm 1926, về phụ trách Y sĩ điều trị tại bệnh viện Hội An, trong dịp viếng thăm chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn), tại Non Nước, Đà Nẵng. Khi đọc đến bài kệ sau đây, ghi chú trên vách, cụ liền chú ý đến Phật giáo :

Bồ đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệt phi đài,

Bổn lai vô nhứt vật,

Hà xứ nhạ trần ai ?

Tiếp đó, cụ được tin nhà cách mạng Phan Chu Trinh từ trần ở Sài Gòn, cụ cùng một số thân hào nhân sĩ và công chức trí thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu rất trọng thể và cùng thọ tang cụ Phan. Một tháng sau bị đổi đi Hà Tĩnh

Năm 1926, được về Huế làm Y sĩ trưởng tại viện bào chế và vi trùng học Pasteur; cọng tác với Bác sĩ Mormet, Giám đốc Y tế Trung Phần, đã phát minh ra Sérum Mormet, được Y giới Pháp Việt trọng vọng.

Cuối năm ấy, cụ lên Trúc Lâm thọ giáo với tổ Giác Tiên về tham nghĩa của bài kệ ở chùa Tam Thai, rồi phát tâm cùng Thượng tọa Mật Khế nghiên cứu giáo lý, học hỏi kinh điển, tụng kinh niệm Phật và phát nguyện trường trai, phát nguyện quy y, thọ Ưu bà Tắc giới và có Pháp danh Tâm Minh từ đó.

Năm 1929-1932, sau hai năm thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ, đồng thời chịu ảnh hưởng của cuộc trùng hưng Phật giáo Trung Hoa của ngài Thái Hư Đại sư qua sách báo Hải triều âm; cụ vâng lời Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh và Tịnh Khiết đứng ra triệu tập 18 vị đồng sự pháp lữ thảo điều lệ thành lập hội An Nam Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm, cụ làm Hội trưởng dưới sự chứng minh của quý Hòa thượng nói trên. Cụ bắt đầu thuyết pháp tại chùa Từ Quang. Giảng kinh luận tại tư thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu đạo

(Thượng tọa Giải Ngạn, Thượng tọa Minh Châu, Sư bà Diệu Không, lúc nầy chưa xuất gia, đều được theo họ khóa nầy).

Năm 1933, phụ trách Y sĩ Giám đốc Bài lao Huế, cụ là một danh y uy tín nhất đế đô.

2.- Về Phật Học :

*.- Khởi công trùng tu tổ đình Từ Đàm làm trụ sở Trung ương cho hội.

*.- Cử hành Đại lễ Phật Đản đầu tiên vô cùng trọng thể ở chùa Diệu Đế, gây ảnh hưởng lớn lao đến mọi giới.

*.- Chủ trương xuất bản Nguyệt san Viên Âm, cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lý của hội. Cụ làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của Nguyệt san.

*.- Thiết lập cơ sở đào tạo Tăng tài: Cấp Trung, Tiểu học tại Bảo Quốc, Pháp sư Trí Độ làm Đốc giáo.

(Quý Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, … đều xuất thân tại trường nầy).

Cất Đại học tại Tây Thiên do chính cụ trực tiếp giảng diễn về Luận học, triết Đông và Tây.

(Quý Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Nguyện, Mật Hiển, Mật Thể,… đều xuất thân từ trường nầy).

Năm 1944, cụ sắp xếp chương trình để di chuyển Phật học viện lên Kim Sơn. Thành lập Tòng lâm Kim Sơn Huế. Thời cuộc không cho phép, công tác tạm ngưng sau hai năm sinh hoạt.

Năm 1945, cuộc đảo chánh Nhật, chánh phủ Trần Trọng Kim mời giữ chức Giám đốc Y tế Trung phần kiêm Giám đốc Bậnh viện Huế.

Năm 1946, chiến cuộc bùng nổ, dân chúng Huế tản cư. Cụ đưa gia đình về lại Quảng Nam. Tham gia kháng chiến chống Pháp.

Năm 1947-1949, làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến miền Nam Trung bộ tại Liên khu Năm.

Mùa hạ năm 1949, được điện mời đi Bắc, đề bạt làm Chủ tịch Phong trào Hòa bình Thế giới.

Mặc dầu tình thế đảo điên, nhân tâm điên đảo, nhưng cụ vẫn an nhiên diễn giảng, phiên dịch Phật pháp. Cuối cùng bộ Thủ Lăng Nghiêm cũng được dịch và xuất bản năm 1961 tại chùa Quán Sứ – Hà Nội.

Ông từ trần ngày 23 tháng 04 năm 1969 (tức ngày mồng Bảy tháng Ba năm Kỷ Dậu) tại Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NhoLaiCuocThamSatThanhBoDucLoiDaNang.htm

June 1, 2009 Posted by | Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ - Đức Lợi Đà Nẵng | | Leave a comment

Ai là tác giả của Lời Kêu Gọi BTTG BTDS ngày 29-3-2009 ký tên Quảng Độ?

Ai là tác giả của Lời Kêu Gọi BTTG BTDS ngày 29-3-2009 ký tên Quảng Độ?

Câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn? Đã bảo Quảng Độ ký tên (và cả đóng dấu) thì còn ai vô đó? Nói vậy không phải vậy nếu chịu khó suy nghĩ cho sâu, cho sát vì vào Thời Mạt Pháp hiện nay, “Quỷ vương đi đứng nửa lừng”, người tu thì nhiều vô số kể, người hành thì vô số… ít nên vô số…hiếm người đắc đạo! Đúng là ứng điềm: Chừng nào thằng Mán làm vua / Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu. (Mán: Tổng Bí Thư CSVN Nông Đức Mạnh, cạo trọc: Phóng viên Thanh Tòan, Ca sĩ Henry Chuc v.v…, để râu: sư Quảng Độ).

Trước tiên cần nhớ Quảng Độ là ai?

– Là thành viên trong nhóm Thập Tam Ác Tăng (*), lãnh đạo Giáo Hội PGVNTN, đã hòan thành sứ mạng trên mặt trận tôn giáo, góp đại công cho VC thôn tính VNCH ngày 30-4-1975. Từ đó đến nay, suốt 34 năm ròng rã Giáo Hội nầy đóng vai trò “đối trọng” với Giáo Hội PGVN “quốc doanh” của nhà nước CSVN, chống … Cộng bằng thông bạch, giáo chỉ, thông báo v.v… phát đi từ Paris, Pháp Quốc để có tiếng vang quốc tế, nhất là lừa bịp NVHN!

– Là một nhà sư lãnh đạo tối cao (Tăng Thống) nhưng chống lại Giáo Luật trên 2000 năm Phật Giáo Việt Nam và thế giới khi để RÂU TÓC! Dù biết nhà sư mà để râu tóc là sai nhưng Quảng Độ ngoan cố, bất chấp ý kiến của mọi người, vẫn quý trọng râu tóc của mình hơn là nghe theo lẽ phải.

Các lý do xác định CSVN là tác giả Lời Kêu Gọi Biểu Tình Tại Gia, Bất Tuân Dân Sự ngày 29-3-2009.

1.Quảng Độ nổi danh là một nhà Hán học thông thái, đã dịch ra tiếng Việt 8 ngàn trang Đại Tự Điển Phật Quang. Với trình độ ngôn ngữ Hán Việt uyên bác như thế, Quảng Độ chẳng lẽ NGU DỐT đến độ không biết rằng từ ngữ TẠI GIA chửi cha từ ngữ BIỂU TÌNH, lại được đệ tử Võ Vă n Ái diễn giải thêm: “…biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia”!

Sau đó, Quảng Độ còn nói rõ thêm, biểu tình tại gia là phương pháp đấu tranh…VÔ TƯỚNG!? Vô tướng là thuật ngữ Phật Giáo, đem ra giải thích cho một hành vi hòan tòan hữu tướng là biểu tình chống Cộng mà nhiều con nít Việt Nam 6 tuổi ở hải ngọai cùng với cha mẹ thường hay tham dự ngòai đường phố, thì thử hỏi trình độ Phật học lẫn Hán học, Việt học của Quảng Độ có cần phải xét lại không!?

Thật là một thiếu sót nghiêm trọng nếu không nhắc đến Võ Văn Ái, một cái bóng đen đậm nét và nổi bật của Quảng Độ. Võ Văn Ái, Giám đốc Phòng TTPGQT của GH/PGNTN, từng là đệ tử của Bác sĩ Lê Đình Thám, người sáng lập Gia Đình Phật Hóa Phổ (tiền thân của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam bây giờ), Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến (VMCS) miền Nam Trung Bộ tại Liên Khu 5 (1947-1949).

Thuở thanh niên, Võ Văn Ái theo Việt Minh, bị Pháp bắt, sau được phóng thích do sự can thiệp của Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ với Phòng Nhì Pháp, lúc ấy là Tổng Chỉ Huy Việt Binh Đòan Trung Việt. Ra khỏi tù, Võ Văn Ái đi sang Pháp du học và họat động cho VC tới ngày hôm nay.

Vào thời VNCH, Võ Văn Ái là phần tử phản chiến năng nổ tại Paris và Âu Châu. Sau đó, Võ Văn Ái gặp Sư VC Nhất Hạnh,- một lãnh tụ ngọai vận phản chiến của GH/PGVNTN (hậu thân của PGÂQ), như lân gặp pháo, trở thành một cán bộ VC đắc lực dưới quyền điều khiển của tên Sư VC nầy. Do vậy, Lời Kêu Gọi ngày 29-3-2009 không thể được sọan thảo bởi nhà Hán Việt học tài ba Quảng Độ, mà là sản phẩm của chính đỉnh cao trí tuệ Hà Nội hoặc ủy nhiệm cho Võ Văn Ái và đồng bọn ở hải ngọai.

2. CSVN biết rõ Lời Kêu Gọi bất khả thi trong nước, nhưng được phát đi qua miệng Quảng Độ và tiếp vận ra hải ngọai bởi cái loa Võ Văn Ái, chỉ nhắm vào cộng đồng NVHN tỵ nạn Cộng Sản với các tác dụng:

a. Làm vô hiệu hóa hòan tòan hay một phần các cuộc biểu tình chống Cộng của NVHN bằng phương pháp đấu tranh mới, không mất một chút công sức và tiền bạc nào là biểu tình tại gia! Băng đảng Mafia Việt Tân, tay sai VC và đám ăn theo sẽ cổ võ ngầm lọai biểu tình mà không biểu tình nầy trong cộng đồng NHVN, làm nẩy sinh nhiều thêm thành phần chống Cộng trùm mền, xuống đường ngại nắng mưa sương gió, đưa đến hậu quả là các cuộc biểu tình hay lễ lạc có tính cách chống Cộng ở hải ngọai trong tương lai sẽ càng ít người tham dự!

b. Làm hâm nóng luận điệu “hòa hợp hòa giải dân tộc” vô điều kiện của CSVN qua lời chiêu dụ cùng về Việt Nam thống nhất ý kiến, đấu tranh chống kẻ thù chung là Tàu Cộng mà dẹp bỏ chống VC, – thủ phạm bán nước, có nghĩa là tòan dân Việt qua các đại biểu trong nước và hải ngọai đều “hoan hỉ” ngồi chung trong “Hội Nghị Diên Hồng tân thời” dưới lá cờ đỏ sao vàng, có sự chứng giám của tượng… Bác Hồ!

c. Làm chia rẽ trầm trọng thêm khối NVHN thành hai bên chống và ủng hộ Lời Kêu Gọi. Đây là thành công quan trọng và lớn lao của CSVN dễ thấy nhất vì đã xảy ra từ đầu tháng 4-2009 đến nay qua các cuộc bút chiến dữ dội của nhiều người, thậm chí họ coi nhau như “địch” trên các diễn đàn điện tử và báo chí hải ngọai.

Nói riêng trong giới Phật tử, không phải ai cũng mù quáng nghe theo Lời Kêu Gọi ngày 29-3-2009 của CSVN được tá danh Quảng Độ. Do vậy sự phân hóa hàng ngũ Phật tử hải ngọai cũng song hành với sự phân hóa chung của cộng đồng NVHN nhưng do bị xuyên tạc và đầu độc bởi tinh thần “kính Phật trọng tăng” và “Y Pháp bất y nhân”, sự phân hóa nầy trong hàng ngũ Phật tử hải ngọai chỉ tiềm tàng mà không bộc lộ hẳn ngòai công luận! Đó là lý do, tại sao xuất hiện các bài viết ủng hộ mà hầu như không thấy bài viết phản đối của Phật tử hải ngọai về Lời Kêu Gọi của CSVN được tá danh Quảng Độ!

Tại sao CSVN chọn Quảng Độ để nói ra Lời Kêu Gọi ngày 29-3-2009?

Lịch sử cuộc chiến Việt Nam vừa qua đã cho thấy vai trò tay sai, tích cực thi hành các chỉ thị VC của giới Tăng Ni Phật Giáo Việt Nam từ thời kháng Pháp, kéo dài đến khi sụp đổ VNCH ngày 30-4-1975 và sau đó 34 năm với Lời Kêu Gọi ngày 29-3-2009.

Hàng triệu Phật tử được đòan ngũ hóa chặt chẽ trong tổ chức Giáo Hội PGVNTN (hậu thân của PGAQ hay các tổ chức tương tự từ thời Pháp thuộc) là lực lượng quần chúng đông đảo và vô cùng quan trọng được CSVN đặc biệt chú ý nhằm lợi dụng và khai thác triệt để từ khi Hồ Chí Minh và đệ tử núp dưới chiêu bài chống Pháp rồi chống Mỹ “cứu nước”.

Phật tử nghe lời đường mật của “quý thầy” không khác gì đảng viên VC nghe lời dụ dỗ của Bác Hồ, còn hơn nghe lời khuyên bảo của cha mẹ! Trong thời lọan lạc, kinh tế khó khăn cha mẹ thiếu thốn trăm bề nhưng “quý thầy” lại thừa mứa món ngon vật lạ do Phật tử cung phụng, ngụy danh bằng nhóm chữ “cúng dường Tam Bảo” (!?), một kiểu nộp mãi lộ mà còn phải lạy kẻ cướp sói trán để được cấp credits … tu hành ngoan ngõan!

Vì là Lời Kêu Gọi của CSVN qua miệng Quảng Độ, tất nhiên có lợi cho ai thì đã rõ nhưng một cán bộ Giáo Hội PGVNTN trung kiên và lão thành ở trong nước lại dám so sánh bừa bãi sự bất khả thi (đồng nghĩa thất bại) của Lời Kêu Gọi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, lưu truyền câu nói nổi tiếng của thủ lãnh Nguyễn Thái Học “ Không thành công thì thành nhân”. Dù khởi nghĩa thất bại và bị kẻ thù Pháp hành hình nhưng Nguyễn Thái Học là một anh hùng dân tộc, đã thành… nhân. Trong khi Quảng Độ là tay sai CSVN từ trong lò Thập tam ma nhà họ… Khóai (thích) nói ra Lời Kêu Gọi bất khả thi làm lợi VC, sau giữa đêm 31-5-2009 đã trở thành … quái nhân!

Thật sự không đợi hết hạn thực hiện Lời Kêu Gọi, mà Quảng Độ đã thành phàm nhân dị tướng khi xưng là Sa Môn, giữ chức Tăng Thống GH/PGVNTN lại để râu tóc xòam xòam khiến các nhi đồng, thiếu nhi gia đình Phật tử mỗi khi nhìn thấy chân dung ông ta, là nhớ đến ông cố, ông ngọai hay ông nội của chúng nó!

Tuấn Phan

– Một thiện nam trong tôn giáo nhà Phật.

– Một trong hàng triệu nạn nhân VC với sự đồng lõa của Tập đòan Giặc Thầy Chùa Giáo Hội PGVNTN.

(*) Vì những người nầy mặc áo cà sa lại tiếp tay kẻ ác VC, nên không xứng đáng mang họ THÍCH cao quý của Đức Thế Tôn, đề nghị đổi sang họ “Khóai”: 1/ (Khóai) Trí Quang. 2/ Huyền Quang (Tăng Thống thứ 4, chết). 3/ Thiện Minh (chết). 4/ Nhất Hạnh. 5/ Quảng Độ (Tăng thống thứ 5). 6/ Hộ Giác (Phó Tăng thống thứ 5). 7/ Thiện Hoa (chết). 8/ Pháp Tri. 9/ Pháp Siêu. 10/ Trí Thủ. 11/ Thanh Vân. 12) Minh Châu. 13) Đôn Hậu (Tăng thống thứ 3 (chết). (Trích từ tài liệu của USMACV)

Kỳ tới: Đôi điều về bài “Khuyên nhủ Trần Thanh”.

http://www.hon-viet.co.uk/TuanPhan_AiLaTacGiaLKGTTGBTDS_2032009_KyTenQuangDo.htm

June 1, 2009 Posted by | Ai là tác giả của Lời Kêu Gọi BTTG BTDS ngày 29-3-2009 ký tên Quảng Độ? | | Leave a comment

" BẤT TUÂN DÂN SỰ" NẰM Ụ TẠI GIA THẬT LÀ THƯỢNG SÁCH!

” BẤT TUÂN DÂN SỰ” NẰM Ụ TẠI GIA THẬT LÀ THƯỢNG SÁCH!
– TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Sau thời gian dài” đấu tranh” trường kỳ hầu đánh đuổi bọn khỉ rụng lông thành người, có nguồn gốc” đánh trâu” ra khỏi bộ máy chính quyền, giải trừ quốc nạn và pháp nạn cho dân tộc, Phật giáo Việt Nam, bao năm bị đọa đày, áp bức dưới chế độ cai trị của loài ” quỷ đỏ vô thần” Việt Cộng, cả lũ tham ô, toàn đồ gian ác, tôn thờ Lê-Mác, khoát lát tuyên truyền, vét tiền bỏ túi, đó là quân ” điếm thúi”, hại nước phản dân.

Qua bao kinh nghiệm, ngài đại lão huề thượng Thích Quảng Độ đã” phát minh” ra một phương thức đấu tranh mới, phát hành từ ngày 29 tháng 3 năm 2009, được hải ngoại có vài nơi ủng hộ nhiệt thành; đó là thượng sách” bình Cộng, diệt gian”, nhưng làm tan hy vọng nhiều người, nực cười sáng kiến :

” Biểu tình chống Cộng tại gia.
Bất tuân dân sự, thật là cách hay.
Vì dân tộc, đạo lâm nguy.
Đánh cho Cộng đổ, tới khi đảng nhào.
Tiến lên Phật tử, đồng bào
Cùng nhau im lặng, giặc nào tiêu tan?”.

Đây không phải là sách lược mới mẻ gì, nhưng nay được ngài đại lão huề thượng Thích Quảng Độ, người từng được đề cử” hụt” giải Nobel, nghiên cứu, động não và được ngay cả cư sĩ trừ bị tại gia là” giáo sư” Võ Văn Ái cùng” nhất trí” đưa vào” mặt trận đấu tranh” trận cuối là trận nầy, được như một sách lược tuyệt vời, thì mới đáng ghi vào lịch sử đấu tranh lần nữa, sau khi ông Đạo Vừa ( Dừa) Nguyễn Thành Nam, người từng gây khó khăn, mất an ninh trật tự cho chính quyền miền Nam, do ông đạo có công” chứa chấp trốn quân dịch trường kỳ “, nổi bật là ông đạo có đưa ra sách lược hòa bình:” bất chiến tự nhiên thành” mà sau nầy người áp dụng là đại tướng Dương Văn Minh, đã” bất chiến tự nhiên hàng” khi bàn giao miền Nam trong vòng trật tự cho giặc Cộng, để tránh đổ máu, theo như lời biện minh cho kẻ hai lần làm hại đất nước: đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 và ban giao cho Việt Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975; đó cũng là cái lượng” từ bi” vô cùng” bồ tát” của một Phật tử có tâm đạo Dương Văn Minh, người thân với khối Ấn Quang, nghe qua thì thật là” thúi”, vì sau khi” tránh đổ máu” nếu đánh tới cùng, thì bị kẻ thù Cộng Cộng rất là” khoan hồng” bằng cách cho” tắm máu khô” với con số quân nhân cán chính miền nam chết đến khoảng 100 ngàn, bằng 1 phần 3 quân số chết trong 20 năm” chinh chiến điêu linh” làm cho bọn Hồ Chính Minh hoảng kinh, còn đại tướng Minh thì” thanh tâm trường an lạc” đánh tennis, vui chơi tại Saigon và sau đó được đảng cho xuất ngoại, sau sang Mỹ chế cho sướng thân già.

Tuy nhiên, đi xa hơn, thì cái nguồn gốc: đấu tranh bất bạo động từng được thánh Gandhi, sinh năm 1869, người mang ra áp dụng tại Ấn Độ từ năm 1906, khi ông mở đầu chiến dịch ” bất tuân dân sự” ( Civil Disobedience) và được hàng ngàn người dân hưởng ứng, nhưng sau đó Gandhi bị người Anh bắt bỏ tù. Từ năm 1919, ông trở thành lãnh tụ đảng Quốc Đại Ấn (Indian National Congerss), và năm 1920 phát động chiến dịch” bất hợp tác” ( A Non-co-operation) chống lại chính quyền thuộc địa Anh, qua việc” tẩy chay” không thu hoạch bông gòn và tẩy chay hàng hóa Anh, nên bị bắt vào tù từ 1922 đến 1924. Năm 1930, phát động chiến dịch chống lại thuế đánh trên muối, cùng với hàng ngàn người đi tuần hành suốt 200 dậm và cũng bị ở tù lần nữa. Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, ông bắt đầu mở chiến dịch đòi độc lập và bị tù lần thứ ba, từ 1942 đến 1944. Sau cùng, ông thành công, dành độc lập cho Ấn Độ năm 1947.

Do đó sách lược tuyệt vời” biểu tình tại gia và bất tuân dân sự thoang thoảng mùi Cà Ri, không có gì mới mẻ, sáng tạo cả. Ở đời nầy, có nhiều chuyện đưa ra, tưởng là sáng tạo, nhưng thực ra thì đã có người làm rồi. Thí dụ như bài ca nổi tiếng:” Khúc hát ân tình” của Xuân Tiên, được cố nhạc sư Lê Thương tiết lộ phần nhạc là:” hấp nguyên con trong bản Đồng Văn Nhả Nhạc của triều đình Huế”. Việt Cộng tôn sùng tên đồ tể Hồ Chí Minh, nên những lời của hắn đều được” nâng cấp” thành cái gọi là:” tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng hắn thành thật khai báo rằng:” Bác đâu có sáng tạo gì đâu, tất cả đều có ông Lenin và ông Mao làm cả rồi”, như vậy, Hồ Chí Minh cứ theo mấy tên đó để cướp của, giết người, bắt dân làm nô lệ.

Như vậy, sách lược tuyệt vời” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự” mà ngài huề thượng Thích Quảng Độ phát động trong nước, là chiến trường chánh, cũng nhắm vào hai mũi nhọn xung kích: bất hợp tác với bạo quyền và phản đối bất bạo động, có khả năng đưa đến kết quả tiên liệu như” tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển” hay” báo cáo khí tượng thủy văn” là: làm cho nền kinh tế Việt Cộng bị tê liệt, là chúng ngoan ngoãn bàn giao chính quyền, trả lại tự do, dân chủ” trong vòng trật tự; nghe qua thật là hay, tuyệt diệu như” chuyện thần thoại” chớ chẳng phải nói đùa đâu.

Tuy nhiên sách lược nầy man mác hơi hám mùi vị Vịt Tiềm:” Dùng bạo động để tháo gở độc tài”, đấu tranh hoài vẫn nằm ỳ tại chỗ, thì làm gì Việt Cộng sụp đổ, để nhường chỗ nhân quyền?.

Trong khoa học chính xác, bài toán 2+2=4 lúc nào cũng đúng, dù người làm toán ở bất cứ nơi nào, thời kỳ nào; nhưng khoa học nhân văn, nhất là môn chính trị, thì một biến cố chính trị cùng một số điều kiện, yếu tố tương đồng, cũng có kết quả khác nhau khi áp dụng ở hai nơi khác nhau. Ngay cả trong lãnh vực truyền thông, trước đây phát hình bằng hệ thống Analog, thì nay có huynh hướng mới với Digital, nên sự thành công của Gandhi từ thời đầu thế kỷ 20, khác xa với đầu thế kỷ 21, là điều nên coi lại, dù sách lược của ngài Quảng Độ cũng đi đúng theo” binh thư bất bạo động:” rất phù hợp với những bậc tu hành” nhiều hạ lạp” như ngài.

Ông Mahatma Gandhi thành công nhưng cũng bị bầm dập trong 3 lần” ủ tờ” vì những lý do sau đây:

-Đế quốc Anh có tánh cỡi mở hơn thực dân Pháp, nên những người chống lại chính quyền chỉ bị tù và sau đó thả ra, chớ không trù dập, sát hại như tù” quốc sự phạm” ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, mà ” cơ ngơi” của những người yêu nước, dù bạo động, bất bạo động…cũng thường là:” nếu không Phú Quốc cũng nằm tù Côn Sơn,….hoặc các đề lao địa phương và nổi tiếng như cụ Phan Bội Châu cũng bị cho an trí đến mãn đời.

-Lúc đó quân Anh ở Ấn không đông, vì họ phải rải ra nhiều thuộc địa, nên khi đình công bải thị, bất hợp tác, là toàn bộ hệ thống chính quyền, công sở, đồng ruộng, nông trại…. đều bị tê liệt, do không có một lực lượng thay thế.

-Thời buổi thuộc địa suy tàn.

-Người Anh kiệt quệ sau đệ nhị thế chiến, tổn thất nhân mạnh và vật chất.

– Người dân Ấn có tinh thần rất cao nên hưởng ướng đông, tạo thành một lực lượng quần chúng, xô ngã cả đế quốc Anh.

Ngày nay, tại các nước dân chủ, như Anh, có công đoàn, thường đình công và” bất tuân dân sự” để đòi yêu sách với chính phủ, thường là tăng lương. Tuy nhiên, những cuộc đình công đều tan biến sau những dàn xếp ổn thỏa, đáng kể nhất là vào thời bà thủ tướng Magaret Thatcher, có lần các bác sĩ, y tá bịnh viện cùng nhau” bất tuân dân sự” là hổng thèm đi làm, để đòi yêu sách, lập tức bà thủ tướng biệt danh” Iron lady” cho các bác sĩ, y tá quân y trám chỗ, khiến các bác sĩ, y tá” bất tuân dân sự” bị thất nghiệp và sau đó chịu thua, xin xỏ trở lại làm việc.

Tại Úc, thời thủ tướng John Howard, tổ chức công đoàn bến tàu ở Fremantle, Tây Úc, đòi tăng lương, đình công và cũng” bất tuân dân sự” rồi sau đó lại” biểu tại chỗ làm” chứ không” biểu tình tại gia”, nhưng chủ nhân đưa ra tòa một số lãnh tụ công đoàn vì bị thiệt hại và dàn xếp đưa nhân công không theo công đoàn thay thế, kết quả có một số đành phải đến bộ xã hội để xin trợ cấp thất nghiệp, may mắn một số khác” thương lượng” với chủ đề có việc làm… Nước dân chủ còn không thể” bất tuân dân sự” thì ở nước Việt Nam, đảng Cộng Sản cầm quyền, nào coi dân, mạng sống, đời sống ra gì, ngay cả bộ đội chết, mất tích sau cuộc chiến, lên đến 300 ngàn, mà đảng đâu có rảnh đi tìm, thay vào đi tìm hài cố lính Mỹ, có tiền nhiều.

Phải nói là sách lược của ngài huề thượng Thích Quảng Độ về hai mũi nhọn xung kích, đánh vào nền kinh tế Việt Cộng cũng có lý, nhưng có lý về mặt Lý thuyết mà thôi, còn áp dụng thì không thể làm được. Việc” biểu tình tại gia” là cao kiến, đúng theo” lượng từ bi” là ngài huề thượng” Thích Để Râu” nầy rất thương nhân dân và Phật tử Việt Nam, nên ngài hổng muốn cho bất cứ ai bị bắt, làm khó dể, thiệt hại, cứ biểu tình tại nhà là công an không làm khó dễ, cũng như ở miền Tây, tín đồ đạo Hòa Hảo được Mặt Trận Tổ Quốc, ủy ban tôn giáo khuyên là:” kỷ niệm ngày đản sinh Đức Thầy và các ngày lễ khác như ngày Đức Thầy thọ nạn, ngay khai sáng đạo… TẠI GIA” chớ đừng đi đến những nơi công cộng như truyền thống của đạo, là làm sai chính sách” tôn trọng tự do tôn giáo của đảng và nhà nước”, là có phương hại đến” trật tự công cộng, an ninh nội chính”, cản bước tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Việt Cộng đâu có “vi phạm nhân quyền gì”, đảng và nhà nước luôn dành mọi dễ giải cho bất cứ công dân nào” biểu tình tại gia” nhưng cũng phải tuân thủ theo luật lệ của nhà nước, tức là biểu tình tại gia là tự do cá nhân và cũng phải tham gia bất cứ công tác nào của đảng đề ra, là rất hợp với” tình hình cải thiện dân chủ, nhân quyền, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.. Cao cấp biểu tình tại gia là” biểu tình tại tâm” là bảo đảm không bao giờ bị công an làm khó dể, kể cả lúc đi họp tổ, đi làm công tác…

” Bất tuân dân sự” là một sách lược” tuyệt vời” nếu huề thượng Thích Quảng Độ có phép thần thông quảng đại, như Tôn Hành Giả trong chuyện Tây Du Ký, là bảo đảm bạo quyền Cộng Sản vô thần sụp đổ ngay, chỉ sau thời gian ngắn, toàn dân cùng” bất tuân dân sự” là hổng ai đi làm, ra đồng, ra hãng xưởng, cơ quan nhà nước và cũng hổng ai đi chợ, là có dân chủ và tự do tôn giáo ngay. Nếu huề thượng có được phép thần thông, chỉ cần ban cho những người” bất tuân dân sự” câu thần chú, thí dụ như:” biểu tình tại gia, bất tuân dân sự, vạn sự ấm no, xin phò bửa tiệc”, vừa đọc xong là những người có tấm lòng thành thấy ngay trước mặt là một mâm cơm thịnh soạn” chất lượng cao” hơn cả nhà hàng sang trọng mà các nhà dân chủ phòng lạnh như Nguyễn Khắc Toàn dùng ” liên hoan” sau khi chống đảng có kết quả mỹ mãn, được nhà nước” chiêu đãi” chẳng hạn.

Cả nhà mỗi lần đói, cứ đọc thần chú như vậy, nếu ước có thêm chai “Cacacala” nhập, bia nhập….tự nhiên hiện ra và những tu sĩ gốc công an, nếu bất chước đọc, mà tâm tà, thì có” một mâm cứt trâu” hiện ra, cùng với nước đái bò làm thức uống….nên sư quốc doanh, ai nấy cũng phải qui phục ngài Quảng Độ, thì giáo hội mới” Thống Nhất” đúng nghĩa. Nói về phép thần thông, thì đã có vị cao tăng” tiếm danh” ở Úc là huề thượng Thích Như Huệ, chủ tiệm Phật tên là Pháp Hoa ở Nam Úc, là người nghe đồn là có phép” ám ma ni bát ni hồng”(Om mani padme hum đọc theo ngườI phương tây)với câu thần chú cho những đệ tử thuần thành nhưng trốn thuế, khi đọc là sở thuế hổng dám rớ tới, vì bị phép tác động làm mờ mắt.

Nếu việc nầy có thiệt như” đêm giữa ban ngày” thì phép của ngài Quảng Độ sẽ được phổ biến” không người lái” và lan nhanh, lan mạnh, lan vững chắc….nếu ai có lòng thành, muốn tham gia cuộc” bất tuân dân sự” thì cứ đọc thần chú và có bửa ăn ngon hơn nhà hàng, thì bảo đảm số người cùng tham dự càng đông, hổng chừng trong doanh trại quân hại nhân dân, bộ đội Cáo Hồ muốn có tiệc tùng, vì những bửa ăn tập thể thường rau muống luộc chấm với nước mắm, nên chỉ cần lòng thành, đọc thần chú và lòng thành, rồi lan sang công an và chỉ trong thời gian ngắn, cả nước cùng nhau” bất tuân dân sự” thì bạo quyền sụp ngay, lúc đó từ dân, bộ đội, công an… đêu yên tâm” bất tuân dân sự” ở nhà, không sợ đói, thưởng thức những bửa ăn ngon nhất thế gian ” không người lái”, và cũng không cần đi chợ, siêu thị mua thức ăn, thì toàn bộ hệ thống độc tài tự động tan rả như câu” bất chiến tự nhiên thành” của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam trước đây..

Tuy nhiên, nếu hổng có phép nầy, thì việc kêu gọi” bất tuân dân sự” gặp nhiều trở ngại:

-Thời kỳ kinh tế khó khăn, khủng hoảng, thất nghiệp khắp nơi, nếu ở nhà, không ra đồng, không vào hãng, thì lấy gì mà sống?. Chưa kể đến các công ty tư nhân, quốc doanh, nước ngoài bị lổ, đang muốn giảm người làm, thì đây là cơ hội cho họ” mượn bất tuân dân sự” để đuổi người, danh chánh ngôn thuận, khỏi bồi thường, quả là thượng sách cho giới chủ nhân. Từ đó các chủ nhân, giám đốc thay thế người khác, đội ngũ thất nghiệp luôn chờ sẵn.

-Đời sống dân Việt Nam nghèo, đa số người lao động phải” chạy ăn từng bửa toát mồ hôi”, nên họ không đi làm, chỉ sau thời gian ngắn là chết đói trước khi đảng Cộng Sản chết. Những nước dân chủ, có tiền trợ cấp thất nghiệp mà còn không thể” bất tuân dân sự” dù có cả tổ chức công đoàn ủng hộ, sẵn sàng biểu tình ngoài đường ( chớ không biểu tình tại gia).

Ngài Quảng Độ đã từng” bất tuân dân sự” lâu rồi, ngài không hợp tác, đấu tranh” bất bạo động” giống như thánh Gandhi tại chùa, không hề hấn gì, do ngài có cả khối Phật tử trong và ngoài nước gởi tiền, ủng hộ, nên ngài có dư mới đi cứu trợ cho thiên tai, dân oan….tiền đó đâu phải của Ngài, đó là tiền do bá tánh đón góp thôi, tu sĩ đâu làm gì ra tiền mà” cứu nhân độ thế” phải không?. Tuy nhiên dân mà” bất tuân dân sự” thì ai ủng hộ tiền để trường kỳ đấu tranh? Đó là vần đề mà người ta đặt ra:” có thực mới vực được đạo”, đấu tranh phải thực tế, có viễn kiến, tình lý, chứ ở nhà không hợp tác, thì đương nhiên là không có tiền đi chợ, đóng học phí cho con, lo thuốc men khi đau yếu và nhiều thứ chi phí khác……nhưng Việt Cộng bây giờ có nhiều tiền, chúng mua cả tàu lặn, phi cơ, cho con cháu du học, di dân ỳ xèo…còn dân ta thì quá nghèo, dù có yêu nước nồng nàn, nhưng không có điều kiện để” tẩy chay, bất hợp tác”, thì kế hoạch nầy có giá trị” nghiên cứu” chứ bất khả thi.

Làm cấp chỉ huy trong quân lực VNCH hay những nước tự do, phải biết thương lính, nên kinh lính chết, bị thương là họ phải lo lắng; có nhiều trận đánh, một số binh sĩ chết, bị thương nằm trong vùng đất địch, thì cấp chỉ huy cố gắng lấy xác và người bị thương, nhiều khi còn hao thêm nhân mạng, đó là cái phong cách, trách nhiệm của người chỉ huy trong tinh thần” lãnh đạo là lãnh đủ”. Nhưng cấp chỉ huy Cộng Sản thì khác, họ coi mạng sống bộ đội như cỏ rác, áp dụng chiến thuật dã man:” biển người”, khiến con số thương vong rất cao. Làm cấp lãnh đạo phải biết thương dân, nhất là lãnh đạo tinh thần tôn giáo như Ngài Quảng Độ, lại càng thương yêu” chúng sanh”, có vị còn hổng dám giết con kiến, đập chết” chúng sanh muỗi” dù biết chúng làm hại mình.

Do đó sách lược” bất tuân dân sự” sao mà ghê quá, ngài đưa ra lối nầy là đưa dân vào chổ chết” không người lái”, thất bại là cái không thể tránh nổi; nhưng rủi thành công thì biết bao nhiêu mạng dân, gia đình gặp túng quẫn, đói khổ để” bất tuân dân sự”, hay là huề thượng muốn áp dụng câu” nhất tướng công thành, vạn cốt khô?”. Mặt khác Phật Giáo trong nước ngày nay bị phân hóa, phần quốc doanh, cầu an….thì 23 ban trị sự của Ngài, trong mỗi ban có bao nhiêu người hưởng ứng” bất tuân dân sự”? Hảy làm những con toán, để biết khả thi hay không? Cho nên kế sách nầy có khả năng làm cho Việt Cộng RUNG…. ĐÙI, khỏi lo lắng gì, vì những người chống đối” biểu tình tại gia” và họ cứ ngồi đợi cho những người” bất tuân dân sự” chết đói, thì lúc đó mới ra tay, cấp phát một ít lương thực và vô tình trở thành” ân nhân”, rồi mặc tình mà tuyên truyền, đưa hình ảnh đầy” nhân ái” lên hệ thống truyền thông trong nước và thế giới, thì uy tín của đảng cướp tăng vọt, cũng” không người lái” luôn, quả là” tương kế tựu kế” trong chiêu” thuận thủ thu dương”.

Nếu ngài kêu gọi rõ ràng, có thông bạch hay giáo chỉ với nội dung đồng bào tỵ nạn và Phật tử hải ngoại hảy tham gia chiến dịch” BẤT TUÂN DU LỊCH” và” GỞI TIỀN VỀ NHÀ TẠI GIA”, thì Việt Cộng trong nước run sợ, đây là vấn đề sanh tử của chế độ, chứ cứ gởi tiền, thi đua du lịch, về làm ăn….và ngay cả những quân nhân từng ở tù cũng” một thoáng quay về” đút tiền từ phi trường đến địa phương, thì Việt Cộng khó tiêu lắm, nên tâm thư của một thương phế binh quân lực VNCH tên Trần Nhân, có câu thật chua xót nhắn nhủ các chiến hữu cũ đang sống ở hải ngoại: ” các anh đã phản bội lại tổ quốc và rõ ràng nhất là các anh đã phản bội lại chúng tôi. Các anh CHỐNG CỘNG mà lại cứ về VN hà rầm thì còn chống Cộng gì nữa?”.

Nếu ngài phát động chiến dịch nêu trên, kêu gọi hải ngoại, thì chắc chắn có nhiều người ủng hộ và từ đó tác động vào túi tiền Việt Cộng trong cuộc khủng hoảng kinh tế. Chỉ trừ trường hợp bất khả kháng quay về, nên có khả năng số người về giảm đáng kể, làm Việt Cộng sợ nhất, hổng chừng những người về sẽ được thủ tướng Việt Cộng ra phi trường đón và HÔN TAY như đàn ông Tây hay hôn tay phụ nữ khi gặp nhau, để mừng những người về, như một người tên là Vũ Thảnh ở Melbourne (Úc Châu) đăng báo cho biết là:” thủ tướng Phan Văn Khải” thời đó có” chế độ HÔN TAY Việt kiều” nào về thăm quê hương.

Do đó, sách lược:” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự” làm cho Việt Cộng mừng lắm, họ rất hồ hởi phấn khởi, nhưng ngoài miệng thì chửi bới, kết án huề thượng Quảng Độ …chẳng lẽ đảng CS ngu si đần độn đến độ” hoan nghinh” và” nhất trí” hổ trợ cho lối đấu tranh ruồi bu nầy sao?. Cái câu của thượng tá Tám Hà vẫn có giá trị:” đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hảy nhìn kỷ những gì Cộng Sản làm”. Nên coi chừng Việt Cộng chửi ai là họ khoái đấy, nên trước và sau khi thượng sách của ngài huề thượng Thích Quảng Độ phổ biến, những người có nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản không ngạc nhiên, khi thấy các cơ quan truyền thông trong nước tấn công ngài bằng các bài báo và được một số cơ quan truyền thông hải ngoại ( thường là của Băng ảng Việt Tân) phổ biển, để đánh bóng ngài Quảng Độ, thật là nhịp nhàng.

Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh đến nay, thường có chính sách” NUÔI ĐỐI LẬP, MẬP ĐẢNG” là cách đánh lừa tinh vi: thời Hồ Chí Minh sau 1954 ở miền Bắc, Hồ cho thành lập hai đảng” đối lập cuội” là đảng Dân Chủ Việt Nam do ông Nguyễn Xiển làm chủ tịch và Đảng Xả Hội Việt Nam do Nghiêm Xuân Yên” chủ trì”. Sau năm 1975, nhất là từ khi khối Cộng tan tành, tàn dư Cộng Sản đa số là ở Á Châu, bèn áp dụng nền kinh tế” dị mô:” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để tồn tại, như thứ” kỳ nhông đổi màu”. Đảng Cộng Sản Trung Quốc vững hơn nên không” lập lờ đánh lận con đen”:, trong khi đó Việt Cộng yếu hơn lại gian manh nên áp dụng” chiêu cũ” của Hồ Chí Minh là” dựng nên đối lập cuội”, do đó trong nước, đảng ngầm cho” phục hoạt” đảng Dân Chủ, và Hoàng Minh Chính là người được coi là” linh hồn đảng cuội” với chức vụ Tổng Thư Ký, nay là Trần Khuê; ngoài ra còn đảng Thăng Tiến, khối 8406 ( có bàn tay nới dài từ trong nước qua đại lý là băng đảng Việt Tân), cùng với một số nhà” đấu tranh cuội, phản tỉnh giả” hay những” nhà đấu tranh không nguy hiểm” như huề thượng Thích Quảng Độ, nhà báo chui linh mục Chân Tín, làm báo chui mà lại rần rộ quảng cáo người chủ trương, do băng đảng Việt Tân phổ biến, thì còn gì là CHUI nữa? Vậy mà cũng có người tin….

.Những người nguy hiểm, trong nội bộ trong đảng như các tên bị giết trong các thanh trừng như đại tướng Nguyễn Viết Thanh, thượng tướng công an Thi Văn Tám….thì những nhà đối kháng, tay không như Đổ Nam Hải, Nguyễn khắc Toàn….có sá gì, đảng dư sức giết bất cứ ai nguy hiểm, đe dọa sống còn của chế độ bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, như trường hợp đức tổng giám mục địa phận Huế Nguyễn Kim Điền. Tuy nhiên, những nhà” dân chủ không nguy hiểm” trở thành” con tin tại gia”, được đảng cướp Cộng Sản dùng để” bắt bớ rồi thả” tùy theo” triều cường chính trị” bang giao quốc tế, để đòi hỏi yêu sách các nước tôn trọng nhân quyền Tây phương như Hoa Kỳ, Liên Âu. Vừa tạo được” black mail” và vừa có tiếng là” có cải thiện về tình trạng dân chủ và tự do tôn giáo”, trong khi đó Bắc Hàn thì dùng” black mail” là thí nghiệm bom nguyên tử, bắn thử hỏa tiển.

Do đó, sách lược tuyệt vời:” biển tình tại gia và bất tân dân sự” quả là một” Tương kế tựu kế” rất tinh vi, vì khi VC lên án Quảng Độ gắt gao, chỉ bằng Mồm, mà không có biện pháp trấn áp, tức là:” giơ cao đánh khẽ” để tung hòa mù là Quảng Độ là kẻ thù nguy hiểm, nên hải ngoại, một số Phật Tử, nhất là băng đảng Việt Tân hứng lấy và coi Quảng Độ là thần tượng chống Cộng, là cái hai nhọn xung kích, có khả năng làm sụp đổ chế đổ bằng” biểu tình tại gia và bất tuân dân sự”. Nên những ai vạch ra cái dỏm nầy, thì lập tức những Tam Tạng thời đại, tay sai, băng đảng Việt Tân….nhào vô chụp mũ nào là Việt Cộng, công an, phá hoại,….rộ lên như bầy chó hùa, tạo rối loạn cả cộng đồng, vô tình góp công phá rối, chỉ vì thần tượng” Thích Quảng Độ”.

Do đó đồng hương, những người ý thức, hảy bình tỉnh, đừng để lọt vào quỷ kế phân hóa qua vụ ngài huề thượng Quảng Độ. Trong chuyện Tây Du Ký, nhiều lúc Tôn Hành Giả khám phá ra ma quái giả dạng người hiền, bèn vùng thiết bản lên toan đánh, lột mặt, thì Tang Tạng là người” phàm mắt thịt” cản ngăn, đã thế mà còn trách đệ tử sao quá” ác nhân”, rồi còn trừng trị bằng niệm chú, khiến vòng kim cọ xiết lại…. đến sau nầy, khi ma quái hiện nguy hình, thì mới giựt mình, biết mình sai, nhiều lần như thế, xuýt làm hỏng cả việc lớn.

Từ lâu nay, Đảng Cộng Sản đã chọn lựa cho họ” đối thủ” để tham dự trong” sân chơi dân chủ dỏm” nên trong các đảng phái, họ chọn Băng Đảng Việt Tân và một trong những người ít nguy hiểm, thì huề thượng Thích Quảng Độ là hàng đầu. Đảng CS thành lập sân chơi, họ biết chắc là thắng, lại còn được tiếng” có cải thiện tình trạng nhân quyền và tự do tôn giáo”, nhưng đợi tới thế kỷ thứ 22 cũng chưa chắc, nếu cứ đấu tranh theo sản phẩm” recycle” của Ganhdi. Cho nên VC thường nêu tên những đối tượng đó đẻ tung hỏa mùa, khiến Hoa Kỳ tưởng thiệt mà mời Băng Đảng Việt Tân lên hỏi ý kiến và nói về tôn giáo thì mời Quảng Độ, bên cạnh có Võ Văn Ái ( biết đâu ông cư sĩ nầy cũng dám được đề cử lãnh giải Nobel lắm? Vì nghe đâu giới Phật Giáo, dù coi cõi đời là cõi tạm, nhưng cũng thích giải Nobel lắm, hình như thiền sư Nhất Vẹm cũng là ứng viên HỤT giải thưởng nầy?). Cứ thế mà phát huy phải tỉnh, đối kháng, lá bài dân chủ, tự do tôn giáo.

So với đức Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần nước Tây Tạng, thì ngài Quảng Độ nào sánh bằng về khả năng, đức độ, uy tín trên thế giới. Thế mà Đức Đạt Lai Lạt Ma khiêm nhường, không nhận danh hiệu Phật Sống ( living Budhha) mà ngài chỉ nhận là một tu sĩ tầm thường ( a humble monk). Không phải bất cứ cái gì của Đức Đạt Lai Lạt Ma đều:” không bao giờ sai lầm và được ủng hộ tuyệt đối”, bằng chứng là năm 2007, ngài sang Úc Châu, giữa lúc sắp có cuộc bầu cử liên bang, trong đề tài” thuyết pháp” ngài có nhấn mạnh đến” khí thải nhà kín”, là đề tài mà đảng Lao Động của ông Kevin Dudd đang dùng để tấn công liên đảng Tự Do-Quốc Gia, do thủ tướng John Howard lãnh đạo, sự việc nầy làm cho nhiều người không đồng ý. Do đó, ngài huề thượng Quảng Độ không phải là Phật Sống, thánh tăng….là” người phàm mắt thịt” cũng như Tam Tạng, nên cũng phạm phải sai lầm, nhưng sai mà biết sửa chửa, phục thiện, thì mới đáng phục.

Trong quá khứ, miền Nam có một số cao tăng như “Thích Trí Quang, Thích Minh Châu, v.v.” của Cộng sản Việt Nam…hàng ngũ dâm tăng thì đông lắm, còn triệu phú tăng cũng không kém…thế mà khi bị bể, nhiều vị huênh hoang, tự cao, chi biết” sám hối” với Phật ( vì tượng Phật không nói được), còn bá tánh, người góp công tạo chùa, sản nghiệp, thì các ngài ” thanh tâm trường phớt tỉnh” khinh thường là thứ” cấp dưới” không cần phải nói chuyện cho mất uy tín. Người Việt, nhất là Phật tử có truyền thống máy móc” trọng Phật kính tăng” nên cái gì từ hai đối tượng nầy trở thành cao quí nhất. Nhưng trọng Phật là chuyên đương nhiên, còn kính tăng, thì còn hỏi lại, vì tăng chỉ là người hành đạo, là” trung gian” trong Phật Giáo, tăng cũng như người thường, chỉ khác nhau là sắc áo, cách ăn ở…nên tăng không phải là Phật, nên khi tăng làm sai, người ta vạch ra, thì những Phật tử Tam Tạng thời đại qui chụp” là đánh phá Phật Giáo” tệ hơn là chụp mũ công an, như vụ huề thượng Quảng Độ, thật là bậy bạ, thiếu khách quan và vô tình” phỉ báng đạo pháp”../.

TRƯƠNG MINH HÒA
01.06.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

June 1, 2009 Posted by | " BẤT TUÂN DÂN SỰ" NẰM Ụ TẠI GIA THẬT LÀ THƯỢNG SÁCH! | | Leave a comment

Thư Ngỏ gởi ông Lê Công Cầu – Vụ trưởng Gia đình Phật tử Vụ thuộc Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN

Thư Ngỏ gởi ông Lê Công Cầu,
Vụ trưởng Gia đình Phật tử Vụ, thuộc Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN

Lời nói đầu:

– Kính thưa quý độc giả, trong thời gian qua, ông Lê Công Cầu, một chức sắc thuộc GHPGVNTN đã viết Giác Thư Số 4, chỉ trích cá nhân tôi. Ðể rộng đường dư luận, hôm nay tôi viết Thư Ngỏ phúc đáp và kính nhờ quý vị chủ báo cho phổ biến rộng rãi. Xin đa tạ.

Trần Thanh

——————————————————————————–

Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Tại Hải Ngoại
Ðộc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Thư Ngỏ gởi ông Lê Công Cầu,
Vụ trưởng Gia đình Phật tử Vụ, thuộc Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN

Thưa ông,

Ngày 27/5/2009, tôi nhận được Giác Thư của ông khuyên nhủ tôi đôi điều. Trong Giác Thư, ông đã buộc cho tôi năm “tội” như:

1. Phản bội bản chất dân tộc Việt,
2. Phản bội luân lý dân tộc Việt,
3. Phản bội văn hóa dân tộc Việt,
4. Phản bội lý tưởng đấu tranh của dân tộc,
5. Và phản bội chính mình!

Những “tội” mà ông gán ghép cho tôi rất là nặng, nặng gần tương đương với tội của …. bác Hồ! (Tôi nghe nói, “bác” Hồ đang bị lưu đày vĩnh viễn dưới địa ngục A Tỳ vì “sơ ý, sai lầm chút đỉnh”, lỡ tay làm chết MƯỜI TRIỆU người dân Việt!!!) Vì vậy hôm nay tôi viết thư này xin phúc đáp lại đôi điều:

Trước tiên, xin đi thẳng vào vấn đề để khỏi mất thời giờ:
– Tôi không đồng ý với những lời cáo buộc, gồm năm “tội” mà ông đã gán ghép cho tôi, ghi trong Giác Thư, và tôi xin gởi trả lại ông những lời buộc tội nặng nề đó. Theo tôi nghĩ, người xứng đáng để nhận năm tội đó chính là hòa thượng …. Thích Quảng Ðộ!

Nói có sách, mách có chứng, sau đây tôi xin nêu ra từng điểm một và tôi dùng chính những lời cáo buộc của ông để chứng minh rằng nó phù hợp với …. thầy Quảng Ðộ!

1. Thầy Quảng Ðộ phản bội lại bản chất dân tộc Việt:

Trong Giác Thư Số 4, ông Cầu đã buộc tội tôi là “vô lễ” với thầy Quảng Ðộ, như vậy là phản bội bản chất dân tộc Việt. (Nếu cứ kiểu suy diễn thoải mái như vậy thì có lẽ ai mà “vô lễ” với …. bác Hồ thì người đó phản bội bản chất dân tộc Việt?) Trước hết, xin ông Cầu vui lòng xem lại bản văn Lời Kêu Gọi do thầy Quảng Ðộ viết. Mở đầu bản văn, thầy đã nhập đề bằng câu: “Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xít ở Tây Nguyên ….”. Tự nhiên thầy đã nhập đề một cách ngang xương và vô duyên như vậy, không “kính thưa, kính gởi” ai hết cả! Ðáng lẽ thầy phải mở đầu bản văn như sau:

Kính Gởi: – Toàn thể phật tử và đồng bào trong và ngoài nước

Như vậy mới đúng là người “tiên học lễ hậu học văn”. Một vị tổng thống đọc diễn văn trước quốc dân, luôn luôn mở đầu bằng câu:

– Kính thưa toàn thể đồng bào!

Một người dù đang giữ chức vụ lớn tới cỡ nào chăng nữa, nếu là người biết “lễ”, biết “văn” cũng phải biết lễ phép và tôn trọng người dân. Muốn kiểm chứng, ông Cầu có thể tìm xem lại những bài diễn văn của các tổng thống Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Riêng trường hợp của thầy Quảng Ðộ, đã gọi là “Lời Kêu Gọi” mà thầy không thèm “kính gởi, kính thưa” thì không lẽ thầy đang nói chuyện với ma? Hay là thầy tự cho mình là bậc thánh rồi nên không thèm thưa gởi ai cả? Hay phải chăng toàn dân, dưới con mắt của thầy chỉ là cỏ rác?

Ông Cầu buộc tội tôi là thiếu “tiên học lễ hậu học văn” và tôi là đồ lưu manh thì hình như hai điều này rất phù hợp với … thầy Quảng Ðộ! Bởi lẽ, thầy nói chuyện với 85 triệu người dân trong nước và 3 triệu người ở hải ngoại mà chẳng thèm thưa gởi ai cả! Nếu thầy nói chuyện với từng người thì không biết cái “lễ” và cái “văn” của thầy nó “hay” tới mức nào!

Một người đã có thái độ coi khinh cả dân tộc thì có đáng để cho chúng ta kính trọng hay không? Cũng như trước đây có vài người trách tôi là tại sao dám “vô lễ” với bác Hồ vì dầu sao “bác” cũng đã 116 tuổi rồi! Và cũng có người phê bình tôi là tại sao dám gọi “ông” Giáp là “thằng” Võ Nguyên Giáp vì dầu sao bác Giáp cũng đã 99 tuổi!

Chúng ta học “văn” và học “lễ” là để dùng với những người đáng kính trọng. Còn đối với loài giặc cướp nước và bán nước, những kẻ đi làm tay sai cho giặc mà chúng ta vẫn cứ cúi đầu “thưa ông, thưa ngài” thì chúng ta là những kẻ hèn và không có trí! Mình tôn kính thằng giặc thì có khác gì mình đồng lõa với nó? Tôi tin rằng thời xưa không có người dân Việt nào mà gọi thằng giặc Tàu Tôn Sĩ Nghị là “ông Nghị” hay “ngài Nghị”; gọi thằng Mã Viện là “ngài Mã Viện”!

Tuy nhiên, sự đời vốn nhiều bất công:
– Một con cọp vào làng bắt nguyên một con bê thì không ai dám nói gì nó; trong khi đó, con mèo tha một miếng mỡ thì cả làng xúm lại rượt đuổi! Như tôi đã phân tách nêu trên, thầy Quảng Ðộ kêu gọi toàn dân “biểu tình tại gia” mà chẳng thèm “kính thưa, kính gởi” gì ráo, ông Cầu có giỏi thì phê bình thầy đi?

Giả sử bản văn Lời Kêu Gọi mà do anh Tư Thỏ Ðế hay anh Bảy Trời Ơi nào đó ký tên thì có lẽ thiên hạ đã xúm lại và chửi cho nát nước! Thiên hạ sẽ chửi như thế này:

– À, thằng Tư Thỏ Ðế, thằng Bảy Trời Ơi là những thằng chó nào mà dám kêu gọi chúng ta về Việt Nam họp với việt cộng để đầu hàng việt cộng?

Nhưng khốn nỗi, bản văn này lại do thầy Quảng Ðộ, nhân danh Viện trưởng Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN ký tên thì hầu như không có ai dám ho he chống đối, dầu biết rằng đó là lời kêu gọi đi vào cõi chết! Chức vụ của thầy lớn lắm, uy thế lớn lắm. Ở hải ngoại ai mà dám lên tiếng chống đối thầy thì lơ mơ bị chụp cho cái nón cối là “đánh phá tôn giáo”, “đánh phá cộng đồng” và “cộng sản nằm vùng” thì nguy hiểm vô cùng!

Và điều này đang xảy đến cho tôi. Hiện nay tôi đang bị đội trên đầu tới NĂM cái nón cối do ông Vụ trưởng Lê Công Cầu đội cho tôi!

Chính vì thầy Quảng Ðộ đang giữ những chức vụ tôn giáo lớn và là nhân vật số 1 của GHPGVNTN nên bọn cộng sản đã âm mưu sử dụng thầy như một con rối để khống chế và thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại! Và âm mưu này của bọn chúng đã từng nhen nhúm từ lâu rồi, kể từ khi thầy Ðộ hạ bút, viết tờ giấy “Lời Cam Kết” ngày 9 tháng 2 năm 1995, gởi sở công an thành phố Hồ Chí Minh, xin được khoan hồng! Cuối tờ cam kết, thầy đã tự nhận mình là “bị can”, tức là người có tội!!!

Công an việt cộng nó đã nắm cái cán trong tay (bằng chứng đầu hàng) thì nó nói gì mà thầy không nghe? Nếu thầy mà chống thì nó sẽ cho công bố tờ thú tội trên truyền thông khắp trong và ngoài nước! Ðó là lý do vì sao kịch bản “biểu tình tại gia” ra đời!
(Xin quý vị xem tài liệu đính kèm)

2. Thầy Quảng Ðộ đã phản bội lại luân lý của dân tộc Việt:

Trong Giác Thư Số 4, ông Cầu đã kết tội tôi là không biết “kính trên nhường dưới” và đó là phản bội lại luân lý của dân tộc!

Như tôi đã trình bày ở điều (1), chúng ta phải biết kính trên nhưng đấng bề trên đó phải là những người như thế nào? Có xứng đáng hay không? Nếu những đấng “bề trên” là những thằng giặc cướp nước, bán nước như thằng Hồ, thằng Duẩn, thằng Mạnh, thằng Dũng hoặc Dương Văn Minh thì có đáng cho chúng ta tôn kính hay không? Hay phải lấy cà chua, trứng thối hoặc băng vệ sinh phụ nữ ném vào mặt chúng?

Vậy cá nhân thầy Quảng Ðộ như thế nào? Tóm tắt:

-Trước năm 1975, thầy được chính phủ VNCH cho đi du học Ấn Ðộ. Vậy mà khi về nước thầy đã phản bội lại chính phủ quốc gia, đi theo thành phần thứ ba, lén vào bưng đi họp với việt cộng. Rồi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, thầy đã cùng với đám sinh viên Vạn Hạnh đi ra ngã tư Bảy Hiền để đón bộ đội cộng sản vào thành phố!

Sau năm 1975, thầy bị cộng sản thất sủng, bất mãn thầy quay sang chống đối. Và sau khi bị công an bắt thì vào tháng 2 năm 1995, thầy đã viết lời thú tội, xin được “khoan hồng” để sống cuộc đời tu hành, dịch kinh sách! Tệ hại nhất là ngày 29 tháng 3 năm 2009, thầy đã ban hành Lời Kêu Gọi, công khai kêu gọi người Việt tại hải ngoại hãy đầu hàng cộng sản! Thầy đã công khai đưa chúng ta vào chỗ chết! Hải ngoại là bộ phận đầu não, một khi đã bị cộng sản thôn tính thì quốc nội coi như rắn mất đầu! Nguy hiểm vô cùng, chúng ta sẽ mãi mãi làm nô lệ, hầu như không còn hy vọng để tự giải thoát được nữa!

Một người như vậy mà ông Cầu bắt tôi phải “kính” thì kính thế nào? Chúng ta phải phản đối, phải lên án thầy Quảng Ðộ chứ tại sao phải kính? Những việc làm của thầy Quảng Ðộ cũng không khác gì những hành động của Dương Văn Minh, Thích Ðôn Hậu và Thích Trí Quang! Cá mè một lứa! Hại dân hại nước, xem sinh mạng người dân như cỏ rác!

Tôi là người theo đạo Phật từ nhỏ nhưng không vì thế mà tôi tin tưởng mù quáng hoặc trở thành một kẻ cuồng tín. Tôi chống đối thầy Quảng Ðộ vì thầy làm sai và xin nói rõ: -tôi chống đối cá nhân thầy Quảng Ðộ chứ không phải là “đánh phá tôn giáo”. Ðức Phật đã dạy chúng ta ba chữ BI-TRÍ-DŨNG, chúng ta phải hiểu và thực hành. Nếu thấy người lãnh đạo của mình làm sai thì chúng ta phải có can đảm lên tiếng. Ðó chính là “DŨNG”. Và phải có khả năng phân biệt được đâu là CHÍNH, đâu là TÀ; đâu là ÐÚNG, đâu là SAI; đâu là THIỆN, đâu là ÁC. Ðó chính là “TRÍ”.

Nhiều người biết thầy Quảng Ðộ làm sai nhưng vẫn ngậm câm miệng, không dám lên tiếng. Một phần vì thiếu “trí” và “dũng”, một phần vì thái độ thiên vị tôn giáo: – thôi thì cho qua, vì đó là THẦY CỦA MÌNH và đạo Phật là “ÐẠO CỦA MÌNH”!!! Và cũng chính những con người đó, những phật tử đó, nếu họ thấy một vị lãnh đạo thuộc tôn giáo khác mà phạm sai lầm thì họ làm lớn chuyện, phóng phi tiêu tới tấp!

Chính vì thái độ thiên vị tôn giáo này mà bọn cộng sản đã lợi dụng, tìm cách len lỏi vào và phá nát cộng đồng của chúng ta. Và khi cộng sản đã thôn tính được hết miền Nam thì làm gì còn có “đạo của mình” nữa. Tất cả mọi tôn giáo đều bị chúng bóp mũi, bóp họng!

Là những người đấu tranh chống cộng sản, chúng ta phải đặt quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết, chớ không phải đặt “tôn giáo của mình” hay vị “giáo chủ của mình” lên trên quyền lợi của dân tộc.

Trong Giác Thư Số 4, điều số 2, ông Cầu có đề cập đến Hội Nghị Diên Hồng chống giặc Tàu đời nhà Trần.

Trong bối cảnh hiện nay tại nước ta, sẽ không bao giờ có Hội Nghị Diên Hồng. Vì sao?

Bởi vì bọn việt gian cộng sản đi làm tay sai cho giặc Tàu. Nó với giặc Tàu chính là một. Thầy Quảng Ðộ là con rối của việt gian cộng sản. Những kẻ ngây thơ hoặc háo danh, tham lợi nghe theo Lời Kêu Gọi của thầy, về nước họp “hội nghị” với … giặc Tàu để chống giặc Tàu, sao mà hài hước đến thế? Mà đó lại là cạm bẫy chết người chứ không phải chơi! Nên nhớ, những người ở hải ngoại mà về Việt Nam thì cũng tựa như con cá nằm trên thớt, bọn cộng sản có thể giết bất cứ lúc nào cũng được! Trước tiên, bọn chúng có thể dùng tiền để mua chuộc, hoặc dùng mỹ nhân kế, lén quay phim các “đại biểu” ngủ với gái điếm trong khách sạn. Nếu mua chuộc không được thì bọn chúng sẽ giở trò ám sát bằng cách dàn cảnh đụng xe hoặc đầu độc! Trăm ngàn kiểu chết nhục nhã, xú danh lưu vạn niên!

Do đó, chỉ khi nào bọn việt gian cộng sản bị tiêu diệt hết và cái đám dơi chuột nhố nhăng như thầy Quảng Ðộ bị dẹp qua một bên thì đất nước ta mới có Hội Nghị Diên Hồng và đó mới là hội nghị chân chính!

3. Thầy Quảng Ðộ phản bội lại nền văn hóa dân tộc:

Trong Giác Thư Số 4, Ông Cầu đã kết án tôi là không biết lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, như vậy là phản bội lại nền văn hóa dân tộc!

Trong lãnh vực đấu tranh chính trị, vấn đề quan trọng là NÓI ÐÚNG HAY SAI chớ không phải là NÓI VỪA LÒNG HAY KHÔNG VỪA LÒNG! (Ðâu phải đôi tình nhân đang yêu nhau đâu mà phải nói ngọt hay không ngọt?) Ví dụ như một người lính khi ra trận, thấy một thằng việt cộng thì không lẽ phải nói lịch sự, nói “cho vừa lòng” là: – Thưa đồng chí việt cộng, xin phép đồng chí tôi được bắn đồng chí!

Chỉ sợ rằng người lính đó nói chưa hết câu thì đã lãnh đủ một băng đạn AK vào ngực!

Tên thủ tướng việt cộng Phạm Văn Ðồng đã gọi việt kiều là thành phần đĩ điếm, ma cô, trộm cắp, phản bội tổ quốc và dân tộc! Ông Cầu nghĩ sao? Và bây giờ bọn chúng lại gọi việt kiều là “khúc ruột ngàn dặm”! Câu nói “khúc ruột ngàn dặm” là “vừa lòng nhau”, nghe êm tai quá(!) nhưng có phải là cạm bẫy chết người hay không và nguy hiểm hơn gấp trăm ngàn lần hay không?

Những câu nói “vừa lòng nhau” của thầy Quảng Ðộ chẳng qua chỉ là những xảo ngôn, rập khuôn y hệt bọn cộng sản nhằm lừa bịp người dân trong và ngoài nước đi vào chỗ chết!

Thay vì nói “đừng có chống đối nhà nước nơi công cộng” thì thầy Quảng Ðộ gọi đó là “biểu tình tại gia”! Thử hỏi, giả sử có một số đồng bào muốn hiệp thông với các giáo dân giáo xứ Hà Nội và Thái Hà thắp nến cầu nguyện, họ nghe theo lời của thầy kêu gọi, ở nhà “biểu tình tại gia”, nằm dưới gầm giường trùm mền thì cuộc đấu tranh của đồng bào sẽ đi về đâu?

Thay vì nói “về đầu hàng cộng sản” thì thầy Quảng Ðộ đã chế ra những mỹ từ là về nước để “thống nhất ý kiến”!
Tương tự:
Thay vì nói “đầu hàng” thì Dương Văn Minh nói là “bàn giao chính quyền”!

Thay vì nói “đi ở tù” thì bọn cộng sản nói là “đi học tập”!

Thay vì nói “tịch thu tài sản” thì bọn cộng sản nói là “cải tạo công thương nghiệp”!

Thay vì nói “đi xâm lăng Campuchia” thì bọn cộng sản nói là “đi làm nghĩa vụ quốc tế”!

Ôi, tất cả đều là những lời nói tẩm đầy nọc rắn độc! Ðó chính là “nói cho vừa lòng nhau đấy”! Chắc là ông Cầu thích lắm! Chính vì thích nghe những câu nói “vừa lòng” mà hàng triệu người đã chết oan vì cạm bẫy của cộng sản!

Khi có người chỉ trích thầy Quảng Ðộ thì ông Cầu nên chú ý xem những lời chỉ trích đó là ÐÚNG hay SAI. Ðằng này ông cứ chăm bẳm bắt lỗi người chỉ trích là tại sao dám “vô lễ” với vị giáo chủ và còn “nâng quan điểm” lên, trở thành những “trọng tội” như phản bội lại văn hóa dân tộc, phản bội lại luân lý dân tộc!

Khi đấu tranh, chúng ta phải mạnh dạn nói thẳng nói thật, chớ không phải là nói cho vừa lòng. Vấn đề quan trọng là những lời nói có ÐÚNG hay không? Ðấu tranh chính trị mà sợ bị nghe những lời nghịch nhĩ thì đấu tranh làm gì? Ðã chấp nhận đấu tranh là phải chấp nhận nghe …. chửi! Ðấu tranh chính trị là chèo thuyền đi trên giòng nước ngược chớ không phải là bơi thuyền trên mặt hồ thu!

Có nhiều người sợ bị nghe chửi nên chủ trương rằng họ không chửi người khác thì người khác sẽ không chửi họ! Ðây chẳng qua là vấn đề chân đã lỡ đạp cứt. Nếu họ tố cáo người khác thì đối thủ sẽ chỉ vào chân của họ mà nói rằng: “Chân của mày cũng đạp cứt!” Ðã lỡ nhận tiền hối lộ của bọn cộng sản hoặc Băng Đảng Việt Tân rồi thì coi như ăn xôi chùa ngọng miệng! Do đó, trong vấn đề đấu tranh, chưa chắc người “dĩ hòa vi quý” đã là người tốt, và ngược lại, người chỉ trích nhiều chưa chắc là người xấu. Họ chỉ trích nhiều nhưng họ nói ÐÚNG thì ta phải hoan nghênh chớ tại sao lại lên án đó là những kẻ “đánh phá cộng đồng” hoặc “đánh phá lung tung”?

Trước đây cụ Nguyễn Ðình Chiểu đã từng viết: – Chở bao nhiêu Ðạo thuyền không khẩm. Ðâm mấy thằng gian bút chẳng tà!

Càng “đâm” nhiều thằng gian thì ngòi viết của cụ càng sắc bén! Cụ đồ Chiểu tuy mù nhưng cụ đã “thấy” rất nhiều, còn hơn nhiều kẻ ngày nay sáng mắt mà cứ mù quáng đâm đầu vào những cái bẫy rập cò ke của việt gian cộng sản! Cứ thấy nhãn hiệu cầu chứng “Thích Quảng Ðộ” là nhắm mắt ký bừa vào danh sách ủng hộ mà chẳng cần suy nghĩ là bản văn Lời Kêu Gọi là đúng hay sai!!!

Như vậy, dưới con mắt của băng đảng Việt Tân, chắc cụ Chiểu cũng là kẻ ưa “đánh phá cộng đồng”, “đánh phá lung tung”!

Còn một điều nữa xin nêu lên ở đây để chứng minh rằng thầy Quảng Ðộ là người phản bội lại nền văn hóa dân tộc: thầy để râu tóc rậm rạp như người phàm! Từ thuở cha sanh mẹ đẻ, tôi chưa bao giờ thấy có vị tu sĩ Phật giáo nào mặc áo cà sa mà lại để râu tóc. Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ hơn hai ngàn năm nay và đã hòa quyện cùng với nền văn hóa dân tộc. Theo truyền thống văn hóa Việt, đi tu thì phải cạo đầu, cạo râu. Ðằng này thầy Quảng Ðộ là một vị cao tăng, đang giữ những chức vụ cao nhất trong GHPGVNTN mà lại phạm giới. Ðáng lẽ thầy phải làm gương cho các phật tử và người đời nhưng thầy đã không làm, vậy liệu chúng ta có thể kính trọng con người như vậy hay không?

4. Thầy Quảng Ðộ phản bội lý tưởng đấu tranh của dân tộc.

Trong Giác Thư Số 4, ông Cầu đã kết tội tôi là phản bội lý tưởng đấu tranh của dân tộc. Tôi xin gởi trả lại cái nón cối này cho ông và đề nghị với ông là nên chuyển nó đến thầy Quảng Ðộ vì hình như nó phù hợp với …. cái đầu của thầy, bảo đảm thầy sẽ đội rất vừa!

Xin thưa với ông Cầu, mỗi khi lái xe trên free-way, nhìn thấy những tấm bill-board khổng lồ, có in hình tên công an việt cộng đang bịt miệng cha Lý trước tòa án, là lòng tôi càng thêm sôi sục, thù ghét bọn việt gian cộng sản. Tôi cứ nguyền rủa tên công an bịt miệng cha Lý là khi chết, nó phải bị đọa xuống địa ngục A Tỳ! Ấy vậy mà khi đọc Giác Thư của ông, tôi đã giật mình vì ông đã ví tôi như tên công an việt cộng đang cố bịt miệng những nhà đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước! Ông đã mô tả tôi như một tên công an việt cộng ác ôn “vùi dập không nương tay”, “dập tắt lý tưởng đấu tranh của DÂN TỘC”!!! (Ghi chú: những chữ trong ngoặc kép và in nghiêng là trích nguyên văn của ông Cầu, ghi trong Giác Thư)

Thưa ông Cầu, ông giàu trí tưởng tượng quá! Một phó thường dân như tôi làm gì có quyền hành để “bịt miệng” các quan lớn “đấu tranh dân chủ” cỡ như Ðỗ Nam Hải! Hoặc tôi làm gì có quyền lực để “vùi dập không nương tay” quan lớn “đấu tranh dân chủ” Trần Khuê, hiện nay đang là nhân vật số 1 của đảng Dân Chủ 21, đã có thời làm quân sư quạt mo cho tổng bí thư Lê Khả Phiêu!

Xin thưa với ông Cầu:

– Tôi chỉ là một phó thường dân nghèo nàn đang sống tại hải ngoại, hoàn toàn không có một chức quyền gì thì làm sao tôi có thể “vùi dập không nương tay” và “bịt miệng” những nhà đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước?

– Những người mà ông Cầu gọi là “các nhà đấu tranh dân chủ” trong và ngoài nước, đa số (khoảng 90%) là bọn dân chủ cuội, lưu manh, điếm đàng chính trị do bọn việt gian cộng sản và Băng Đảng Việt Tân dựng lên. Trong bất cứ thời đại nào và trong lãnh vực nào, đồ dỏm bao giờ cũng rất nhiều, còn đồ thật thì rất ít. Trong lãnh vực đấu tranh chính trị hiện nay cũng vậy, thành phần dơi chuột và cắc kè rất là nhiều! Nhiệm vụ của chúng tôi là vạch mặt những tên lưu manh dân chủ cuội để đồng bào biết mà đề phòng, như vậy sao lại gọi là “bịt miệng” và “vùi dập” họ? Một người cảnh sát bắt được một thằng chuyên đi móc túi thì chúng ta phải hoan nghênh người cảnh sát chớ tại sao lại lên án người cảnh sát là “bịt miệng” hoặc “vùi dập” thằng móc túi?

– Hiện nay, bọn việt gian cộng sản và Băng Đảng Việt Tân đang kiểm soát khoảng 90% các phương tiện truyền thông ở hải ngoại. Theo tôi biết thì chỉ có ba tờ điện báo là TinParis, Hồn Việt UK và Chính Nghĩa của ông Kim Âu Hà Vân Sơn là dám đăng những bài viết của những người đấu tranh chân chính. Ngoài ra, hình như chỉ có một tờ nhật báo giấy tại Little SaiGon là dám đăng những bài viết lấy từ TinParis và HồnViệt UK. Như vậy, 90% truyền thông còn lại là tha hồ thoải mái đăng tải những ý kiến cũng như những tiếng nói của những nhà “đấu tranh dân chủ” trong và ngoài nước!

Thưa ông Cầu, xem qua tình hình như vậy thì ông thấy phương tiện của bên nào dồi dào hơn? Các nhà “đấu tranh dân chủ” có đến 90% phương tiện trong tay, còn chúng tôi chỉ có khoảng 10% thì làm sao chúng tôi “bịt miệng” và “vùi dập” được các “nhà dân chủ”? Ðáng lẽ ông Cầu nên hiểu ngược lại, nghĩa là, chúng tôi bị những kẻ ác vùi dập mới đúng!

– Một điều nữa xin được nêu lên ở đây: – Ông Cầu đã đồng hóa những nhà “đấu tranh dân chủ” CUỘI với DÂN TỘC VIỆT NAM. Hóa ra những tên bịp như Trần Ðộ, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Ðỗ Nam Hải, Trần Anh Kim, Phan Văn Lợi, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Ðan Quế là ÐẠI DIỆN CHO DÂN TỘC VIỆT NAM?!!! Ai mà dám lên tiếng phê bình những người này thì bị chụp cho cái mũ là “phản bội lại dân tộc”???

– Nếu quả thật bản văn Lời Kêu Gọi của hòa thượng Thích Quảng Ðộ là viên kim cương bất hoại thì không một ai có thể “vùi dập không nương tay” được và không ai có thể bôi bẩn được. Vàng thật không sợ lửa. Càng cố bôi đen thì viên kim cương càng sáng. Chỉ tiếc rằng bản văn Lời Kêu Gọi của thầy Quảng Ðộ chính là một văn kiện đầu hàng giặc, rất nhục nhã và đáng tởm. Mục đích chính của nó là kêu gọi cộng đồng người Việt tại hải ngoại hãy đầu hàng giặc. Ðây là điều rất hiển nhiên cho dù ông có cố bào chữa, ngụy biện và gán ghép cho nó những ý nghĩa “cao siêu” mang tính cách “triết học” Dịch Lý!

Thưa ông Cầu, vũ khí chống cộng của tôi chỉ là một cây viết. Tôi hoàn toàn không có một quyền hành gì hay một phương tiện gì to lớn để “bịt miệng” hay “vùi dập” những nhà đấu tranh dân chủ. Tôi cũng không có quyền hành gì để “trù dập” (chữ dùng của ông) các bậc trưởng thượng như hòa thượng Quảng Ðộ và bậc đàn anh như các ông Quế, ông Liên! Bằng ngòi viết chống cộng, tôi có quyền nêu lên những quan điểm chính trị của tôi và ngược lại những “nhà dân chủ” cũng có quyền tự do ngôn luận của họ, thậm chí đã có nhiều người lên tiếng chỉ trích chúng tôi rất nặng! Họ có những phương tiện vật chất dồi dào và mạnh hơn chúng tôi gấp trăm lần. Như vậy, ai có khả năng để bịt miệng ai? Ông nên nhìn lại vấn đề này cho công bằng, kẻo mang tiếng là vừa ăn cướp vừa la làng!

Còn nói về thầy Quảng Ðộ thì tôi thấy chính thầy mới là người phản bội lại lý tưởng đấu tranh của dân tộc. Vì sao?

Bởi vì cả dân tộc chúng ta đang khao khát được TỰ DO, đang mong chờ ngày tổng khởi nghĩa để vùng dậy, lật đổ chế độ cộng sản tham tàn, bạo ngược thì thầy Quảng Ðộ lại lên tiếng kêu gọi chúng tôi buông vũ khí đầu hàng! Sao mà giống Dương Văn Minh thế! Ðó là chưa kể thầy hơi tiếm danh, bởi lẽ, với cương vị của thầy thì thầy chỉ đại diện cho phật tử ở trong và ngoài nước thôi. Nhưng trong bản văn Lời Kêu Gọi, thầy đã kêu gọi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước, nghĩa là bao gồm luôn các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, nên đầu hàng giặc!

5. Thầy Quảng Ðộ phản bội lại chính mình:

Trong Giác Thư Số 4, ông Cầu đã kết án tôi là phản bội lại chính mình. Một lần nữa, tôi xin trả lại cái nón tai bèo này cho ông và nhờ ông chuyển đến thầy Quảng Ðộ!

Lý luận của ông nêu ra bằng Tam Ðoạn Luận …. dỏm như sau:

– Báo Công An của việt cộng xuyên tạc, vu khống thầy Quảng Ðộ
– Trần Thanh cũng xuyên tạc, vu khống thầy Quảng Ðộ
– Vậy kết luận: Trần Thanh đã tiếp tay với cộng sản và phản bội lại chính mình!

Xin thưa với ông Cầu, đừng có dùng báo Công An và An Ninh Thế Giới của việt cộng để làm cái “nhãn hiệu cầu chứng” cho sự nghiệp “chống cộng” của mình! Có trung tâm băng nhạc ở hải ngoại, khi chuẩn bị phát hành một cuộn băng, phải thuê tờ báo Công An ở thành Hồ, viết bài “chửi” rất dữ dội, lên án nhân vật X, nhân vật Y là “phản động”. Có làm như vậy, họ mới dễ quảng cáo bán băng và tự đánh bóng cho sự nghiệp chống cộng của mình!

Hiện nay, các tờ báo Công An và An Ninh Thế Giới vẫn thường viết bài “chửi” băng đảng Việt Tân là “phản động” đấy chứ! Các nhà dân chủ như Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Khắc Toàn vẫn thường xuyên bị công an “theo dõi” và báo Công An vẫn thường xuyên “lên án” những người này là “phản động” đấy chứ! Do đó, sự việc hòa thượng Thích Quảng Ðộ bị báo Công An “chửi” là điều rất cần thiết cho sự nghiệp “đối lập” … dỏm của thầy!

Nếu chúng ta cứ căn cứ vào báo Công An, xem nó như là một loại hóa chất thử vàng thì một ngày nào đó, bọn công an muốn mượn tay chúng ta giết một nhân vật hay một tổ chức nào đó thì chúng chỉ việc viết một vài bài ca ngợi và vinh danh nhân vật mà chúng muốn giết! Chúng ta thường chê việt cộng là ngu nhưng hình như trong lãnh vực thủ đoạn chính trị, tụi nó là … thầy của chúng ta!

Một lần nữa, ở đây tôi có thể nói rằng thầy Quảng Ðộ đã phản bội lại chính mình. Một mặt, thầy luôn cho mình là người yêu nước, thương dân nhưng mặt khác thầy lại kêu gọi chúng tôi đầu hàng giặc!

Thưa ông Cầu, nêu trên là NĂM CÁI NÓN CỐI, ông đã chụp lên đầu tôi nhưng rất tiếc, tôi không muốn nhận. Nhờ ông vui lòng đem đến trao cho thầy Quảng Ðộ vì tôi tin chắc là thầy đội rất vừa! Sau đây là một vài vấn đề kế tiếp, tôi cần làm rõ với ông để giải quyết toàn bộ những gì ông đã nêu trong Giác Thư:

NHẬN XÉT VỀ NHỮNG GIẢI THÍCH CỦA ÔNG CẦU VỀ:
– Bất tuân dân sự
– Biểu tình tại gia

Khi giải thích về những nhóm chữ này, ông Cầu đã chê tôi là “ngu dốt” nên không hiểu được ý nghĩa “cao siêu” của nó! (gồm triết học và luật học)

Sau đây là tóm tắt một vài ý chính trong việc giải thích bốn chữ “bất tuân dân sự” của ông Lê Công Cầu:

– Dân sự là sự sống của người dân. Sự sống được thể hiện bằng hơi thở, ăn uống, ngủ, nghỉ … Ðây là quyền tự nhiên của con người. Ðã gọi là quyền tự nhiên thì không ai ban cho và con người cũng không cần xin xỏ ai cả. Vì là quyền tự nhiên của người dân nên người dân có quyền từ bỏ mà không vi phạm pháp luật. Việc từ bỏ quyền sống của mình gọi là bất tuân dân sự.

– Bất tuân dân sự là hành vi hợp pháp
– Bất tuân dân sự được pháp luật bảo hộ
– Hành vi tự thiêu là bất tuân dân sự
– Hành vi tuyệt thực là bất tuân dân sự

Nhận xét một:

Theo quyển Việt Nam Tự Ðiển của hai tác giả Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ thì hai chữ “dân sự” có nghĩa là:
1. Những việc của dân 2. Việc hộ, việc tranh chấp về gia đình và tài sản, quyền lợi giữa dân chúng với nhau. Ví dụ: Ðòi bồi thường về dân sự.

Tuy nhiên, theo định nghĩa của ông Cầu thì hai chữ “dân sự” mang ý nghĩa khác hẳn. Ông Cầu đã gò ép hai chữ “dân sự” thành ra những “quyền tự nhiên” của con người. Diễn đạt theo ngôn ngữ bình dân thì đó là bốn nhu cầu căn bản: ĂN, NGỦ, Ð… VÀ ỈA! Ông còn nói thêm rằng việc từ bỏ quyền sống của mình chính là …bất tuân dân sự. Ðó là hành vi hợp pháp và được luật pháp bảo hộ! Ông đưa ra ví dụ, một đứa bé giận cha mẹ, bỏ ăn; đó chính là bất tuân dân sự! Một ông thầy chùa tự thiêu chính là “bất tuân dân sự”!

(Xin đề nghị: – Có lẽ thầy Quảng Ðộ hoặc ông Lê Công Cầu nên làm gương, biểu diễn một màn “bất tuân dân sự”, nổi lửa lên em, thì hay quá! Hoặc ông Thích Trí Quang đâu, sao không chường mặt ra mà biểu diễn một màn “bất tuân dân sự”, gà rô ti, cho dân chúng bái phục!)

Do đó, nếu hiểu hai chữ “dân sự” theo đúng như định nghĩa của ông Cầu thì kể từ tháng 5 năm 2009, kho tàng ngôn ngữ của tiếng Việt sẽ có thêm nhiều từ vựng mới và cách diễn đạt ý tưởng rất mới lạ.

Ví dụ một:

– Một anh chàng một hôm đi làm việc về nhà trễ, bèn nói với vợ rằng: – Em à, bữa nay sau giờ làm việc, mấy thằng bạn rủ anh đi nhậu, bây giờ xỉn quá. Thôi, tối nay anh phải …. “bất tuân dân sự” (không giao hợp), em thông cảm nghe!

Người vợ trả lời: – Nếu ngày nào mà anh cũng “bất tuân dân sự” thì em sẽ thưa anh ra tòa để đòi bồi thường “dân sự” bị thiệt thòi!

Người chồng trả lời: – Em nên nhớ hành vi “bất tuân dân sự” của anh là hợp pháp và được luật pháp bảo vệ đó! Hòa thượng Thích Quảng Ðộ và bác Lê Công Cầu đã giải thích như vậy!

Ví dụ hai:

– Một việt kiều về thăm Việt Nam có thể phát biểu như sau: – Nhà vệ sinh ở sân bay Tân Sơn Nhất dơ dáy quá, tôi phải “bất tuân dân sự” mấy tiếng đồng hồ, về tới nhà mới “xả bỏ dân sự”, mừng quá chời!

Xin cám ơn thầy Quảng Ðộ đã sáng tạo ra bốn chữ “bất tuân dân sự”, làm giàu thêm cho kho tàng từ ngữ của tiếng Việt! Và cũng may, nhờ bác Lê Công Cầu giải thích nên toàn dân mới hiểu, bởi vì nó mang ý nghĩa triết học “cao siêu”, người bình thường không tài nào “quán triệt” được!

Nhận xét hai:

– Ông Cầu nói “bất tuân dân sự” là hành vi hợp pháp và được luật pháp bảo hộ nhưng ông không nói rõ là luật pháp nước nào? Nếu nói về luật rừng của bọn việt gian cộng sản thì chưa chắc gì bọn chúng “bảo hộ” đâu. Còn đối với luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới thì hành vi tự thiêu là phạm pháp, bị nghiêm cấm! Thậm chí có những bệnh nhân bị bệnh nan y, đau đớn kéo dài, họ yêu cầu bệnh viện chấm dứt sự sống của họ mà các bác sĩ cũng không dám!

– Cũng theo sự giải thích của ông Cầu, phải chăng ông muốn ám chỉ rằng “bất tuân dân sự” sẽ bao gồm bí kíp võ công tuyệt chiêu là TỰ THIÊU? Hồi năm 1963, nhóm Phật Giáo Ấn Quang đã dùng ngón võ này để giật sập chế độ của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa. Xin nhắc với ông là miền Nam lúc bấy giờ đang có tự do báo chí. Còn trong chế độ cộng sản, toàn bộ truyền thông đang bị bóp nghẹt thì ngón võ “tự thiêu” sẽ vô hiệu. Năm 1976, đã có 12 tăng ni ở Cần Thơ tự thiêu nhưng cả nước rất ít người biết và cho đến bây giờ, 34 năm sau, cũng không mấy người biết tới!

Nhận xét ba:

– Ông Cầu viết: “Biểu tình là sức mạnh vô địch trong đấu tranh ôn hòa. Không biểu tình ngoài đường được thì biểu tình tại nhà”!

Trong các bài viết trước, tôi đã nêu lên sự vô lý của bốn chữ:”biểu tình tại gia”. (Một loại xảo ngôn, bịp bợm không khác gì bốn chữ “học tập cải tạo”) Một vài tác giả khác cũng đã viết bài bày tỏ cùng quan điểm. Ở đây tôi miễn nhắc lại để khỏi mất thì giờ. Việc đúng sai hãy để cho công luận phán xét.

Tính đến nay, ngày 30/5/2009, đã một tháng sau khi thầy Quảng Ðộ phát động phong trào “bất tuân dân sự, biểu tình tại gia” thì ông Cầu có thể cho biết là trên toàn quốc có bao nhiêu phần trăm dân chúng hưởng ứng? Chỉ cần ước lượng phần trăm thôi, ông có thể làm được không? 90%, 50%, 20%, 10%, 5%, 1% hoặc zero phần trăm?

Còn nếu như ông nói là bây giờ chưa có ai hưởng ứng nhưng mai mốt sẽ có người hưởng ứng thì đó chỉ là cách nói … huề vốn! Người dân người ta muốn thấy kết quả trực tiếp, cụ thể, họ mới tin. Ðấu tranh chính trị mà nói những điều mơ hồ ở trên trời thì đó chỉ là lừa bịp. Ví dụ, nếu có ai nói rằng các giáo dân thuộc các giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, Thái Bình đi biểu tình, số lượng người thay phiên nhau tham gia trong nhiều ngày khoảng 100 ngàn người thì đó là sự ước lượng có thể tin được, vì ai cũng có thể nhìn thấy tận mắt, nghe tận tai. Còn “biểu tình tại gia” nó bí hiểm như những hoạt động của những … âm binh, đây chính là “đỉnh cao trí tuệ” của thầy Quảng Ðộ!

ÔNG CẦU ÐÃ CẮT XÉN VÀ TRÍCH DẪN SAI LẠC ÐOẠN VĂN DO TÔI VIẾT:

Trong bài viết “Một vài nhận định về Lời Kêu Gọi “bất tuân dân sự” của hòa thượng Quảng Ðộ, đăng trên Hồn Việt UK và TinParis, tôi đã viết như sau:

Trích nguyên văn:

· NHẬN ÐỊNH VỀ BA YÊU SÁCH CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG ÐỘ*:
(xin coi phần phụ đề đính kèm)
Yêu sách một: Rất ngu và rất thối.
Nếu bọn việt gian cộng sản là một chính quyền thực sự vì dân vì nước thì bọn chúng thừa biết chúng phải làm gì để bảo vệ giang sơn đất nước. Không việc gì chúng ta phải đi làm thầy dùi, khuyên bọn chúng phải làm thế này, thế nọ để bảo vệ lãnh hải. Bọn chúng sẽ chửi chúng ta rằng “chúng mày là những thằng ngụy bị thua trận, bị mất nước, không việc gì phải lên mặt dạy khôn chúng ông!” Lúc đó đưa cái mặt nhục ra mà nghe!

Hết trích.
Nhưng ông Cầu khi trích dẫn, đã tự động cắt xén, ngắt ngang một câu văn chính giữa, khiến cho độc giả hiểu lầm tôi. Ông đã trích dẫn như sau:
Nguyên văn câu viết của ông Cầu: “Trần Thanh nói tiếp:”Chúng mày là những thằng ngụy bị thua trận, mất nước, không việc gì phải dạy khôn chúng ông”
Thưa ông Cầu, đây là việc làm rất thiếu lương thiện và đầy ác ý. Khi làm công việc trích dẫn, chúng ta phải trích đầy đủ đoạn văn để bảo đảm nội dung đoạn văn không bị xuyên tạc và ý của tác giả không bị hiểu lầm. Nói rõ hơn, chúng ta phải trích dẫn đầy đủ cả bức tranh tổng thể. Ví dụ, một họa sĩ vẽ một con voi thì chúng ta khi trích dẫn, phải đưa nguyên hình ảnh con voi. Nếu chỉ ngắt một cái vòi hay cái đuôi ra rồi nói rằng “đây là hình vẽ con voi của họa sĩ X” thì đó là việc làm lưu manh, bất lương!
Ông tha hồ chụp mũ tôi là cộng sản, hà tất phải dùng đến thủ đoạn hạ cấp đến như thế! Chỉ nội một việc trích dẫn đầy ác ý này cũng đủ làm cho toàn bộ Giác Thư của ông trở nên vô giá trị. Công luận sẽ không tin ông đâu! Bằng chứng còn sờ sờ ra đó!

NHỮNG CON QUỶ SA TĂNG KHOÁC ÁO CÀ SA:
Thưa ông Cầu, trước đây có người đã nói với tôi rằng, sở dĩ miền Nam bị rơi vào tay cộng sản là do Giáo Hội Phật Giáo gây ra. Nhận xét này có phần quá đáng nhưng nếu suy nghĩ cho kỹ cũng không phải là hoàn toàn vô lý. Bởi lẽ: đa số bọn ma tăng, nhất là cái đám côn đồ xuất xứ từ vùng Quảng Trị, Quảng Bình đều là cán bộ cộng sản! Bọn này đã rủ nhau vào đóng đô tại Huế và Ðà Nẵng và đã gây ra vụ biến loạn miền Trung, làm miền Nam suýt bị rơi vào tay giặc trong những năm 1964-1966. Sau đây, tôi xin giới thiệu sơ lược một vài tên đồ tể để ông thấy rõ chân tướng và từ đó ông nên dùng kiếng chiếu yêu để rọi, xem lại cho kỹ chân dung của ngài hòa thượng Thích Quảng Ðộ, người đang âm mưu đem dâng toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại cho cộng sản!

* Ðại lão hòa thượng Thích Ðôn Hậu:

Vừa rồi ngày 27/5/2009, Phòng thông tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris do ông Võ Văn Ái làm giám đốc đã phổ biến hai văn kiện liên quan đến vấn đề pháp lý của GHPGVNTN. Trong văn kiện có đính kèm hai lá thư viết năm 1981, 1982, ký tên Tỳ kheo Thích Ðôn Hậu. Ðây là con quỷ sa tăng khoác áo cà sa, giết người như ngóe, nếu gặp thời cơ, hắn có thể trở thành một nhân vật như Polpot! Tên của hắn là “đôn hậu” mà lòng dạ chẳng có đôn hậu tí nào, trái lại tàn ác còn hơn quỷ dữ!
Thích Ðôn Hậu, 1905-1992, quê ở Quảng Trị, năm 1945 đã làm chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu quốc Trung Bộ. Năm 1968, hắn đã ra lệnh cho đám đệ tử là Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ðắc Xuân, Phan Xuân Huy, lập “tòa án nhân dân” tại Huế, giết hàng trăm người rồi chôn ngay trong sân chùa Tường Vân và Quang Tự. Sau khi quân đội VNCH tái chiếm thành phố Huế, Hậu đã bỏ chạy vào chiến khu, rồi ra bắc, được tên Hồ tặc thưởng nhiều Huân chương, Huy chương, cho đi công du các nước Ðông Âu và Liên Xô.

*Hòa thượng Thích Trí Dũng:

Tên này là cộng sản nằm vùng, đã cạy mộ của ông Ngô Ðình Cẩn (bào đệ của tổng thống Ngô Ðình Diệm), cất giấu vũ khí để chờ đến tết Mậu Thân nổi dậy cướp chính quyền. Hắn đã xây dựng chùa Phổ Quang gần sân bay Tân Sơn Nhất, cất giấu vũ khí và làm hầm bí mật cho việt cộng trốn trong đó. Trong đợt tổng công kích tết Mậu Thân, chính chùa Phổ Quang là nơi xuất phát những toán đặc công việt cộng tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất.

*Hòa thượng Thích Minh Chiếu:

Tên này là cộng sản nằm vùng, đã từng giữ chức thiếu tá tuyên úy trong quân lực VNCH, kiêm chánh đại diện Giáo hội Phật giáo tại Ðà Nẵng. Năm 1964, hắn đã nhúng tay vào vụ thảm sát, đốt nguyên làng Thanh Bồ Ðức Lợi tại Ðà Nẵng. Ða số dân làng này là người bắc di cư 1954, theo đạo Công giáo. Lấy cớ tiêu diệt đảng viên đảng Cần Lao, lực lượng Phật giáo Cứu Quốc đã đánh chết hai thiếu niên Phòng Vệ Dân Sự và một hạ sĩ quan không quân, dùng giây kẽm gai đem treo cổ họ trước làng, sau đó phóng hỏa đốt luôn toàn làng! Năm 1966, tên này cũng tham gia vào vụ xách động phật tử đem bàn thờ Phật xuống đường để chống chính quyền, gây đổ máu và tê liệt cả thành phố Ðà Nẵng hơn một tháng trời!
Hiện nay tên này đang làm trụ trì chùa Phật Giáo Việt Nam, thành phố Seattle,tại Mỹ.
Những loại quỷ sa tăng khoác áo cà sa rất nhiều và đa số hiện đang nắm giữ những chức vụ, địa vị quan trọng trong các tổ chức của Phật giáo. Trước năm 1975, bọn này cùng với tên Thích Trí Quang đã kết hợp với Dương Văn Minh, đem dâng trọn miền Nam cho cộng sản.
Thưa ông Lê Công Cầu, nêu trên là một vài vị sư tiêu biểu “khả kính” để ông suy gẫm. Bài học Dương Văn Minh và Thích Trí Quang bán nước còn đó. Chúng tôi nhất quyết chống lại âm mưu bán nước của ông Quảng Ðộ tới cùng.

HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ÐỘ ÂM MƯU BÁN ÐỨNG CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI HẢI NGOẠI CHO CỘNG SẢN!
Ðây là một thực tế phũ phàng và chúng ta phải dám nhìn thẳng vào sự thật! Bản văn Lời Kêu Gọi vừa rồi là một bằng chứng rất rõ ràng. Ðây là việc làm có tính toán của ông Quảng Ðộ và đã được chuẩn bị từ lâu rồi. Sau khi cùng với đám tay sai cộng sản điều nghiên thật kỹ tình hình tại hải ngoại và nắm chắc là “mẻ lưới” bô-xít mà ông sắp tung ra sẽ hốt gọn toàn bộ những con mồi lớn tại hải ngoại, nên ông Ðộ rất yên chí lớn. Công lớn này mà dâng lên đảng thì đâu có thua gì “công lao” của ngài đồ tể Thích Ðôn Hậu hoặc Dương Văn Minh!

Nhưng ông Quảng Ðộ không ngờ đã bị vấp phải một sự chống đối rất mạnh tại hải ngoại. Không những bị chống đối mà ông còn bị tố cáo là đã từng cúi đầu viết tờ “giấy thú tội” với công an thành Hồ vào ngày 9 tháng 2 năm 1995. Chúng ta cần nhớ: -Ông Quảng Ðộ đã có trên 45 năm kinh nghiệm hoạt động chính trị, đã từng sống qua hai ba triều đại chính trị, cũng như đã từng nếm mùi tù tội của cộng sản. Như vậy, những trò lừa bịp của cộng sản, ông đều đã rất rành sáu câu. Do đó, không thể nói rằng ông không biết những âm mưu của cộng sản qua cái bẫy rập Lời Kêu Gọi chống hiểm họa bô xít! Ông biết rất rõ nhưng ông vẫn kêu gọi chúng ta đi vào cõi chết!
Yêu sách số 1 và số 2 chỉ là mục tiêu giả, Yêu sách số 3 mới là cái mà bọn việt gian cộng sản và ông Quảng Ðộ rất thèm muốn. Ðó là toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại phải về Việt Nam quỳ mọp dưới chân bác và đảng để đầu hàng, để được gặm xương! Ngày nào mà bọn việt gian cộng sản chưa thôn tính được cộng đồng hải ngoại là ngày đó bọn chúng còn ăn không ngon, ngủ không yên. Và một khi hải ngoại đã bị thôn tính thì lực lượng đấu tranh quốc nội sẽ trở nên như rắn mất đầu, sẽ đi đến chỗ tan rã!
Những cái mà ông Cầu nêu ra, có vẻ như để “tranh luận”, chẳng hạn như Hội Nghị Diên Hồng, tư cách pháp nhân của bọn giặc, Liên Hiệp Quốc công nhận bọn giặc, tất cả chỉ là trò hề và trò bịp, may ra chỉ lường gạt được trẻ em! Mai mốt khi chế độ cộng sản bị lật đổ thì không biết ông Cầu có còn được ngồi đó để ca ngợi cái tư cách “pháp nhân” của bọn giặc hay không? Thưa ông Cầu, ông chỉ là một diễn viên rất vụng về, thấp kém trong MÀN KỊCH BỊP BỢM “BÔ-XÍT”. (hay bull-shit!)
Thưa ông, hôm nay, qua Thư Ngỏ này, tôi phản bác tất cả những điều cáo buộc mà ông đã áp đặt lên tôi. Và đồng thời tôi kêu gọi những kẻ trong nhóm Phật Giáo Ấn Quang, trước đây đã từng gây ra những tội ác ngập trời, gây ra thảm họa mất nước, hãy ăn năn sám hối về những tội ác của mình.

Thưa ông Cầu, Thư Ngỏ của tôi đến đây là chấm dứt. Sau đây là lời KẾT LUẬN của tôi gởi đến ông:
Ông đã làm công việc trích dẫn một cách thiếu lương thiện và đầy ác ý đối với đoạn văn tôi đã viết. (Tôi đã chứng minh ở phần trên) Do việc làm này, tờ Giác Thư của ông hoàn toàn vô giá trị. Con người của ông không đáng tin tưởng và ông Thích Quảng Ðộ cũng không đáng tin! Người học trò mà thiếu lương thiện như vậy thì ông thầy của y chắc hẳn phải được nhân lên hàng triệu lần về sự thiếu lương thiện!
Ông đã cáo buộc tôi NĂM TỘI nhưng tôi xin gởi trả lại ông vì đó chỉ là vu cáo. Hy vọng rằng Thư Ngỏ này của tôi có thể soi sáng tâm tư của ông được một phần nào đó.
Trân trọng kính chào,

Trần Thanh (phó thường dân tại hải ngoại)
Ngày 31 tháng 5 năm 2009

Tái bút:

1. Theo dư luận bàn tán thì năm 1964 tại Ðà Nẵng, có nhân vật tên là Lê Công Cơ, cán bộ cộng sản nằm vùng, đã sách động phong trào Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Giải Phóng, phối hợp với Lực Lượng Phật Giáo Cứu Quốc, tấn công và đốt làng Thanh Bồ Ðức Lợi của người Công Giáo di cư 1954.
Không biết ông Lê Công Cầu có phải là bà con họ hàng gì với tên đồ tể Lê Công Cơ hay không?

2. Tôi biết ông Cầu đang sống trong nước, tại Huế. Xin giới thiệu với ông, nên tìm đọc hai tờ điện báo Hồn Việt UK và TinParis. Ông sẽ tìm thấy những tài liệu rất hữu ích viết về những con quỷ sa tăng đang khoác áo cà sa và những tội ác cùng những âm mưu xảo quyệt của bọn việt gian cộng sản, do những nhà báo uy tín và trong số họ, có người đã từng là nhân chứng sống của lịch sử. Ðọc để “khai thị”, để đừng có mù quáng tôn thờ ma vương làm thánh sống!

*Báo Hồn Việt UK:

– Nhà báo Việt Thường
– Nam Nhân
– Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
– Chính Khí Việt (chuyên đọc audio)
– Tuấn Phan
– Liên Thành
– Triệu Lan
– Ðặng Phúc
– Trần Phương

*Báo TinParis:

– Hứa Vạng Thọ
– Trương Minh Hòa
– Thế Huy
– Nguyễn Văn Chức
– Phùng Ngọc Sa
– Trần Thanh

3. Nhờ ông Lê Công Cầu chuyển lời nhắn này của tôi đến Hòa Thượng Thích Trí Quang:
– Thưa ngài, xin ngài hãy mau mau ra cứu dân cứu nước. Hôm nay thầy Quảng Ðộ đã phát minh ra một tuyệt chiêu là “bất tuân dân sự” (tự thiêu, được nhà nước bảo hộ) Xin ngài hãy mau mau ra biểu diễn thế võ “bất tuân dân sự” cho toàn dân được nhờ! Hàng triệu vong linh đã chết vì … ngài đang nóng lòng chờ đợi! Trước đây ngài đã từng xúi dục nhiều người tự thiêu; hôm nay, để thể hiện sự công bằng, đã đến phiên thầy phải “bất tuân dân sự” rồi!!!
Sau khi ngài đã chứng quả đạo tặc, chúng tôi ở hải ngoại sẽ nhờ trung tâm băng nhạc Asia và đài truyền hình SBTN “vinh danh” ngài và nhóm Phật Giáo Ấn Quang!

4. Nhờ ông Lê Công Cầu chuyển lời nhắn này của tôi đến Thượng Tọa Thích Chân Quang:
– Thưa ngài, tôi biết ngài là cháu ruột của bác Hồ Chí Minh, là trụ trì một ngôi chùa lớn ở Bà Rịa, thường xuyên có những dĩa DVD thuyết pháp, có phụ diễn đóng phim, có PHỤ ÐỀ TIẾNG ANH, gởi ra hải ngoại để “giáo dục” thế hệ trẻ. Ngài thường xuyên đề cập đến thuyết “nhân quả” và lòng yêu nước thương dân. Do đó, tôi xin đề nghị ngài nên thực hiện một màn biểu diễn “bất tuân dân sự”, nổi lửa lên em, cho toàn dân được nhờ!
Sau khi ngài đã chứng quả đạo tặc, chúng tôi ở hải ngoại sẽ nhờ trung tâm băng nhạc Asia và đài truyền hình SBTN … “vinh danh” ngài và toàn bộ những tu sĩ Phật giáo QUỐC DOANH!

5. Ðây, lời thú tội của thầy Quảng Ðộ!

2009_05_31_ThuToiQuangDo199

http://tinparis.net/vn_index.html

June 1, 2009 Posted by | Thư Ngỏ gởi ông Lê Công Cầu - Vụ trưởng Gia đình Phật tử Vụ thuộc Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN | | Leave a comment