ditmecodosaovang

Freedom, Democracy, No Communism for Vietnam

Vot Nguoi Bien Dong

Phần 1:

http://www.youtube.com/watch?v=56fUHVWJLdI

Phần 2:

http://www.youtube.com/watch?v=7qAa82XGpso

Phần 3:

http://www.youtube.com/watch?v=Vr3agqTpx6Q

Phần 4:

http://www.youtube.com/watch?v=FdqAlqsfiN8


http://www.youtube.com/user/honnhien29

May 30, 2009 Posted by | Vot Nguoi Bien Dong | | Leave a comment

GHPG sư công an sư quốc doanh mở nhiều Chùa hải ngoại

GHPG sư công an, sư quốc doanh mở nhiều Chùa hải ngoại

Liên Thành – CKV ngày 27/05/2009

http://www.blogger.com/img/videoplayer.swf?videoUrl=http%3A%2F%2Fvp.video.google.com%2Fvideodownload%3Fversion%3D0%26secureurl%3DqAAAAEbqiT-pXmimn7VDny7-dKobOitfOePJh2TVW-hpQQ0VBV8EajhuSa8KYxthMZPVpvYtMxgfPxagts1ZSAulkfBaeBFJtzRnJar2F_5wJ1s3KrtLvABDUujK1MhZkj-ecZREsGzd3h54MzjrYVvqgynOXMrQXvFyYX2_3jZCKTiGFp2JjhGk9jc2hAEXNc3_gLRvkEO00TMA86lqR65091nznbZJmhEBBpAGOC8KJHtR%26sigh%3DW-X1_r4ti-QON971vl6E2TV93l8%26begin%3D0%26len%3D86400000%26docid%3D0&nogvlm=1&thumbnailUrl=http%3A%2F%2Fvideo.google.com%2FThumbnailServer2%3Fapp%3Dblogger%26contentid%3De16f86f5d5fdb4b1%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw320%26sigh%3DzAnjHo7dQ_0DVuZne9wtuNGtp1A&messagesUrl=video.google.com%2FFlashUiStrings.xlb%3Fframe%3Dflashstrings%26hl%3Den

p1

p2

p3

p4

p5

p6

p7

(Thích Trí Quang lãnh đạo biểu tình)

p8

p9

p10

p11

 

http://www.hon-viet.co.uk/LienThanh_GHPGSuCASuQuocDoanhMoNhieuChuaHaiNgoai.htm

May 30, 2009 Posted by | GHPG sư công an sư quốc doanh mở nhiều Chùa hải ngoại | | Leave a comment

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PGVNTN: MỘT ĐỒNG MỘT CỐT!

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PGVNTN: MỘT ĐỒNG MỘT CỐT!

• CÁO HỒ VÀ QUẢNG ĐỘ CÙNG ĐỂ RÂU DÀI VÀ BÉO ĐỎ HỎN. THẦY CHÙA VÀ ÁC CHÚA NÀO KHÁC GÌ NHAU!

• ĐẶNG VĂN NHÂM

Chẳng khác nào đảng CS Nga trong cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917, từ khi mới phát động cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lăng vào mùa Thu năm 1945, đảng CSVN đã nhân danh “cách mạng” giết hại không biết bao nhiêu lương dân vô tội, hàng vạn những nhà trí thức yêu nước không đồng chính kiến. Nhất là đại tội đã lừa gạt dân tộc đồng bào.Suốt 80 năm nay đảng đã cho cả nước ăn toàn bánh vẽ dân chủ, tự do và hạnh phúc!

Vốn là một vệ tinh (satellit) trung tín nhất của đảng CSVN từ những ngày đầu tiên của cuộc khởi nghĩa, giới thầy chùa, thầy cúng, ông đồng bà cốt, nay tụ tập trong cái gọi là giáo hội PGVNTN cũng đã từng tuân hành chỉ thị của đảng, lợi dụng danh nghĩa Phật, gây nên không biết bao nhiêu tội ác đẫm máu trong bóng tối lẫn công khai ngoài ánh sáng đối với đồng bào và các giới tín đồ Phật tử ngu muội, cuồng tín. Nhưng đại tội vô lường của các giới tăng ni núp bóng trong tổ chức Phật Giáo VIỆT NAM Thống Nhất, quan trọng nhất, trầm trọng nhất, đến mức không bao giờ lịch sử dân tộc có thể tha thứ được là: phản bội, lừa gạt đức tin của các giới Phật Giáo Đồ, đồng thời gây phá sản tín ngưỡng cho đạo Phật! Ảnh hưởng tai hại của nó về mặt tinh thần và tư tưởng sẽ còn kéo dài mãi đến nhiều đời sau, không dứt.

Tôi viết khẳng định như trên chẳng phải hàm hồ, ác ý gì với tổ chức PG. Ngược lại, trước tiên tôi là người mến mộ đạo Phật hơn đạo khác. Nhưng càng ngày trường đời và bọn giặc thầy chùa nhan nhản từ năm 1963 đến nay càng dạy thêm cho tôi những bài học thực tế để kịp mở mắt ra mà xa lánh bọn người hư đốn, cả đời chỉ ăn hại đái nát ấy.

XÉT VỀ CÁC TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CS

Tuy cùng theo đuổi một chủ nghĩa giáo điều Cộng Sản, nhưng tùy tình trạng dân trí mỗi nước – trong đó bao gồm luôn cả trình độ kiến thức của giới lãnh đạo – mà lề lối cai trị và cung cách đãi ngộ giới văn học khác nhau. Thí dụ như : Nga, Tàu,Việt Nam và Căm Bu Chia…

Bọn Khmer Đỏ sau khi đã vùi dập, tàn sát trên 3 triệu đồng bào ruột thịt vô tội, gây chấn động khủng khiếp lương tâm nhân loại, đến khoảng đầu năm 1999, một lãnh tụ CS là Khieu Sam Phan khi về thủ đô Nam Vang tiếp xúc với thủ tướng Hun Sen đã thốt lời đáng tiếc hững hờ: ”Je suis désolé…, très désolé!”.
Mỉa mai thay cho số kiếp trên 3 triệu con người. Nhưng thà vậy còn hơn không một ai nói lời nào cả như các nhà lãnh đạo đảng CSVN từ 1975 đến nay!

Còn Nga Sô, ngay sau khi Stalin qua đời, nhân kỳ đại hội đảng lần thứ XX, ngày 14.2.56, tại Moskva, đảng CS Sô Viết đã đề ra chiến dịch ”giải trừ Stalin”. Vài tuần sau đó, ngày 6.3.56, đảng CS Nga khởi sự phục hồi danh dự cho các cựu chiến sĩ cách mạng đã từng bị Stalin thanh trừng. Đến ngày 4.2.1988, đảng CS Nga phục hồi danh dự cho 10 nhân vật trí thức đã bị Stalin sát hại vào tháng 3.1938. Đến ngày 13.8.1990 nhà cầm quyền Nga Sô đã phục hồi danh dự cho tất cả các nạn nhân đã bị CS Sô Viết sát hại suốt trong hai thập niên từ 1920 đến 1930, dưới thời Stalin cai trị.

Nhưng đặc biệt đáng kể nhất là vụ phục hồi danh dự cho gia đình hoàng gia Nga, gồm Nicolai Đệ Nhị, hoàng hậu Alexandra Féodorovna, và thân tộc… Hôm ấy là ngày 17. 7. 1998, tức là 80 năm sau vụ thảm sát những nhân vật cuối cùng của hoàng gia, trong một cuộc thánh lễ trọng thể theo nghi thức tôn giáo cổ truyền, thi hài của Sa Hoàng Nicolai II và hoàng hậu Alexandra Féodorovna, đã được cung kính mai táng dưới hầm mộ của Thánh đường Saint Pierre và Paul ở Petersbourg, trong lăng tẩm của triều đại Romanov, kể từ thời Sa Hoàng Pierre Đại Đế ( Pierre le Grand). Các công chúa và hoàng tử cùng với những thân nhân khác đã bị tàn sát cùng một lúc dưới căn hầm trong ngôi nhà của Ipatiev ở Iekaterinbourg cũng đã được tẩn liệm kề bên, gồm: ba Công Chúa Tatiana, Olga và Anastasia, viên y sĩ riêng của hoàng gia Evgueni Botkine, người đầu bếp Ivan Kharitonov, bồi phòng Anna Denidova, và nhân viên tạp dịch Alois Trupp. Tuy nhiên còn thiếu thi hài của hai nhân vật hoàng gia nữa là: Hoàng Tử Alexis và Công Chúa Maria, vì thi hài của họ đã không tìm thấy trong cuộc khai quật chính thức năm 1979.

Cuộc cải táng long trọng này là một cuộc lễ đánh dấu cho sự ” chuộc tội”( Pokoyaniyé) và ” hòa giải”( Soglassiyé). Hai danh từ ấy xuất xứ do nguồn gốc thần học” Chính Thống giáo ” của Nga (Orthodoxe). Riêng đối với dân tộc Nga, và các giới trí thức, văn học Nga, người ta còn coi buổi lễ phục hồi danh dự cho gia đình hoàng gia trong ”vụ án thảm sát Iekaterinbourg” như là một hành động phục hồi danh dự cho tất cả những nạn nhân vô danh đã bị giết hại dưới hai chế độ ” Leninisme” và ” Stalinisme”, để tiến tới mục tiêu hòa hợp, hòa giải có tính cách kế tục của dân tộc Nga.

Nay, trước tấm gương ” PHỤC HỒI DANH DỰ ” cho gia đình hoàng gia Nga, cùng với các nhà văn, nhà thơ, khoa học gia Nga… của các nhà cầm quyền Sô Viết như kể trên, chúng ta nhận ra đảng CS Nga và đảng CSVN vốn khác nhau như trắng với đen. Đảng CS Nga, sư tổ của CSVN, biết nhận lỗi và sửa sai lỗi lầm của mình trong quá khứ. Ngược lại, đảng CSVN đã không nhận thấy (hay không thấy, không chấp nhận?) những sai lầm đẫm máu cực kỳ kinh tởm của họ trong quá khứ và ngay cả hiện tại.Những sai lầm ghê gớm ấy hãy còn nằm sờ sờ trong ký ức mọi người dân miền Nam hiện đang sống sót trong nước và hải ngoại. Cũng có thể, đảng CSVN đã chà đạp và khinh thường đồng bào dân tộc cả nước VN, chớ không biết khôn ngoan như đảng CS Nga Sô Viết!

Nên nhớ cho kỹ, trong 30 năm khói lửa, khởi từ cuộc ”kháng chiến mùa thu năm 45 ” đến cuộc ” đại thắng mùa xuân năm 75”, người CSVN đã ba lần đắc tội với đồng bào dân tộc dưới hai chiêu bài: ” VIỆT GIAN” và ”MỸ NGỤY”.

– Lần thứ nhất, năm 1945, sử dụng chiêu bài” VIỆT GIAN”, CSVM đã chém giết bừa bãi rất nhiều thường dân vô tội. Lịch sử còn ghi: Nhiều người đã bị CSVM chặt đầu, mổ bụng chỉ vì trong nhà có vài quyển sách giáo khoa bằng tiếng Pháp, hay quần áo có màu mè sặc sỡ, xanh, đỏ , trắng , vàng v.v…Mặt khác, CSVM cũng chụp cái mũ” VIỆT GIAN” lên đầu cả những kẻ có tư thù, hay những người không cùng một đường lối yêu nước như VM…

– Lần thứ nhì, năm 1954, sau hiệp định đình chiến Genève, đảng CSVN đã dùng lời đường mật gian trá, kêu gọi hàng trăm ngàn viên chức nhà nước và quân đội QG đang phục vụ ở miền Bắc vĩ tuyến cùng với gia đình , thân nhân ở lại miền Bắc. CS hứa hẹn họ sẽ được đãi ngộ không phân biệt. Người nào chức vụ gì sẽ được tiếp tục làm việc nấy…
Nhưng chỉ khoảng vài tháng sau, bất ngờ đảng CS phát động chiến dịch tập trung hết số người ấy rồi đưa lên các vùng rừng thiêng nước độc miền thượng du Bắc Việt với đôi bàn tay trắng, để nhờ thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt và bịnh hoạn tiêu diệt dùm!

– Lần thứ ba, năm 1975, sau ” đại thắng mùa xuân”, CSBV đã hồ hỡi, phấn khởi quá mức trước sự phồn thịnh, sung túc của đồng bào miền Nam nên đả sử dụng chiêu bài ” DIỆT NGỤY” để thực hiện tất cả những hành động đặc trưng thổ phỉ dã man nhất của hình thái” chiến tranh xâm lăng”, gồm: Bắt giam kẻ chiến bại làm tù binh, trấn lột tài vật, cướp đoạt nhà cửa, ruộng đất trên phần đất bị xâm lăng, coi như ”chiến lợi phẩm”!

Muốn nhanh chóng cướp đoạt đồng loạt hết sạch tài sản của tòan thể quần chúng chiến bại miền Nam, người CSBV đã tung ra chiến dịch” đánh phá tư sản, mại bản”, dùng võ lực cưỡng bách họ đi” vùng kinh tế mới” với hai bàn tay trắng, để cho họ phải chết dần mòn nơi rừng thiêng nước độc, vì bịnh tật,thú dữ v.v…

Điều này, đúng 19 ngày trước khi cờ của quân ”giải phóng miền Nam” và cờ của quân CSBV kéo lên giữa thủ đô Sài Gòn, chính đại văn hào Nga, giải Nobel văn chương, Alexandr Soljenitsyn, đã tiên đoán không sai:”Tout le Vietnam sera transformé en un camp de concentration!”. ( ngày 11.4.75).

Xét lịch sử ”chiến tranh giải phóng dân tộc”, từ cổ chí kim, từ Âu sang Á, chưa bao giờ đã xảy ra một cuộc ” giải phóng” nào mà hình ảnh chiến thắng lại cực kỳ tương phản, đẩm máu,và đẫm nước mắt đắng cay của người dân lương thiện được … ”giải phóng” như CSBV đã thực hiện năm 1975.

Trong cuộc” ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN ”năm ấy, quân ”giải phóng” từ miền Bắc kéo vào miền Nam đã lũ lượt, hớn hở cùng nhau chuyển kìn kìn đủ các loại” CHIẾN LỢI PHẨM” từ cái bát, đôi đũa đến chiếc xe đạp, xe gắn máy, cái máy may, chiếc đồng hồ, cái radio, tủ lạnh v.v… là những thứ mà quân ”giải phóng miền Bắc” không có, hoặc chưa từng thấy bao giờ , về miền Bắc. Trong khi đó, ngược lại, dân chúng vô tội miền Nam, những kẻ được ” giải phóng” lại phải gạt nước mắt, âm thầm lén lút, trút bỏ tài sản, ruộng, vườn, quê cha đất tổ…cho ” quân giải phóng”tha hồ cướp đoạt, để bồng bế, dắt díu nhau lao đầu ra biển cả, thà làm mồi cho cá và hải tặc , gây nên một làn sóng chấn động khủng khiếp trong lương tâm nhân loại…

Những hành động kể trên đã khắc sâu thêm mối hận thù chia rẽ Bắc/ Nam không bao giờ phai nhạt. Nay, 25 năm đã qua, không còn mấy ai nhắc đến mối hờn ”giải phóng dân tộc” đó nữa. Như thế, chẳng phải mọi sự không hay kể trên đã theo thời gian đi vào quên lãng, mà thực ra nó đã đóng khối và chìm sâu trong tâm thức của con người đến truyền tử lưu tôn, đồng thời khắc ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc đến vạn đời sau, không ai xóa được.

XÉT VỀ ĐẠI TỘI CỦA PHẬT GIÁO VÀ BỌN ÁC TĂNG TAY SAI CS.

Thiết tưởng, bây giờ, nơi đây tôi chẳng cần mất thì giờ biện giải lòng vòng, vì ai là người có chút hiểu biết sơ đẳng về giáo lý chân truyền của Phật Giáo ( PG) đều thừa biết từ nguồn gốc giáo lý do Phật Thích Ca chủ trương đã mang tính vô thần. Tuy tính cách vô thần của PG có khác phần nào với chủ thuyết vô thần của Karl Marx, mà đảng CSVIỆT NAM đã tôn thờ, gieo trồng và thực hiện trên đất nước ta từ năm 1930 đến nay. Vì cùng một bản chất như thế, nên khi gặp môi trường giao thoa thích hợp CS và PG rất dễ dàng kết hợp với nhau. Đó là sư hiển nhiên, đúng cả về mặt khoa học vật lý lẫn tâm cảm.

Riêng về mặt sinh tồn của PG, ngay từ thời Thích Ca còn tại thế, vì chủ trương của PG là tị thế, chiết ái, ly gia, nên từ ông Phật đến các đại đệ tử cùng với cả tăng đoàn đã phải tìm mọi cách sống bám vào các giới vua chúa quyền lực, giàu có. Suốt trên 2500 năm qua, lối sống ký sinh ấy đã biến thành truyền thống. Thế rồi, vì đời sống ngày càng thêm khó khăn, sinh nhai cạnh tranh thêm gay gắt, nên truyền thống ký sinh ăn bám của giới tăng ni VN ngày càng thêm tệ hại, tạo nên nhiều điều ô nhục không sao kể siết.

Muốn biết thời phong kiến, bọn tăng ni sống tồi bại như thế nào, hãy đọc quyển Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh. Đến thời Pháp thuộc, bọn này dễ dàng làm tay sai cho thực dân (đặc biệt thời toàn nquyền Decoux). Một mặt họ ngầm làm điềm chỉ viên (indicateur) cho bọn chó săn Tây. Mặt khác họ thực hiện kế hoạch của thực dân là ru ngủ quần chúng bằng những trò mê tín, dị đoạn: cúng quảy, tế lễ, bói toán, phong thuỷ, gọi hồn v.v…

Đến khi cuộc kháng chiến mùa Thu bùng nổ trên toàn quốc (1945), bọn người này giống hệt bọn thầy chùa, thầy cúng ở Trung Hoa thời Mao Trạch Đông, đương nhiên trở thành một lực lượng yểm trợ vô cùng đắc lực về các mặt cho CS. Họ đảm nhiệm các công tác: tuyên truyền rỉ tai, cung cấp nhân sự, thông tin điệp báo, tổ chức hậu cần, tiếp liệu thực phẩm, thuốc men, giao liên, tàng trữ võ khí, chứa chấp đặc công, gây rối loạn chính trị và nội an thường xuyên…ngay trong lòng địch. Khi gặp thời cơ nổi dậy, các chùa chiền, am miễu đều nhất loạt biến thành các“ mũi nhọn xung kích”.

Nên biết: giáo hội PGVNTN, gia đình Phật Tử, trong chế độ CSVN chẳng khác nào Mặt Trận Tổ Quốc, hội Nhà Văn, hội Phụ Nữ , hội Trí Thức Yêu Nước v.v…Tất cả đều chỉ là những tổ chức quần chúng, xây dựng quần chúng, tập họp quần chúng để cho đảng chỉ huy và sai khiến. Muốn cho dễ hiểu hơn, tôi mạn phép ví các tổ chức ngoại vi kể trên, trong số đứng đầu là giáo hội PGVNTN chẳng khác nào những con chó săn chuyên bầy lùa trừu đông đảo vào chuồng cho bọn chăn trừu ở xứ Tô Cách Lan xử trí, hớt lông, làm thịt v.v…

Những đại công trạng ấy, các tôn giáo khác như : Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo v.v…làm sao có được?! Nếu không nói là đã bị đảng CSVN liệt vào hạng:” đại phản động”, có nợ máu với nhân dân, cần phải tiêu diệt!

Cậy vào đại công ấy, tổ chức PGVNTN, hiện nay do Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo đã không ngớt công khai đòi CSVN phải trả công hậu hĩ. Sự trả công không được vừa ý , PGVNTN lại giờ trò đấu tranh và xách động quần chúng PG đồ!
Đó là về mặt hoạt động chính trị và thủ đoạn đấu tranh đòi quyền lực, địa vị và bổng lộc của GHPGVNTN đối với đảng CSVN.

Bây giờ, ta thử kiểm điểm đến những sai lầm và tội lỗi tự bản thể của GHPGVNTN tại miền Nam trong suốt quãng thời gian dài từ 1954 đến nay 2008 cả ở trong và ngoài nước. Quan trọng nhất là đại tội gây rối loạn, vu khống chế độ đệ nhất CH miền Nam đàn áp PG, lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, thao túng nền đệ nhị CH do Thiệu- Kỳ cầm quyền, đem bàn thờ xuống đường, tàn sát đồng bào TCG di cư trong vùng Thanh Bồ – Đức Lợi, tiếp tay quân CSBV trong vụ tấn công Tết Mậu Thân, bắt giam các giới quân cán chính VNCH vào trong chùa, để tra tấn, và giết đồng bào vô tội, kể cả đàn bà , trẻ em ở các tỉnh miền Trung trong những ngày cuối cùng tháng 4.75.

Sau năm 1975, trốn ra hải ngoại, giới thầy chùa tội lỗi lại còn thừa thắng xông lên, tạo thêm ra các đại tội: dâm loạn, lường gạt đức tin của tín đồ ngu dại, thất học, trấn lột tiền bạc của đàn na thí chủ, tranh cướp tài sản lẫn nhau…Những đại tội này nhiều đến nỗi không sao kể siết. Thậm chí bọn thầy chùa tự mệnh danh đại lão hoà thượng, chức sắc cao cấp trong tổ chức PGVNTN cũng không tránh khỏi. Đáng kể gồm: Thích Hộ Giác, Thích Chánh Lạc, Thích Mãn Giác, Thích Nhất Hạnh, Thích Nguyên Siêu, Thích Trí Minh, Thích Phước Huệ, Thích Huyền Vi v.v…và v.v….!

Những tội ác dã man, đáng ghê tởm ấy chứng minh hùng hồn thực chất PGVNTN chỉ là một tổ chức băng đảng tội ác, tu hành giả mạo, mượn danh Phật, núp trong cửa chùa và đội lốt cà sa để thực hiện mục tiêu đen tối của một lũ người bất lương, ung nhọt của xã hội thời loạn lạc. Tại sao bây giờ tôi dám to gan kết luận khẳng định chắc nịch: giáo hội PGVNTN chỉ là một băng đảng tội ác, vô luân, vô lương tâm, vô kỷ cương nhất trong lịch sử băng đảng tội ác đáng ghê tởm nhât thế giới?
Tôi, Đặng Văn Nhâm này, đã điên loạn chưa? – Xin thưa, chưa! Tôi còn sáng suốt và minh mẫn lắm!!!
Xin mời bạn đọc và hải nội chư quân tử, thức giả bốn phương hãy phán xét những điều tôi minh chứng sau đây. Đúng hay sai, xin quí vị cứ lấy công tâm phê phán. Tôi sẽ rất vui được đón nhận bất cứ lời phê phán minh lý của quí vị, dù nặng nề , đau đớn đến cỡ nào!

Như mọi người đều biết, như trên tôi đã kể sơ lược, từ năm 1954 đến nay 2008, bọn giặc thầy chùa trong tổ chức PGVNTN đã gây ra vô vàn tội ác đau thương cho đồng bào và đất nước. Nhưng, trên nửa thế kỷ nay, có ai được nghe một anh thầy chùa nào tự “XÁM HỐI” tội lỗi chung cho cả tập thể, hay của riêng cá nhân hắn không?
Riêng Huyền Quang , Qủang Độ, Hộ Giác, Chánh Lạc …và đám thầy chùa chức sắc cao cấp lâu nhâu trong các viện Tăng Thống và H oá Đạo của băng đảng vô luân PGVNTN có một kẻ nào đủ can đảm, hoặc còn sót chút liêm sỉ tối thiểu trong đầu dám công khai đứng ra nhìn nhận đại khái một vài tội lỗi trước quần chúng Phật Tử hay không?
Hiển nhiên tuyệt đối không! Đúng vậy không?!

Hơn thế giới thầy chùa còn luôn luôn tỏ ra ù lì cách trơ trẽn, cứ bịt mồm, bịt tai, bịt mắt, như bầy thú vô tri giác trước các tội lỗi dâm loạn ghê tởm đành rành, đã phơi bày trần truồng trước công luận khắp thế giới của các đồng bọn như Chánh Lạc, Hộ Giác, Nguyên Siêu, Trí Minh, Phước Huệ, Trí Hải v.v…Mặt khác Võ Văn Ái và đám PT tay sai mù quáng còn cố tình đánh bóng, mạ kền xú danh cho bọn ma tăng ấy, rồi thi nhau nâng đỡ, bao che cho đồng bọn tội lỗi ấy lên hàng chức sắc cao cấp trong tổ chức!

Chứng kiến những trò tu hành bịp bợm, những hành vi gian ác , hạ cấp đến mức đáng phỉ nhổ như thế của giới thầy chùa VN, tôi không khỏi mắc cở khi thấy đức giáo hoàng Jean Paul II (đệ Nhị) đã dám công khai phá bỏ bức tường kiên cố của quá khứ lịch sử Thiên Chúa Giáo La Mã thời Trung Cổ xa xưa mà xin lỗi các sắc dân châu Mỹ La Tinh đã từng là nạn nhân của một chính sách sai lầm. Ngài cũng đã tỏ ra đau buồn và hối hận về những hành động xử tội oan ức đối với các thiên tài khoa học của nhân loại như: Galillé và Bruno…do các toà án giáo hình (requisition) thời Trung Cổ (TK XVI) chủ trương.

Mới đây nhất, tin tức báo chí thế giới (từ khoảng ngày 15 đến 21. 4. 08) còn loan tin nóng hổi về cuộc vi hành của đương kim giáo hoàng Bénedict XVI đã đến Hoa Kỳ để cầu nguyện chung với các giới tín đồ và uỷ lạo, tạ lỗi với các nạn nhân tình dục của một số tu sĩ TCG La Mã đã không đủ nghị lực và kém đức tin. Mặc dù các nạn nhân lạm dụng tình dục ấy ( sexo abuse) đã được toà thánh đền bồi vật chất xứng đáng!
Hành động như thế của giáo hoàng Bénédict XVI đã cho ta thấy rõ sự khác biệt giữa những nhà tu hành chân chính, đáng kính phục, của một tôn giáo lớn có qui củ nghiêm minh, tổ chức chặt chẽ nhất hoàn cầu, với bọn bất lương, dốt nát, núp trong tổ chức GHPGVNTN, làm tay sai cho CS , để mưu cầu danh vọng thấp hèn và tài lợi lặt vặt cho cá nhân.

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VN THỐNG NHẤT GIỐNG NHAU NHƯ ĐÚC!

Tóm lại, qua sự nhận xét , qua các luận chứng đã trình bày trên, chắc hẳn mọi người đều kịp nhận ra giáo hội PGVNTN hoàn toàn giống hệt với đảng CSVN!
Nếu đảng CSVN đã dám công khai tuyên bố : đảng không bao giờ sai lầm. Nếu có sai lầm đẫm máu dân vô tội, như vụ cải cách ruộng đất 53-54 tại miền Bắc, thì đảng chỉ đưa con dê tế thần ra nhận lỗi rồi sửa sai qua loa thôi. Chớ đảng vẫn không xin lỗi và không bồi thường cho ai hết!

Giáo hội PGVNTN cũng thế. Phật đã tuyên bố :” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn!”. Vậy cho nên ngày nay đám giặc thầy chùa có can tội giết người, trấn lột tiền bạc, lường gạt tài sản của bá tánh, hiếp dâm nữ đệ tử con nít…thì vẫn là…thầy chùa trơ trơ, chẳng cần xám hối, chẳng phải xin lỗi đứa nào hết, dù là chính nạn nhân!
Kết luận, bây giờ , trước nghịch cảnh này, vấn đề đã trở nên không lối thoát. Cuộc đối thoại giữa quần chúng dân tộc với đảng CSVN ngoan cố, cũng như đối với băng đảng tội ác, PGVNTN, ù lì, đã hoàn toàn bế tắc. Vậy, thiết tưởng chúng ta chỉ còn mong đợi nơi trí khôn, óc sáng suốt, và lòng căm phẫn với đức tính can đảm truyền thống của dân tộc mà đồng tâm, nhất chí đứng lên hành động khai thông mối quốc nạn này cho đại khối dân tộc mả thôi!

ĐẶNG VĂN NHÂM

GHI CHÚ:
cái chết tức tưởi, mờ ám của hai cha con nhà đại văn hào Maxime Gorki (*) (thời Stalin), cùng với những hành động áp bức, khống chế, nhục mạ, đày đọa các nhà văn Boris Pasternak(*) ( tác giả danh phẩm Dr. Zhivago, giải Nobel văn chương), Alexandr Soljenitsyn (*) (tác giả các danh phẩm:” Một ngày của Ivan Denissovitch”- giải Nobel-, và ” quần đảo ngục tù/ Archipel du Goulag”), nhà thơ Evgueni Evtouchenko(*), nhà thơ Rojdevstevenski(*), nhà văn Doudintsev(*), sử gia Andre Amalrik(*), nhà văn Alexandre Zinoviev(*), và khoa học gia Andrei Sakharov(*) (cha đẻ bom H của Nga) v.v…

http://www.dangvannham.com/modules/news/article.php?storyid=772

May 30, 2009 Posted by | ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PGVNTN: MỘT ĐỒNG MỘT CỐT! | | Leave a comment

BẤT TUÂN DÂN SỰ: "DÂN KHỔ" – BẤT TUÂN DU LỊCH: "ĐẢNG KHỐN"!

BẤT TUÂN DÂN SỰ: “DÂN KHỔ” – BẤT TUÂN DU LỊCH: “ĐẢNG KHỐN”!

TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net)

Lời người viết: Thông cảm trước nổi thống khổ của đồng bào ở quê nhà và nhất là các tôn giáo đang bị bọn quỷ đỏ vô thần tìm đủ mọi cách để triệt hạ, theo như lời dạy của đại quỷ vương Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”. Do đó người viết rất kính trọng bất cứ những ai dám đứng lên chống lại bạo quyền, họ là những người cam đảm và trong số đó có Huề Thượng Thích Quảng Độ. Tuy nhiên, không phải vì thế mà không nêu lên những tên” giả giờ phản tỉnh, lừa phỉnh đồng bào” như Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Trần Khuê, Trần Độ, Nguyễn Khắc Toàn….và cũng đóng góp vài ý kiến, trong tinh thần dân chủ về cuộc đấu tranh chung, giành lại chính quyền về tay nhân dân, để đất nước được tự do, độc lập, thoát khỏi bàn tay ngoại bang Trung Cộng. Trong tinh thần góp ý, chớ không bao giờ dám KHUYÊN huề thượng Thích Quảng Độ và những người liên hệ như cư sĩ trừ bị tai gia, ta bà đấu tranh Võ Văn Ái, các tu, tăng sĩ trong và ngoài nước, huynh trưởng gia đình Phật tử….một điều chắc chắn là: Huề thượng Thích Quảng Độ không phải là Thánh Tăng, ngay cả Đức Đa Lai Đa Ma cũng khiêm tốn không nhận danh hiệu” Phật Sống” ( living Buddha) nên cũng sai lầm như người thường. Trong chuyện Tây Du Ký, Tam Tạng không phải là thánh tăng, dù có cốt cánh tu hành, nên do cái” người phàm mắt thịt” mà nhiều khi sai lầm, nhìn không ra ma quái giả dạng Phật, có lúc quỳ lạy ma quỷ mà ngỡ là Phật, do lầm lẫn đó mà có lúc làm sai, hành hạ đệ tử là Tôn Hành Giả, xuýt làm hỏng cả con đường thỉnh kinh ở Tây Phương Cực Lạc../.

Phật Giáo đã đến Việt Nam từ đầu thế kỷ sau Công Nguyên, từ các thương buôn người Ấn, dân tộc Việt Nam đã có tính thần hòa đồng tôn giáo, nên chấp nhận đạo mới, song hành với đạo thờ cúng tổ tiên. Phật giáo trải qua bao thăng trầm cùng vận nước với nhiều cuộc xâm lược của người Hán là các triều đại Trung Hoa; có thể nói là sự đóng góp của Phật Giáo trong lịch sử quả là đáng kể, dù bên cạnh đó có nhiều tai tiếng, nhưng” đạo không bao giờ sai, chỉ có người hành đạo làm bậy” mà thôi, đó là suy nghĩ khách quan, nên không phải vì một số người mang áo tu sĩ làm bậy mà vội kết luận cả Phật Giáo, là điều cần phải tránh để khỏi bị ngộ nhận từ những tu sĩ chân chính.

Thời tiền Lê, sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đổ Thích ám sát, vua còn nhỏ và giặc ngoại xâm đang lăm le, nên thượng tướng quân Lê Đại Hành được tướng sĩ tôn làm vua; tuy nhiên sau khi vua mất, truyền ngôi cho con là Lê Long Đỉnh, là hôn quân dâm ô quá độ, nên mang hổn danh là Vua Lê Ngọa Triều ( tiếng xấu ngày nay vẫn còn), vua nầy gây ra nhiều tội ác, trong số đó có việc bắt một vài thầy chùa đưa đầu làm thớt để róc mía. Tuy nhiên, hình như thời đó cũng đã có sư phạm giới, chớ khong có lý do gì, Lê Long Đỉnh lại làm như thế? Có lửa mới có khói, cái gì cũng phải có nguyên do, là luật tương quan nhân quả.

Vào thời nhà Đường bên Trung Hoa, thời suy vong, loạn lạc nổi lên khắp nơi, cuối cùng, trong một lần cử hai danh tướng là Triệu khôn Dẫn và Triệu Khuôn Nghĩa đi dẹp loạn, khi quân triều đình mới tới cầu Trần Kiệu, tướng sĩ không thèm đi và đồng thời tôn Triệu Khuôn Dẫn lên làm vua, đoạn kéo quân về lật đổ vua Đường, lập nên nhà Đại Tống. Triệu Khuôn Dẫn không giết những tôn thất nhà Đường, trái lại còn làm tiệc linh đình, quan cũ muốn phục vụ triều đình mới, cứ ở lại được trọng dụng; ai không thích, được về vườn và còn cấp đất, vàng để sinh nhai ( So với thời sau 1975, thì Việt Cộng quá tệ, tàn ác khôn lường qua cái gọi là chính sách cải tạo).

Vì không tùng phục nhà Tống, nên hai tôn thất nhà Đường là Lý Khánh Vân và Lý Khánh Đản phải chạy sang nước Việt để nương náo, chờ thời cơ khôi phục cơ đồ. Tương truyền là hai ông hoàng thúc nhà Đuờng vốn tinh thông thiên văn địa lý, nên khi đi qua đất Đình Bản, thuộc Bắc Ninh, là nơi có long mạch ; nhưng vì không có hài cốt tiên gia nên Lý Khánh Vân ngầm kết hôn với một cô gái Việt, quê quán ở cánh đồng làng Đình Bản và sinh ra đưa con trai. Sau đó hai ông xưng là thiền sư, vì hoàn cảnh tu hành nên hai ông phao tin lượm đứa con trai, đem vào chùa tu và dạy, đặt tên là Lý Công Uẩn, sau thành vua Lý Thái Tổ, nên thời nhà Lý, Phật Giáo thịnh hành, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng sang thời nhà Trần và biến cố giặc Nguyên sang xâm lăng nước Việt, với binh hùng tướng mạnh, nên triều đình phải huy động hội nghị Diên Hồng, toàn dân cùng nhau đánh xâm lược, giữ vững bờ cõi; thời đó, già trẻ, trai gái, tu hành cũng đều đánh giặc cứu nước, trong đó có sư Thượng Sĩ, là người được trọng vọng, cũng” vứt áo cà sa khoát chiến bào” xông pha trận mạt không khác gì danh tướng và khi yên giặc, trở về tu hành. Nếu thời đó, đa số thanh niên sợ chết cạo đầu vô chùa tu, thì nước ta không có đủ chùa để chứa những người” thanh tâm trường an lạc trong cảnh đất nước lâm nguy” và nếu ai cũng” chống xâm lặng tai gia” thì nước ta bầy giờ là một huyện của Trung Cộng, còn đâu cho Việt Cộng đem dâng, bán.

Phật giáo âm thầm đi vào lòng dân tộc, tác động, ảnh hưởng tín ngưỡng sâu rộng trong dân chúng, nên đa số dân tin tưởng và Đức từ Bi, nhưng cũng không tránh khỏi sự lạm dụng của những kẻ” mượn đạo tạo đời” làm hoen ố đạo pháp và uy danh Đức Phật. Vào thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, ở đàng trong, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, từ đất Tàu sang, sư Thích Đại Sán, mang thuyền lớn cùng với một số tu sĩ, tưởng là để” hoằng hóa” đạo pháp, nào ngờ sư dâng tập” Đồ Hình Tố Nữ” cho chúa Nguyễn và được” cúng dường” 5 ngàn lạng vàng, ngoài ra chúa Nguyễn còn kêu gọi dân chúng” cúng dường” bằng những sản phẩm địa phương, thu vào đầy cả thuyền và mang về Tàu. Tập Đồ Hình Tố Nữ là những hình vẽ dạy cách hành lạc rất ư là” Cụp Lạc” nên hình như từ đó đã có sư” lên non tìm động Pác Pó” và trở thành dâm tăng, đã có sẵn, mai phục qua lớp cà sa, khi có điều kiện là” vùng lên để cỡi quần” người khác phái, nên mới có chuyện ngụ ngôn về cái trống để gần nhà sư là bị lủng…

Thời xưa, người Trung Hoa cũng đã biết” khai thác kỷ nghệ tình dục”, như thời nhà Tấn, có ông Quảng Trọng là người đầu tiên đánh thuế các động mãi dâm, nên sau nầy được thờ, thành thần Bạch Mi; sách hành lạc có quyển” Nhục Bồ Đoàn” của Lý Ngư, cũng là thứ dâm thư không thua gì quyển sách của ai đó viết tại Việt Nam, được âm thầm chuyền tay trong giới bình dân học vụ, tên là” bảy đêm khoái lạc”. Do đó, dâm tăng đã có nguồn gốc” lịch sử” chớ chẳng phải mới mẻ gì, được thể hiện qua ca dao:

“Ba cô đội gạo lên chùa.

Một cô yếm thắm, bỏ bùa cho sư.

Sư về sư ốm tương tư.

Ốm la, ốm lóc, cho sư trọc đầu”.

Do nguồn gốc ấy mà ngay nay số dâm tăng gia tăng theo từng” tình huống” trong thời đại vật chất MẠT PHÁP làm cho những kẻ mượn đạo tạo tiền MẬP PHÁT. Trong cái” Phật Giáo Ngày Nay” xuất hiện rần rộ” đội ngũ dâm tăng”, lừng danh như Thích Phước Huệ, Thích Như Huệ, cư sĩ Lê Tấn Kiết, thiền sư Nhất Vẹm…. đóng góp cho thế gian thêm những chuyện” dâm tặc” đắc quả TAM RỜ:” núp bóng từ bi RỜ ĐÌ, núp bóng thiền môn RỜ l…, Núp bóng thầy tu, RỜ MU..”.

Thời kỳ loạn ly, dù đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, nhưng thực dân còn tôn trọng tự do tín ngưỡng, nên các chùa được tự do hành đạo. Thời kỳ đảng Cộng Sản vô thần thống trị miền Bắc sau 1954, nhiều tu sĩ bị giết, tù đày, chùa bị tịch thu, đập phá, làm cho nhiều di tích lịch sử biến mất, nên Phật Giáo lâm vào pháp nạn, không biết miền Bắc có những cuộc đứng dậy nào để đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng?

Nhưng tại miền Nam tự do, thời đệ nhất Cộng Hòa, dù tổng thống Ngô Đình Diệm có thiên vị Thiên Chúa Giáo, nhưng đâu có đàn áp tôn giáo. Bọn Việt Cộng, gián điệp nằm vùng núp bóng tôn giáo, lợi dụng sinh hoạt dân chủ để gây bất ổn chính quyền miền Nam. Bên Công Giáo cũng có linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Bá Cương ( tức là Trương Bá Cần)….

Phật Giáo có khối Ấn Quang, với những sư thân hay Cộng Sản, do thượng tọa Thích Trí Quang cầm đầu, gây nên nhiều bạo loạn, mà cao điểm là vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức, nên 5 tháng sau, trung tướng Dương Văn Minh, cầm đầu đảo chánh, giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu. Thời tranh quyền, trung tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý, làm quốc trưởng, nhưng vì sợ Phật giáo nên dưới áp lực của Thích Trí Quang, tướng Khánh giết đứa em út của tổng thống là Ngô Đình Cẩn để làm vừa lòng sư. Thời chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ, là một Phật tử thuần thành, đâu có đàn áp Phật Giáo, thế mà sư Thích Trí Quang cùng Thích Thiện Minh, cùng với tập đoàn tăng lữ miền Trung làm cuộc bạo loạn năm 1966, họ gọi là” mùa Pháp nạn”, xuýt làm mất miền Trung về tay giặc Cộng; thời đó vùng 1 chiến thuật do trung tướng Nguyễn Chánh Thi làm tư lịnh, ông là một Phật Tử, nghe sư hơn nghe những chiến hữu trong ngành an ninh, tình báo….và nhất là tư lịnh sư đoàn 1 bộ binh là chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, là người tùng phục Thích Trí Quang, nếu không nhờ đại tá Nguyễn Ngọc Loan ra tay dẹp loạn, thì cái họa loạn đầu trọc tác hại khôn lường và nhân mạng của những người quốc gia, đảng phái chính trị, khác tôn giáo khó bảo toàn khi miền trung nằm trong tay các sư và Việt Cộng bên trong.

Cuộc bạo loạn miền Trung năm 1966, với chiến dịch” đem bàn thờ Phật xuống đường” làn cản trở lưu thông và các cuộc chuyển quân của quân lực VNCH ở vùng hỏa tuyến, tượng Phật đặt nhiều nơi, có nơi tượng đặt trên đống rác và phía sau là Việt Cộng hay đám Phật tử bị giựt dây núp, bắn vào lính quốc gia trong lúc thi hành nhiệm vụ giản hồi trật tự, nên từ đó mới có câu tục ngữ:” núp bóng từ bi đâm sau lưng chiến sĩ?”.

Trong thời gian nầy, có 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến ở vùng 1 chiến thuật bị thiệt hại nặng: tiểu đoàn 5, danh hiệu Hắc Long, thiếu tá tiểu đoàn trưởng là Dương Hạnh phước tử trận ở Quảng Ngải và tiểu đoàn 2, danh hiệu Trâu Điên, với trung tá Lê Hằng Minh đề nợ nước ở Huế. Cái chết của những chiến sĩ Mũ Xanh hảy còn là nghi vấn, có thể là do nội tuyến từ cấp trên và cũng có thể do đám sư nội tuyến gây ra?. Tuy nhiên, vụ trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lịnh quân khu 1, đã bị cụm tình báo chiến lược A-54 nằm trong dinh đến 7 năm, mới phát giác, thì biết bao nhiêu tin tức tối mật, tình báo, hành quân đã lọt vào tay Việt Cộng?.

Số là sau khi đảo chánh bất thành ngày 1 tháng 11 năm 1960, đại tá Nguyễn Chánh Thi lấy máy bay, cùng với một số thuộc cấp bay sang Miên tỵ nạn và được Sihanouk chứa chấp, trong thời gian lưu vong, đại tá Thi thường đi tiêu khiển bằng môn chơi nhảy đầm, nên đã lọt vào mỹ nhân kế, với cô Trăm là nhân tình và cô giới thiệu nhân vật tên Sáu Già, được cho là anh cô ta. Nhưng không ngờ đây là cán bộ tình báo Việt Cộng; sau ngày 1 tháng 11 năm 1963, đại tá Nguyễn Chánh Thi trở về nước như một người hùng, lên tướng, sau đó cô Trăm và Sáu Già liên lạc, nên tướng Thi nhờ đại tá Phạm Văn Liễu lo thủ tục nhập cư và từ đó ở trong” cơ ngơ” tướng Nguyễn Chánh Thi. Đó là một trong số những nghi vấn về hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị tổn thất nặng, trùng hợp với biến động Phật Giáo miền Trung 1966.

Được biết, khi nghe tin tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh qua đời, các tăng ni khối Ấn Quang có làm lễ” cầu siêu” tại chùa, trên bàn thờ có tràng hoa màu đỏ, giữa là hoa vàng, là biểu tượng mà Hồ Chí Minh lấy làm màu đảng kỳ, trong số các khách thân hữu có luật sư Trần Ngọc Liểng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khi toàn dân Việt Nam kinh hoàng trước đám giặc Cộng tràn vào cướp phá, thì khối Phật Giáo Ấn Quang tỏ ra” hồ hởi phấn khởi” huy động hơn 500 tăng ni ra đón” đoàn quân giải phóng” là thứ” giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào” và ngay trong năm ấy, sinh nhật 19 tháng 5 của tên Hồ Chí Minh được cử hành tại chùa Ấn Quang, lớn hơn vía của Phật hay Bồ Tát; một cao tăng đứng lên đọc” tham luận” kể lễ công đức của Phật Giáo Việt Nam đóng góp cho” cách mạng” thành công.

Tuy nhiên, cũng giống như tất cả những ai từng hợp tác, làm tay sai cho giặc Cộng, sau khi thành công thì vắt chanh bỏ vỏ, đầu tiên là các công cụ Mặt Trận Giải Phóng của Nguyễn Hữu Thọ tan hàng ngay trong ngày kỷ niệm” đại thắng mùa xuân 1976″ tại Saigon, nên có nhiều tên bỏ chạy nước ngoài như Trương Như Tảng…và từ khắp miền Nam, nhan nhản những cán bộ miền Nam bị phục viên, hạ bị cho làm hạ tầng công tác, trở thành những hồn ma bóng uế, chửi đảng mệt nghỉ, chửi đến chết mà đảng không hề sụp đổ. Cho nên Phật Giáo khối Ấn Quang cũng không tránh khỏi bị gạt ra ngoài, từ năm 1976 đã có những đàn áp, thanh toán, bức hại một số tăng chúng, từng góp công với” cách mạng”, như trường hợp của Thích Thiện Minh (Đổ Xuân Hàn).

Do đó, trong hàng tăng sĩ, có nhiều người không tùng phục nhà nước và trở thành giáo hội không được đảng công nhận, coi là ngoài vòng pháp luật. Từ đầu thập niên 1980, một số tăng sĩ theo đảng mà vẫn mang bảng hiệu Phật Giáo, thành lập giáo hội Phật Giáo Việt Nam do huề thượng Thích Trí Tịnh cầm đầu, luôn có những hành vi làm lợi cho đảng và muốn gom hết tăng sĩ vào một mối, để đưa Phật giáo Việt Nam cùng nhau” thống nhất” và” nhất trí” đi theo tấm bản chỉ đường của đảng, phát huy tối đa luật luân hồi, nhân quả để hù dọa và làm cho tín đồ không thèm đấu tranh chống quỷ ma, cứ sống cho hết kiếp người để” trả quả” là đạt mục đích giữ cho đảng bền, cán giàu mãi mãi.

Trong thời kỳ đó, một số nơi, Phật tử đứng lên đòi tự do tín ngưỡng và bị đàn áp dã man, một số cuộc tự thiêu như ở Cần Thơ, trở thành tiếng kêu lạc lõng trong cái pháp nạn và đất nước đắm chìm trong cõi” U Minh”. Lý do là Việt Nam chưa mở cửa, nên người nước ngoài không nhiều; nếu vào thời buổi nầy, tức là lúc cao điểm các công ty nước ngoài, báo chí, truyền thông, doanh gia Tây Phương, khoa học kỷ thuật cao, máy móc tối tân….thì những hình ảnh tự thiêu ấy có tác động trên toàn thế giới, có hy vọng làm cho chế độ Việt Cộng hoảng sợ. Tuy nhiên, ngày nay, không thấy những cuộc xuống đường, đem bàn thờ xuống đường, tự thiêu…như thời quốc gia và thời kỳ Việt Cộng chưa mở bức màng sắt. Đó là điều cần lưu ý, vì cuộc đấu tranh không hợp tình thế, thời đại, thì không mang lại kết quả, như cây mọc trái mùa, khác vùng đất, thì làm sao cho ra quả ngon.

Trong số những vị tăng sĩ kiên trì, không đầu hàng quỷ đỏ và bọn ma quái giả dạng tu hành, có Huề Thượng Thích Quảng Độ, Ngài là một trong số vị cao tăng hiếm hoi còn sót lại sau cuộc thăng trầm lịch sử và giáo hội, đặc biệt là hầu hết các tăng sĩ đều” đầu râu nhẳn nhụi, áo vàng cà sa” thì Ngài huề thượng Thích Quảng Độ lại thể hiện cái mà câu sấm loan truyền trong dân chúng trước 1975:

“Chừng nào thằng ngốc làm vua.

Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu”.

Ngài cùng với những tăng sĩ, phật tử trong nước, kết hợp bên ngoài với Phòng Thông Tin phật Giáo do cư sĩ Võ Văn Ái, là người trước đây từng cộng tác với thiền sư Nhất Hạnh đánh phá chính quyền miền Nam, đã giác ngộ, và sau nầy có lập trường bất nhất, khó tin: nay thì tố cáo kẻ tiếm danh, mai thì đứng chung kẻ tiếm danh trong tuyên cáo, lòng người thật khó lường; bất cứ ai như thế cũng khó tin mà cộng tác, ngay cả chơi hụi cũng hỗng dám mời, huống chi là việc đại sự, có ngày bị phản phé, lật lọng.

Tuy nhiên sự kiên trì của huề thượng Quảng Độ làm hưng chấn niềm tin của nhiều người và Phật tử hải ngoại, nhưng kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2009, một gáo nước lạnh tạt vào mặt một số người tin tưởng Ngài sau khi ngài có phương cách đấu tranh mới, rất phù hợp với lập trường băng đảng Việt Tân:” đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài”, nên ngài có lối đấu tranh:” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự” được các cơ sở truyền thông Việt Tân, râu ria phổ biến, vì đây là sách lược phù hợp với một tổ chức có lập trường:” Coi đảng Cộng Sản là thành phần dân tộc và tên quốc tặc Hồ Chí Minh là người có công với đất nước”…. Nghe qua thoang thoảng mùi Cà Ri của thánh Ghandi, một thời thành công là nhờ đế quốc Anh có tính cỡi mở, nếu thánh Ghandi ở Việt nam thì chắc chắn được thực dân Pháp mời ra Côn Đảo để” đấu tranh bất bạo động” đến hơi thở cuối cùng mà không bao giờ thấy được đất nước được trao trả độc lập.

Do đó, dùng bất bạo động như một trong những phương thức của Phật Giáo, coi cõi đời là cõi tạm nên không cần phải đấu tranh cho kiếp nầy, hảy tu hành” thanh tâm trường an lạc” để giải thoát, là thứ mà Việt Cộng rất tâm đắc và giờ nầy coi như là” đấu tranh lạc lối, lộn địa chỉ”, đấu tranh” lộn lèo”. Tuy nhiên trước đây, miền Nam có tự do, thì khối Phật Giáo Ấn Quang lại đấu tranh” lộn địa chỉ” khôn nhà dại chợ, làm cho miền Nam suy yếu, là dùng bạo động, biểu tình, tự thiêu, mang bàn thờ Phật xuống đường, kích động các đơn vị quân đội VNCH có nhiều Phật tử ly khai chống lại các chiến hữu của mình dưới chiêu bài” pháp nạn” hay” bảo vệ đạo pháp”, núp sau tượng Phật bắn vào lính quốc gia đang làm công việc giản hồi trật tự cho dân chúng trong khu vực làm loạn…..tất cả những” bạo động” ấy tạo bất ổn chính trị, chưa kể đến thành phần Cộng Sản lòn vào khuynh đảo đạo Phật và chính phủ; nếu các tăng sĩ Ấn Quang” giác ngộ” lối” biểu tình tại gia” và khai triển:” mang bàn thờ Phật xuống đường …tại gia” thì miền Nam đỡ khổ biết mấy và không chừng tình hình thay đổi, chớ không phải như ngày nay, đất nước lọt vào tay quỷ đỏ từ năm 1975.

Tuy nhiên, kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, chưa nghe những vị tăng ni nào có tham gia vào cuộc biến động bạo loạn miền Trung, phá rối chính quyền miền Nam, tiếp tay cho giặc Cộng, có lễ cầu siêu cho nạn nhân và sám hối tội lỗi, dù là hình thức tôn giáo; trái lại có một số vị tỏ ra” thanh tâm trường yên lặng” để tiếp tục gây thêm nghiệp báo, tệ nhất là đi theo làn sóng tỵ nạn, lập chùa làm giàu, dâm tặc và bảo lãnh bọn công an cạo đầu sang, tiếp tục tạo thanh thế cho quỷ đỏ Cộng Sản tại hải ngoại.

” Biểu tình tại gia” là cách nói hết sức tế nhị, cũng giống như khối 8406 trước đây ban phát lịnh” cùng nhau mặc áo trắng để biểu tình” và công an khỏi mất công đi tìm, thấy ai mặc áo trắng lảng vãng nơi tập trung là vớt ngay, thì cuộc xuống đường coi như” thất bại là mẹ thành công, là ông có nội bankrupt”. Lời kiêu gọi” biểu tình tại gia” là coi như:” không có gì quí hơn không biểu tình tại nơi công cộng” có khả năng làm nên cuộc” bảo nổi lên rồi” và” xuống đường, đập tan mọi xích xiềng, quyết đấu tranh giành lại chính quyền”….và cái sách lược” bất tuân dân sự” lại càng trớt quớt, hạ sách và không có viễn kiến, không ngờ vị cao tăng có nhiều năm đấu tranh, mưu lược lại có cái sách lược lỗi thời, không hợp lòng dân và cũng không thể đạt tới mục đích sau cùng là: giải trừ quốc nạn và pháp nạn.

Có thực mới vực được đạo, nên thời giặc Minh xâm lăng nước ta, Nguyễn Trải có” Bình Ngô Đại Cáo” rất hay, với:

“Đem đại nghĩa thắng hung tàn.

Lấy trí nhân thay cường bạo”.

Nếu hai câu nầy áp dụng” chống giặc Minh tại gia” thì không bao giờ đuổi giặc được, nhưng hai câu nầy được đạo nghĩa binh hùng hậu, một lòng đánh giặc Tàu song hành, nên mới làm” cho bọn Vương Thông đành mọp giáo qui hàng”.

” Bất tuân dân sự” 5 tháng, là thời gian dài, là sách lược” bất hợp tác” với chính quyền, mà thánh Ghandi thành công là nhờ lòng yêu nước của dân Ấn, muốn đất nước được độc lập. Trong khi đó tại Việt Nam ngày nay, tình hình dân chúng khác, họ bị đàn áp lâu năm mà chùng bước, lại bị ảnh hưởng thuyết luân hồi, nên nhiều người chỉ biết sống tạm kiếp nầy để trả quả, đợi kiếp sau sướng hơn, đó là lý do mà Việt Cộng rất chú ý đến việc phát triển Phật giáo bằng xây chùa dể dàng, cán bộ phục viên muốn đi tu cũng được đảng khuyến khích, ngoài ra còn có nhiều công an giả dạng làm tăng ni…..trong khi tình hình kinh tế suy thoái toàn cầu, các hãng xưởng tư nhân, quốc doanh gặp khó khăn về số lượng hàng hóa đặt từ nước ngoài giảm” quota”, nên hãng có huynh hướng giảm bớt người, tình trạng thất nghiệp càng gia tăng và đa số nông dân, công nhân….có lối sống” tay làm hàm nhai” nên cái cảnh:” chạy cơm từng bửa toát mồ hôi”. Thế mà huề thượng lại kêu gọi toàn dân trong nước:” bất tuân dân sự” tới 5 tháng, thì dân ở nhà không thèm ra đồng, đến hãng…..lấy gì mà sống? Huề Thượng có tiền, cấp cho mỗi người” bất tuân dân sự” một Mỹ Kim một ngày, thì họa may có nhiều người hưởng ứng cái sách lược” bất hợp tác”; còn không ai tài trợ, công nhân mà” bất tuân dân sự” ở nhà, thì các chủ hãng tư nhân, quốc doanh rất mừng, khỏi cần phải đuổi bớt, họ cũng tự động nghỉ việc, trong danh chánh ngôn thuận. Có phải là huề thượng xúi dân đi vào chỗ chết không?.

Tuy nhiên ở nước ngoài thì việc” bất tuân DU LỊCH” rất có lý, khi mà toàn thể người Việt hải ngoại cùng nhau hưởng ứng với hai không:” không về thăm quê hương ( kẻ cả dạng TAM DU: du lịch, du hý, du dâm), không gởi tiền”, thì Việt Cộng khốn đốn, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và Việt Cộng gặp cái” tình huống” khốn đốn ngoại tệ, dể đưa đến sụp đổ; một tác động trước mắt là biết chừng những nơi chuyển tiền lậu bị ế, nên hạ giá cước phí, cho những người gởi tiền về cho gia đình trong giới hạn và trong hoàn cảnh đặc biệt như tang chế, bịnh tật…

Do đó, sách lược: biểu tình tại gia và bất tuân dân sự, được huề thượng kêu gọi cho người dân trong nước là bất khả thi, trớt quớt, không phù hợp hoàn cảnh, điều kiện trong nước, lại làm lợi cho Việt Cộng nhiều hơn là làm cho đảng sụp đổ, khi dân chúng chỉ “ở nhà biểu tình” và” hổng thèm đi làm” là hợp với tình hình” trật tự, an ninh chính trị và kinh tế suy thoái”, thật là “tương kế tựu kế”, nên người Việt Nam cảm thấy thất vọng với” Phật giáo ngày nay”.

Từ đây chắc chắn là sự ủng của người người Việt hải ngoại giảm dần đối với huề thượng Thích Quảng Độ, người mà trước đây được coi là cái phao cứu nguy pháp nạn trong nước, nay thì” đốn củi ba năm, rụi một giờ” và không chừng chuyện tranh giải Nobel sắp tới cũng không được người Việt hưởng ứng, ủng hộ. Nhưng đừng lo, đàng sau huề thượng luôn có băng đảng Việt Tân đang hết lòng ủng hộ trong việc “đấu tranh bất bạo động… để tháo gở độc tài”, lá bài giữ đảng, làm cản đấu tranh, xanh vỏ đỏ lòng, lòng vòng không lối thoát./..

TRƯƠNG MINH HÒA

29.5.2009

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_BatTuanDanSuDanKhoBatTuanDuLicchDangKhon.htm

May 29, 2009 Posted by | BẤT TUÂN DÂN SỰ: "DÂN KHỔ" - BẤT TUÂN DU LỊCH: "ĐẢNG KHỐN"! | | Leave a comment

Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

ThichThienHao

« Hòa Thượng » Thích Thiện Hào: Hội chủ Hội Phật Giáo Việt Nam.

Như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng, tôi xin ghi lại tất cả những thảm cảnh tang tóc, đau thương mà cộng sản Hà Nội cùng các lực lượng « Phật Giáo Tranh Đấu » và « Hòa hợp Hòa giải » Ấn Quang đã từng gieo rắc trên mảnh đất thân yêu là thành phố Đà Nẵng đầy lưu dấu của tôi.

Hôm nay, noi theo lời dạy của nhà học giả Nguyễn Trường Tộ : « Biết mà không nói là bất lương ». Nên, bằng tất cả tâm thành từ bài này trở đi, tôi sẽ tuần tự viết với đầy đủ những chi tiết trong mọi biến cố mà tôi đã từng mắt thấy, tai nghe, vì tôi muốn viết khi các nạn nhân và cả chứng nhân tất cả các vị ấy hiện còn đang sống đa số tại hải ngoại, để minh chứng cho tiếng nói trung thực của tôi, mục đích là để cho lớp trẻ sau này biết đường mà lánh xa lũ sát nhân tàn bạo ấy.

Trong những bài trước tôi có nói đến « công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải » của Phật Giáo Ấn Quang mà không nêu cụ thể chứng minh. Vậy để biết rõ hơn, xin mời quý độc giả hãy cùng đọc lại báo Quê mẹ số 108 tháng 3 năm 1990, trang 21, đã đăng ( nguyên văn ) một trong « Năm yêu sách của Phật giáo do Thượng Tọa Thích Thanh Từ, Đại biểu giáo quyền Phật giáo đương kim Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào tháng 02 năm 1990 đã đưa ra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản tại Hà Nội :

« Yêu sách thứ năm : Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo đã góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây. »

Không những thế, mà « Thượng tọa » còn lo lắng :

« … làm cho niềm tin của quần chúng đối với đảng và nhà nước bị xói mòn… và để lấy lại niềm tin của quần chúng. »

Nghĩa là « Thượng tọa » sợ cộng sản sụp đổ. Theo tôi, « TT »Thích Thanh Từ đừng nên quá lo xa, bởi dân tộc Việt Nam từ thuở vua Hùng lập quốc đã có truyền thống kính sợ Trời tức Thượng Đế, vì thế những người Việt Nam đứng về phía dân tộc họ đều có thừa lòng nhân ái, không ai có những hành động như các lực lượng « tranh đấu » của Ấn Quang đã đối với các nạn nhân tại Đà Nẵng đâu. Bởi họ có nhân tính, họ tin có Ông Trời, họ sợ Ông Trời « sẽ đổ cơn thịnh nộ xuống ». Chỉ có lũ vô thần, phi nhân, tàn bạo chúng mới không tin có Trời nên đã đặt Trời xuống ngang bằng với quỷ vật nên chẳng ai biết sợ ai cả.

Hiện nay bạo quyền Hà Nội đã thỏa mãn « Năm yêu sách của Phật giáo » nên « Thượng tọa » Thích Thanh Từ đương nắm giữ giáo quyền và cả thế quyền nữa.

Nguyên do và mục đích của Ấn Quang trong cuộc bạo loạn tại Miền Trung :

Mục đích chính của Phật giáo Ấn Quang là chiếm giữ miền Trung, để thành lập Chính phủ Miền Trung, liên minh với Việt cộng để đánh Việt Nam Cộng Hòa. Ấn Quang đã chuẩn bị từ lâu, chỉ chờ cơ hội để nỗi loạn. Vì vậy, nhân việc tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức vào ngày 10-3-1966. Phật giáo đã lấy cớ đó biểu tình đòi chính phủ phải trả tướng Thi trở lại vùng 1. Khi chính phủ trả tướng Thi trở lại vùng 1 nhưng không có chức vụ gì cả. Thì Ấn Quang lại đòi chính phủ phải phục hồi cho tướng Thi với các chức: Tư lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1, kiêm đại biểu chính phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Việc làm này của Phật giáo Ấn Quang đã khiến một tín đồ thuần thành của Phật giáo là ông Bùi Quang Sạn, chỉ huy trưởng Đơn vị Tình báo tác chiến tại Quảng Nam (sau đó ông là dân biểu ) đã nói :

« Chuyện ông Thi bị cách chức là chuyện của quân đội mắc mớ gì đến Phật giáo. Chỉ có muốn nổi loạn cướp chính quyền để hợp tác với Việt cộng mà thôi. »

Sau đó, trong cuộc nổi loạn mùa hè 1966, ông Bùi Quang Sạn đã bị bắt giam cùng với hàng trăm vị là các viên chức chính quyền và các chính Đảng. Các vị này đã bị Phật Giáo giam bốn mươi ngày tại « chùa » Phổ Đà tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Trong suốt thời gian này Phật Học Viện Trung Phần đã trở thành « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh. » Khi bị bắt, Phật giáo đã bắn bể bàn chân trái của ông Bùi Quang Sạn, nhưng « Quân Đoàn Vạn Hạnh » đã không cho ai băng bó cả. Chẳng những thế, mà QĐVH còn trói thúc ké hai tay ông ra sau lưng và buộc ông phải đi bộ cùng với nhiều người bị bắt. Vì thế, trong số tù nhân Phật giáo này có hai ông Ngô Hải Quảng và ông Nguyễn Kim Thành phải dìu ông Bùi Quang Sạn đi trên đường phố đến chùa Phổ Đà. Trước mắt đồng bào, nhiều người đã thấy ông Bùi Quang Sạn đi chân đất với bàn chân trái bê bết máu, mặt mày trông rất đau đớn. Nên biết, khác hơn cả tù thời Pháp và Việt cộng. Tất cả tù nhân Phật giáo đều bị Quân Đoàn Vạn Hạnh buộc phải cởi bỏ áo quần ngoài chỉ được mặc quần áo lót, phải cởi bỏ luôn giày, dép, vớ, phải đi chân đất trên các đường phố, khi vào nhà tù Phổ Đà các vị tù này cũng không được mặc áo quần dài chỉ được mặc đồ lót và phải đi chân đất. Và họ đã ở trong nhà tù Phổ Đà, bị đánh đập bốn mươi ngày mới được giải cứu.

Cũng nên biết, trong suốt bốn mươi ngày chùa Phổ Đà cũng đã trở thành một lò mổ heo, bò để nuôi ăn cho Quân Đoàn Vạn Hạnh hàng ngày.

Vì thế, Giáo sư Trịnh Thể, Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Công Trứ khi thấy nhà chùa trở thành lò mổ ông đã vào tận « chùa » để nói với « Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Tuyên Úy Vùng 1, Quân khu 1 là Tư Lệnh Quân Đoàn Vạn Hạnh rằng :

« Thưa Thượng Tọa về những việc khác tôi không biết phải nói được một điều gì; nhưng riêng về chuyện mổ bò, mổ heo trong chùa tôi xin Thượng tọa suy nghĩ lại, vì không nên biến chùa trở thành lò sát sinh ».

Nhưng Giáo sư Trịnh Thể đã không ngờ dược Thích Minh Chiếu đã trả lời :

« Mình đang làm chuyện đại sự thì sá gì những chuyện tiểu tiết ấy »

Nghe những lời của Thích Minh Chiếu đã nói như thế, Giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết, Chủ sự phòng hành chánh Bệnh viện Toàn khoa ĐN, bởi quá thương các vị tù không tội này vì biết không làm điều gì khác hơn, nên ông đã đến chùa xin được thăm nuôi, các « thầy » đồng ý, nhưng không được gặp mặt, chỉ được gửi vào chùa những chiếc chiếu ( nhưng không được gửi chăn, màn…) và quần áo lót qua người cai tù là Trung sĩ quân cảnh Nguyễn Văn Sự, ngoài ra tù nhân không được nhận một vật dụng hay bất cứ thực phẩm nào cả . Vì số tù quá đông nên các nhân sĩ và đồng bào đã giúp đỡ mua những chiếc chiếu và đồ lót, nhưng chỉ có hai vị không thể mang vào chùa được, nên hai vị đã nghĩ ra một cách là dắt tôi đến chùa « xin các thầy cho con nhỏ này nó phụ anh em tôi mang chiếu và đồ lót vào chùa, các thầy hãy an tâm vì nó hiền như cục đất à. »

Tôi không biết mấy ông trong chùa thấy tôi hiền, hay chỉ là con gái vô hại, hay ý Trời cho tôi được chứng kiến những điều ấy, nên khiến cho họ bằng lòng cho tôi được cùng giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết đi thăm tù nhân tại « chùa » Phổ Đà.

Sau đó, hai vị bảo tôi cùng đi tìm người, tìm xe để chở số chiếu và đồ lót đó đem đến trước cổng chùa giao cho Nguyễn Văn Sự, rồi những người đi thăm nuôi và tài xế tất cả đều phải đi ngay. Một điều ít khó khăn hơn những thân nhân của QCCVNCH trong các trại tù « cải tạo » của Việt Cộng, là khi vào thăm nuôi mỗi người có người thân khác nhau, phải qua kiểm sóat thăm nuôi, phải chờ đợi, còn các vị tù nhân Phật giáo này không được phép nhận bất cứ cái gì của ai kể cả cha, mẹ, vợ, con. Vì vậy, sau khi giao số chiếu và đồ lót cho cai tù Nguyễn Văn Sự, y cứ cho đem vào chùa rồi hàng trăm vị tù tự chia xẻ với nhau để dùng. Sau 30-04-1975, khi gặp tôi trong trại cải tạo T.154, giáo sư Trịnh Thể bảo : « Hồi xưa mấy ổng mà biết rõ em hiền như vậy thì đừng hòng mà đến gần được cái cổng chùa, chứ đừng có nói đến chuyện thăm nuôi.

Những diễn tiến của cuộc bạo loạn :

Như tôi đã nói về nguyên do và mục đích của cuộc bạo loạn. Bây giờ tôi xin trở lại từ những ngày đầu :

Sau khi tướng Nguyễn Chánh Thi trở về Đà Nẵng, nhưng chính phủ cương quyết không phục chức theo yêu sách của Phật giáo Ấn Quang. Thấy vậy, Phật giáo lại đòi phải thành lập chính phủ dân sự. Mặc dù biết những đòi hỏi của Phật giáo là quá đáng, nhưng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đã triệu tập Quốc dân đại hội và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong vòng sáu tháng. Song, vì chưa đạt được mục đích nên Phật giáo lại tiếp tục biểu tình. Lần này với những biểu ngữ và dùng loa phóng thanh hô to những khẩu hiệu :

« Đả đảo Thiệu-Kỳ, Thiệu-Kỳ phải từ chức. »

Khi nhắc lại điều này, tôi muốn hỏi Phật giáo là tại sao từ sau ngày 30-4-1975, cho đến nay, Ấn Quang vẫn luôn kêu gào nào là từng bị Việt cộng bỏ tù, áp bức, pháp nạn… Như vậy, tại sao Phật giáo không tổ chức biểu tình đả đảo cộng sản, không đem bàn phật xuống đường như mùa hè 1966, không đòi bạo quyền Hà Nội phải từ chức, trong khi vẫn ca rằng Việt Nam có tới 90% là Phật tử ?

Trở lại cuộc nổi loạn, khi chính phủ không từ chức, vì từ chức rồi giao chính quyền cho ai ? Chẳng lẽ giao cho Thầy chùa ? Vì vậy, Phật giáo bắt đầu cuộc bạo loạn bằng việc công khai tuyên bố đã thành lập « Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh », Thích Minh Chiếu là Tư lệnh Quân đoàn. Tổng hành dinh được đặt tại chùa Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh Đà Nẵng như tôi đã viết ở trên.

Lúc này, Thích Đôn Hậu đã kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đã từng chỉ huy «Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây :

Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đã từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như: Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đã nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi :

« …Các quân nhân Phật tử hãy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hãy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »

Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đã từng chứng kiến cuộc nổi loạn này cũng thấy rằng : Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đã có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh » Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đã được «Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi thì được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đã viết ở bài trước.

Lực lượng biểu tình từ đâu ra ?

Trong suốt thời gian nổi loạn, tại thành phố Đà Nẵng ai cũng thấy con số người đi biểu tình rất đông đảo, nhưng chỉ có người dân Đà Nẵng mới biết rõ trong đoàn người đó có phải họ đều tự nguyện đi biểu tình hay không ?

Và đây là sự thật : Quý vị đã đọc qua bài 30-4-1975 : Máu và nước mắt, quý vị đã biết về số người đi « diễn hành » vào ngày 19-5-1975, để « mừng » sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm, thì quý vị ắt đã biết có một số đông đồng bào đi biểu tình trong cuộc bạo loạn này đã không phải là tự nguyện.

Để biết rõ hơn, tôi xin ghi lại những sự gì mà chính tôi đã chứng kiến. Tôi vẫn nhớ như in, vào thời gian đầu của cuộc nổi loạn chỉ có một số ít phật tử đi theo tiếng gọi của…thầy chùa. Vì vậy, « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến từng khu chợ, tay vung gậy, mồm la hét, đe dọa, bắt buộc đồng bào phải bãi thị để đi biểu tình, ai phản đối thì bị đánh đập, và Đoàn Thanh niên Phật Tử Quyết Tử đã đạp đổ những sạp hàng, những gánh bún… Cuối cùng, đồng bào phải nuốt nước mắt để đi biểu tình. Điều này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc có biết, nên đã viết qua trong « Mùa Biển Động » nhưng có thể vì để bán sách nên ông không viết đầy đủ.

Bàn Phật xuống đường.

Trước khi nói đến chuyện bàn Phật xuống đường. Tôi phải nói rõ xuất xứ từ hơn ba ngàn cái bàn Phật đã nằm la liệt trên khắp đường phố Đà Nẵng. Nên biết, trong hơn ba ngàn cái bàn Phật đó, có rất nhiều cái bàn Phật dã chiến. Vì không có đủ bàn Phật, nên chỉ ở các cổng chùa mới có những bàn Phật trang nghiêm, còn ở các nơi khác thì các « thầy » ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » ( từ đây xin tôi xin viết tắt là ĐTNPTQT) tay cầm búa, gậy ngang nhiên vào nhà Phật tử khiêng bàn Phật của họ ra đường, cũng nên biết trong nhà của đồng bào Đà Nẵng chỉ có một cái bàn thờ, họ thường để tượng, ảnh Phật ở trên và thờ chung với Tổ tiên, ông bà, có gia đình nghèo họ để bàn thờ trên mặt tủ. Khi ĐTNPTQT, đến khiêng bàn thờ họ nhất định không cho, vì biết đem bàn thờ, đem tủ ra đường phơi nắng, dầm mưa thì chắc chắn sẽ bị hư, bị gãy. Nhưng rồi họ cũng không ngăn cản được, bởi trên tay ĐTNPTQT, toàn là búa, gậy, gạch, đá. Nhưng thấy cũng chưa đủ, ĐTNPTQT đã đi vào các chợ khiêng những chiếc bàn vốn là của bà bán hàng xén, ông bán thịt, cô bán bún, chị bán tôm, tép, cá khô …đã bị bắt buộc phải bãi thị. Vì thế, khi đem ra đường trên mặt bàn còn dính đủ loại mặt hàng như : Đường, bột, tiêu, ớt, dầu, muối, mắm, thịt, vãy cá nhầy nhụa. Nhưng đã được ĐTNPTQT phủ lên một tấm nylon có in hình hoa lá đủ mầu sắc ( loại dùng để trải bàn) Rồi đem tượng Phật, có cái chỉ là một tấm ảnh Phật được lồng vào khung gỗ. Tiếp theo, ĐTNPTQT dùng những chiếc lon sữa bò hoặc những cái hộp đựng thịt, nhặt ở những nơi mà các xe thầu rác của sở Mỹ đổ ra, đem rửa sạch, đổ gạo và cắm nhang (hương) vào. Bên cạnh cũng là những chiếc lon như đã nói, nhưng khác hơn là nó được úp xuống, gắn đèn sáp đỏ lên. Tất cả được thượng lên bàn dưới chân tượng, ảnh Phật. Sau cùng là đốt nhang đèn.

Như thế, từ cái bàn bán hàng, bán thịt, bán bún …ngoài chợ, tất cả chúng đều nghiễm nhiên trở thành những cái bàn Phật, nhang, đèn, khói hương nghi ngút.

Có người nói, quân chính phủ đã đạp, đổ bàn Phật, nhang, đèn. Nên tôi cũng xin nói rõ là điều đó không hề có; mà các chiến sĩ dẹp loạn chỉ khiêng các bàn Phật để lên trên lề đường cho xe cộ lưu thông mà thôi.

Nhưng vì hơn bốn tháng các chợ tại Đà nẵng đã bị QĐVH của Phật Giáo Ấn Quang dùng bạo lực để bắt buộc phải bãi thị, không ai bán gạo hay thức ãn, nên những người hành khất và các em thiếu thi hè phố cũng phải chịu đói theo đồng bào. Bởi thế, nên cứ chờ khi các chiến sĩ dẹp loạn quay lưng, thì các vị khất sĩ này liền tới ngay các bàn Phật, tay này rút nhang vứt xuống đất, tay kia bưng những lon gạo trút vào các túi cái bang. Cùng lúc các chủ nhân của những chiếc bàn cũng nhanh chân đi thu hồi lại những chiếc bàn, để còn đem ra chợ buôn bán sau một thời gian dài chịu đói khát. Và tất nhiên, những người này họ phải đem nhang đèn để xuống đất, vì họ chỉ lấy lại những chiếc bàn của họ mà thôi.

Trở lại chuyện bàn Phật xuống đường.

Trong suốt thời gian Bàn Phật Xuống Đường, người dân Đà Nẵng đã chứng kiến và gánh chịu những khốn khổ vì hơn bốn tháng trời bàn Phật nằm đầy đường, Đà Nẵng trở thành thành phố chết, xe cộ không thể lưu thông, người phải đi bộ, các chợ vắng hoe, dân chúng không làm ăn buôn bán gì được, quân nhân, công chức, lao công không có lương, nhiều gia đình bị đói vì họ là những người dân từ các quận xa xôi như : Trà Mi, Tiên Phước, Hậu Đức, Khâm Đức, Quế Sơn …chạy về Đà Nẵng để lánh nạn cộng sản.

Hành quân Đinh Bộ Lĩnh :

Giữa lúc Phật giáo đã cướp chính quyền toàn thành phố Đà Nẵng, trong đó có Đài phát thanh. Chỉ trừ phi trường, mặc dù có dự tính nhưng không dám tấn công vì sợ Hoa Kỳ. Người dân Đà Nẵng đang khốn khổ và giữa lúc sinh mạng của các vị QCCVNCH là những tù nhân Phật giáo trong chùa Phổ Đà đang như sợi chỉ mành treo chuông. Như ông Lê Nguyên Long Trưởng ty Thông tin Quảng Nam đã kể :

« Tui không biết con số chính xác là tại chùa có bao nhiêu người, nhưng tui biết chúng tui mỗi phòng có bảy mươi người, mà các phòng của nhà tăng tại chùa Phổ Đà thì nhiều, vì chùa này là Phật Học Viện Trung Phần mà, nên nó lớn lắm mà đều kín chỗ hết, chúng tui nằm sát nhau rất chật chội, vì mùa hè nên nóng lắm, ai cũng đều phải trải chiếu nằm trên nền xi măng, lại bị muỗi đốt kinh khủng vì không có mùng, không được mặc áo quần dài, không có dép, không có khăn tắm, khăn mặt, không có xà phòng, không có kem và bàn chải đánh răng, không có cái gì cả ngoài bộ đồ lót trên người và chiếc chiếu, nghĩa là chúng tui đã sống như người ở thời tiền sử. Còn cách hỏi cung của mấy ổng thì ghê gớm lắm, vì mỗi lần hỏi cung là mỗi lần chúng tui đều bị tụi nó oánh, mà tụi nó có hỏi cung chi mô, nó kêu từng người ra các phòng khác để nó oánh cho đã thôi, khi về phòng người nào cũng giống như cái mền rách. Trời ôi ! tụi nó tàn ác lắm, nó oánh, nó oánh tụi tui, nó oánh ( nó đánh) từ trái sang phải, chúng tui tưởng đã bỏ xác trong chùa Phổ Đà rồi chớ. Nhưng chưa hết mô còn thêm một nỗi kinh hoàng hơn nữa là trước các cửa sổ các phòng đều có treo lựu đạn với lời tuyên bố của Quân Đoàn Vạn Hạnh : Đ.M, nếu Thiệu-Kỳ mà đưa quân vào đây là chúng tao bung lựu đạn cho chúng mầy chết tan xác hết. »

Tưởng cũng nên nhắc lại ông Lê Nguyên Long bị bắt trong lúc đang lái chiếc Vespa chở giáo sư Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, trên đường từ Quảng Nam về Đà Nẵng, vừa đi đến ngã ba Duy Tân ĐN, thì bị Phật giáo chặn bắt cả hai vị. Sau đó Giáo sư Nguyễn Hữu Chi và ông Lê Nguyên Long bị đưa vào nhà tù Phổ Đà là nơi giam giữ nhiều tù nhân nhất, ngoài ra cũng có nhiều chùa cũng đã trở thành nhà tù như « chùa » Tam Bảo Tự ở số 323 đường Phan Châu Trinh ĐN.

Ngày 16-4-1966, « Phật giáo » đã vây bắt Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang, và đồng loạt tấn công các trụ sở đảng phái, bắt hàng trăm viên chức chính quyền và các cán bộ của VNQDĐ do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo (ông Lê Nguyên Long cũng là VNQDĐ) đồng thời Phật giáo cũng tấn công Trụ sở Liên hiệp Nghiệp đoàn Lao công ở số 15 B đường Thống Nhất bắt ông Trần Hòa Tổng thư ký Liên hiệp Nghiệp đoàn và các nhân viên đem giam vào chùa Phổ Đà và còn quá nhiều người mà tôi không làm sao kể hết.

Cũng trong thời gian ấy, Phật giáo đã tấn công quân nhân và đốt các xe của quân đội Hoa Kỳ. Một trường hợp đã có rất nhiều biết đó là tại đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm nhìn sang Trường Trung Học Sao Mai, khi đó một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai Sĩ quan, một Hoa Kỳ và một Đại Hàn vừa chạy trờ đến, thì « Đòan Thanh niên Phật tử Quyết tử » xông ra chặn đường và lôi hai Sĩ quan này xuống đất, hai Sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì liền bị đám này túm cổ áo và đánh hội đồng, cùng lúc tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy thì có nhiều người là nhân viên và khách trọ từ khách sạn Moderne do Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An làm chủ đã chạy ra giải vây, lợi dụng lúc đó Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An đã kéo cả hai Sĩ quan này chạy vào khách sạn che giấu. Sau đó bà đã tìm cách đưa họ trở về đơn vị.

Trong hoàn cảnh đó, ở dưới đất thì diễn ra cảnh đốt phá, vây bắt, đánh người thì trên không máy bay của quân đội đồng minh lượn quanh không phận Đà Nẵng không ngớt phát lời kêu gọi :

« Chúng tôi quân đội đồng minh, chỉ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi không có đụng chạm đến Phật giáo cũng như chính phủ. Vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi quý vị hãy chấm dứt việc hành hung và đốt xe của các quân sĩ đang thi hành công vụ. »

Nhưng « Lực lượng Tranh đấu Phật giáo » chẳng ai thèm nghe cả. Chính vì thế, tại Quảng Nam Việt cộng đã lợi dụng cảnh hỗn loạn ở thành phố để tấn công, nên các đoàn xe của quân đội Việt –Mỹ phải lên đường tiếp viện. Nhưng khi đoàn xe chạy qua khỏi ngã ba Huế thì từ trong chùa Phổ Quang do « Thượng tọa »Thích Từ Mẫn trụ trì đã ra lệnh cho « Phật tử » đông đảo sẵn có ra nằm la liệt trên mặt đường, ngăn cản đoàn quân viện không cho tiến vào Quảng Nam để cùng các đơn vị bạn chiến đấu với cộng quân.( Thích Từ Mẫn là chủ nhà sách Văn Nghệ tại Cali, Hoa Kỳ).

Mặt khác, các thầy đã ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu, ông Sáu là người Bắc di cư ở số 19 đường Lý Thái Tổ, là nơi cung cấp củi cho toàn thành phố và nói với ông Nguyễn Bá Sáu là cho mượn hết số củi đó chở về các chùa để các thầy tự thiêu. Ông Nguyễn Bá Sáu không cho mượn, ông nói :

« Tự thiêu củi cháy hết rồi lấy cái gì trả cho tôi. »

Nhưng ĐTNPTQT cứ xông vào khiêng hết số củi của ông bỏ lên xe đem về chất trước các sân chùa, chùa nào cũng có một đống củi, rồi các « thầy » tuyên bố :

« Nếu Thiệu-Kỳ đem quân vào chùa sẽ có người tự thiêu. »

Song quân chính phủ không hề động đến một cái chùa nào cả, chẳng phải quân đội sợ các « thầy » tự thiêu, vì ai cũng biết các « thầy » sợ chết lắm, mà vì sinh mạng của hàng trăm con tin là Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa đang ở trong chùa.

Đến lúc quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố ; ông Nguyễn Bá Sáu vội đem xe đến các chùa đòi củi lại, ông nói :

« Các thầy nói mượn củi của tôi để tự thiêu, nhưng đến giờ này cũng không thấy ai tự thiêu cả, thì trả củi lại cho tôi, để tôi bán lấy tiền nuôi vợ con tôi. Còn nếu thầy nào muốn tự thiêu thì cho tôi biết, tôi sẽ cúng dường bằng xăng và nếu cần thuốc mê, thuốc tê, thuôc ngủ thì tôi cũng xin cúng dường luôn (ông Nguyễn Bá Sáu còn có tiệm thuốc Tây nữa) vì tự thiêu bằng xăng sạch sẽ hơn. »

Song đó là màn cuối cùng của các « thầy », bởi thấy quân của chính phủ không nhượng bộ thì « Quân Đoàn Vạn Hạnh » một số đã « đào ngũ » khi biết rõ các thầy là cộng sản, một số không trốn được nhưng cũng xuống tinh thần, nên các thầy còn cần đến những đống củi chất trước chùa để hù dọa chính phủ. Vì thế, các thầy không cho ông Sáu chở củi về . Nhưng ông Sáu thì cương quyết thu hồi số củi của ông, ông liền cho người khiêng hết củi bỏ lên xe chở về chất trước nhà. Lúc này, « Quân đoàn Vạn Hạnh » đang rầu thúi ruột vì quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố nên chẳng có ai ngăn cản.

Nhưng sau khi ông Sáu chở hết củi về rồi, các « thầy » mới thấy lo, vì không có củi lấy cái gì để hù tự thiêu với quân chính phủ. Vì thế, các thầy lại ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu đánh ông một trận cho đỡ tức.

Phần ông Sáu, khi thấy đám côn đồ này xông vào nhà ông sợ quá liền chui vào đống củi, đám này bảo ông phải ra cho chúng đánh, ông không dám chui ra. Chúng biết ông trốn trong đống củi, nhưng củi nhiều quá chúng không biết ông trốn ở chổ nào. Tức quá, chúng liền tưới xăng vào đống củi và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy, vợ con ông kêu cứu, đồng bào trong xóm nhiều người la lớn kêu cứu. Trong đó có ông Trương Quang Bông, lúc đó đang ở trên lầu bốn của Khách sạn Tao Nhã do vợ ông làm chủ ở số 172, đường Lý Thái Tổ. Vì ở gần nhà ông Nguyễn Bá Sáu, nên khi thấy ngọn lữa bốc cháy và nghe những tiếng kêu cứu của đồng bào, nên ông Trương Quang Bông đã gọi điên thoại cho sở cứu hỏa. Vì thế, lính cứu hỏa đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu ông Sáu ra khỏi đống củi và đưa ông đến bệnh viện. Ông chỉ bị bỏng nhẹ nên thoát chết, nhưng chưa thoát được bàn tay của các «thầy », nên sau ngày 30-4-1975, ông Sáu lại bị các « thầy » đem ra « Tòa án nhân dân » đấu tố đủ thứ « tội » cuối cùng tôi lại gặp ông tại Trại cải tạo T.154, và ông cũng ở gần mười năm mới được trở về.

Qua những hành động như đã kể. Chúng ta ai chũng thấy rằng các « thầy » quả thật quá ngang ngược, đã lấy củi của ông Nguyễn Bá Sáu trong lúc ông không đồng ý, đến khi muốn thu hồi củi ông Sáu phải tự thuê xe chở về, rồi cũng không yên thân, các thầy lại cho lũ côn đồ tới nhà đánh ông, lại còn chuẩn bị cả xăng mang theo để đốt sống ông Sáu nữa. Nhưng, nếu sở cứu hỏa không cấp cứu kịp thời thì chẳng phải một mình ông Sáu và gia đình ông chịu chết, mà nhà cửa và sinh mạng của đồng bào ở lân cận nhà ông Sáu tại đường Lý Thái Tổ cũng phải cùng chung số phận !!!.

Quân chính phủ có gây thương vong cho nhân mạng hay không ?

Vừa qua, trên mạng lưới toàn cầu tôi thấy cả hai ông tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi đã phát biểu hoàn toàn bịa đặt, như nói là « …trong cuộc tranh đấu của Phật giáo quân chính phủ đã làm thiệt mạng cho 240 người tại Đà Nẵng »

Nên biết, suốt thời gian ấy ông Thi đã trốn ngoài Huế nên không biết hay thấy những gì đã xãy ra tại Đà Nẵng. Bây giờ ông Thi đã chết, nhưng cách đây mười năm, sau khi đọc cuốn hồi ký của ông tôi có một bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong số 556, trong đó có một đoạn, nay tôi xin viết lại đoạn đó như sau : Tôi đã đọc cuốn hồi ký ấy, ngay từ trang đầu tiên ông đã viết :

« Vì lòng yêu nước tôi đã gia nhâp quân đội 1940… ».

Tôi muốn hỏi tướng Thi : Vào thời điểm đó Trung tướng nói yêu nước là yêu nước nào ? Gia nhập quân đội nào ? Cầm súng của ai và để bắn giết ai ?

Và những câu hỏi trên cho đến chết tướng Thi vẫn không trả lời được.

Riêng tướng Tôn Thất Đính. Trong cuộc bạo loạn của Phật giáo tại Đà Nẵng. Sau bốn mươi ngày « Phật giáo bắt giam nhiều vị QCCVNCH, chính phủ đưa ông ra Miền Trung để điều đình với phe nỗi loạn để giải cứu số tù nhân Phật giáo

Ngày 26-5-1966, khi tướng Đính đến chùa Phổ Đà gặp các tù nhân Phật giáo, chính ông đã nói với các vị tù nhân câu này tôi xin nhắc lại nguyên văn :

« Tôi đến để trả tự do cho các anh, để các anh trở về chiến đấu với cộng sản. »

Với câu nói này tướng Đính đã bị hai ông Lê Nguyên Long và ông Ngô Hải Quảng phản đối đến rất nặng lời. Riêng ông Lê Nguyên Long vì ức quá ông đã vung cả hai tay chỉ ngay sát vào ngực áo cà sa của từng ông Sư la lớn tôi xin ghi lại nguyên văn như sau đây :

« Trung tướng bảo chúng tôi đi đánh cộng sản hả ? Đánh cộng sản đâu cần phải đi xa. Cộng sản là thầy chùa đây nì, thầy chùa là cộng sản đây nì. »( đây nì: đây này).

Tôi không muốn nhắc lại dài dòng, tôi chỉ nói thêm là khi đó có nhiều người không chịu ra khỏi chùa, họ đòi phải đưa Thích Đôn Hậu, Thích Minh Chiếu và các thầy chùa cùng nội vụ ra tòa, đòi thầy chùa phải trả lời tại sao bắt họ ? Họ có tội gì ? Thầy chùa lấy tư cách gì để bắt giam, đánh đập họ bốn mươi ngày ? Nhưng họ đã không đòi được công đạo, vì chính quyền lúc ấy khiếp nhược, cầu an.

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu tại sao tướng Đính lại nói : « Tôi đến để trả tự do cho các anh … » Phải chăng chính tướng Đính đã ra lệnh cho « Quân đoàn Vạn Hạnh » bắt giam các vị ấy ? Vì chỉ có người ra lệnh và người bắt giam mới có tư cách « để trả tự do ». Và cả hai ông tướng đều nói đến hàng trăm người đã thiệt mạng, nhưng tại sao không đưa ra được một bằng chứng cụ thể ? Còn tôi, tôi có đủ bằng chứng và nhân chứng sống cũng như tên, họ, chánh, trú quán của những nạn nhân còn sống cũng như thân nhân của người đã chết.

Còn một điều khác nữa là không ai biết được những diễn biến bên trong giữa Phật giáo và tướng Đính, vì sau đó Tôn Thất Đính chẳng những không giúp chính phủ mà còn đứng về phe nổi loạn. Vì vậy, chính phủ phải gấp rút đưa quân ra Trung để dẹp loạn, khi thấy sự quyết liệt của chính phủ thì những người cầm đầu của loạn quân trong cái gọi là « Quân đoàn Vạn Hạnh » đã rút vào sào huyệt cuối cùng là « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng.

Khi quân chính phủ đã kiểm soát toàn thành phố ĐN trừ chùa Pháp Lâm. Vì để hoàn tất kế hoạch hành quân mà không gây đổ máu, quân đội đã bao vây chùa Pháp Lâm, dùng loa phóng thanh kêu gọi tất cả hãy ra đầu hàng. Lúc này mọi người đều thấy những người này tuần tự bước ra khỏi chùa, hai tay đều giơ cao khỏi đầu và xin đầu hàng quân chính phủ, trong những người ra đầu hàng này người ta đã thấy những tên quen thuộc như sau đây :

1- Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuât, kiêm Đại biểu chính phủ tại vùng 1.

2- Đại tá Nguyễn Văn Mô, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1

3- Đại tá Đàm Quang Yêu, Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà

4- Bác sĩ Nguyễn Vãn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng

5- Lưu Văn Ngộ, Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia ĐN

6- Âu Quang Minh, Trưởng ty cảnh sát Quốc gia Quảng Nam.

Tiếp theo sau là những thuộc hạ của những người này, trong « Quân đoàn Vạn Hạnh »

Sau đó, Quân chính phủ đã ra lệnh buộc sáu ông Đính-Mô-Yêu-Mẫn-Ngộ- Minh và thuộc hạ phải leo lên xe bít bùng và chở lên phi trường đưa về Sài Gòn tống giam.

Nhưng tiếc rằng, chính phủ lúc ấy đã không làm hết việc. Tại sao chỉ bắt tướng Đính và năm người cầm đầu cùng loạn quân còn lại trong « chùa » mà không bắt thầy chùa. Nên nhớ, là chính phủ có quyền bắt tất cả những kẻ đã gây ra cuộc bạo loạn để đưa ra Tòa án Quân sự Mặt trận và bỏ tù, cũng như buộc hoàn tục, vì họ có tu thật đâu, họ chỉ núp dưới chiếc áo cà sa để làm giặc. Vì các « thầy » đều có mang lon sĩ quan Tuyên úy, như Thích Minh Chiếu, Thiếu tá trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, Thích Như Huệ mang lon Đại úy Biệt động quân đi dụ dỗ trẻ em vị thành niên đến có bầu, bị gia đình các bé gái ở Hội An kiện ra tòa, và còn rất nhiều nữa.

Chính vì việc làm nửa vời này của chính phủ nên mới di họa cho đến 30-4-1975, và không biết sẽ còn đến bao lâu nữa ???!!!

Để trả lời tướng Tôn Thất Đính và trên hết là tôi muốn trân trọng gửi đến quý độc giả những sự kiện đã xãy ra thật chính xác như sau đây :

Trước hết, tướng Tôn Thất Đinh vì đã trốn trong các chùa. Sau cùng là Chùa Pháp Lâm nên không bao giờ thấy hay biết những gì xảy ra ở bên ngoài. Vì vậy, tôi khẳng định lại một lần nữa là những gì tướng Đính nói là hoàn toàn bịa đặt.

Thảm cảnh của đồng bào tại Thành Phố Đà Nẵng :

Sau hơn bốn tháng, người dân thành phố Đà Nẵng đang đối mặt với tử thần, thì Chiến dịch Hành quân Đinh Bộ Lĩnh được ban hành. Khi bộ chỉ huy lực lượng hành quân ĐBL đã chiếm được Đài phát thanh Đà Nẵng thì đã phát lời kêu gọi của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy trưởng Thủy quân Lục chiến kiêm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng như sau :

« … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hãy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, vãn hồi an ninh trên lãnh thổ Quãng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngã đổ tắt nhang đèn. »

Vì bị đói khổ nhiều ngày tháng, nên đồng bào ĐN rất vui mừng hưởng ứng lời kêu gọi và đã hăng hái tiếp tay với các chiến sĩ dẹp loạn, trong đó có em Lê Quang San 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ trường Trung học An Hải quận 3, con của ông bà Lê Quang Khâm, chánh quán thôn Bát Nhị, xã Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn, Quảng Nam, lánh nạn cộng sản tại An Cư1, phường An Hải Đông, quân 3 ĐN.

Lúc đó, những kẻ cầm đầu của cuộc bạo loạn miền Trung đã rút vào sào huyệt cuối cùng là chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, tại số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để phòng thủ.

Nhưng họ vẫn không chịu ngưng tiếng súng, mà từ trong chùa « Quân đoàn Vạn Hạnh » cứ bắn xả từng loạt đạn ra đường, những người khiêng dọn bỏ chạy, riêng em Lê Quang San vì sợ quá không chạy được nên đã chui xuống bàn Phật để tránh đạn thì bị lính của Quân đoànVạn Hạnh lôi vào cổng chùa Pháp Lâm, rồi giáng cho em những trận đòn thừa sống thiếu chết, sau đó nổ súng bắn em San chết gục tại phía trong cổng chùa Pháp Lâm; mặc dù đã chết, thân thể quắt queo bởi những cú đấm, đá của Quân Đoàn Vạn Hạnh; nhưng đôi mắt em Lê Quang San vẫn mỡ to nhìn vào nơi Phật Tự!!!

Sau đó, nghe điện báo của quân sĩ trấn thủ vùng này, Đại tá Nguyễn Thanh Yên đích thân đến tận nơi chứng kiến xác chết của em San. Rồi Đại tá Nguyễn Thanh Yên ra lệnh đưa thi thể em lên Quân Y Viện Duy Tân, chờ tìm thân nhân nhận xác.

Sau đó, qua tường trình của các viên chức an ninh, biết được gia đình em nghèo, cha làm nghề đạp xích lô, mẹ làm công việc nội trợ, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đã gửi đến gia đình em 20.000 đồng để giúp đỡ việc an táng cho em San.

Mặc dù chính phủ đưa quân ra Trung vào ngày 27-6-1966, nhưng cho đến hết tháng bảy các binh sĩ và đồng bào mới thu dọn sạch sẽ trên đường phố, đầu tháng tám các chợ mới đông, thành phố Đà Nẵng mới hồi sinh.

Về con số thương vong, ai cũng biết có người chết và rất nhiều người bị thương do đạn của « Quân đoàn Vạn Hạnh » từ trong các chùa bắn ra để giết chết đồng bào và quân chính phủ làm công việc dọn dẹp trên đường phố. Một số người bị thương vì bị « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đánh đập và dùng gậy gộc, gạch, đá tấn công, bởi họ không chịu bãi thị, không chịu đi biểu tình, không cho khiêng bàn thờ Phật của họ ra đường. Còn quân chính phủ không dám nỗ súng vì trong các chùa còn có hàng trăm con tin là QCCVNCH. Nên biết, nếu đúng như lời của hai ông Thi-Đính thì còn loạn hơn như thế nữa. Bởi, chỉ cần có một người của loạn quân mà chết, dù là trúng gió chết hay bị chó cắn mà chết , thì chắc chắn quân bạo loạn sẽ khiêng cái xác ấy đi biểu tình và nói là quân chính phủ giết họ. Nhưng may mắn là trong suốt thời gian bạo loạn gió cũng hiền, chó cũng biết sợ nên « lực lượng tranh đấu » chẳng có ai trầy sướt gì cả.

Khi tình hình Đà Nẵng đã ổn định ông bà Lê Quang Khâm đã đến Đặc Khu Quân Trấn gặp Đại tá Nguyễn Thanh Yên, yêu cầu đưa ra pháp lý để làm sáng tỏ cái chết của em Lê Quang San thì được Đại tá trả lời :

« Tôi cũng là người Đà Nẵng, xin thành thật chia xẻ nỗi đau thương của ông bà, nếu cần gì tôi sẽ đề nghị ông Thị trưởng giúp đỡ. Còn điều ông bà yêu cầu, tôi xin lỗi không làm được, vì như mọi người đều biết các trụ sở đảng phái, nghiệp đoàn cũng bị tấn công, hàng trăm QCCVNCH đã bị bắt giam trong chùa Phổ Đà. Vì thế, trước mắt mọi người Phật giáo đã không còn tính chất của tôn giáo nữa. Song, không có cách nào khác hơn vì vũ khí của quân đội thì mang bên ngoài bộ quân phục, nhưng vũ khí của các thầy lại nằm bên trong chiếc áo cà sa ! Không phải một mình cháu San mà còn rất nhiều nạn nhân, trong đó có rất nhiều binh sĩ đã mất mạng ! Nếu tôi có làm điều gì hơn nữa thì chỉ tạo nhân tố cho họ dùng biển người trấn áp, mà không biết chừng lại nỗi loạn lên nữa, bởi dù là cọp trên rừng mà đã lạc xuống đồng thì cũng đành chịu vậy !

Vì hưởng ứng lời kêu gọi của quân đội mà ra nông nỗi, vậy tôi thành thật xin lỗi ông bà cũng như tất cả các gia đình của những nạn nhân xin hãy thấy được nỗi khó khãn của tôi mà dành cho tôi một sự cảm thông. »

Trước những lời chí tình của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, ông Lê Quang Khâm đã nói :« Chúng tôi xin cám ơn Đại tá, nhưng ngoài việc muốn làm sáng tỏ về cái chết oan uổng của con tôi, chúng tôi không cần gì khác hơn nữa cả. »

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, ngoài số người đã bị bắt còn có một số cán bộ đảng phái đã chạy thoát, bị Phật giáo truy đuổi, một số chạy lên được phi trường, một số chạy xuống khu Nội Hà, phường Thanh Bình thì được đồng bào miền Bắc di cư nuôi giấu trong nhà. Đặc biệt một số đông cùng đường đã chạy vào nhà thờ nhờ Cha Bề trên Nguyễn Văn Phương che chở, nhưng Cha Nguyễn Văn Phương nói :

« Nhà Chúa luôn luôn rộng mỡ, nhưng tiếc rằng không thể để quý vị trong nhà thờ được, vì như thế nhà thờ sẽ bị tấn công. »

Khi nghe vị Linh Mục nói như thế, các vị định quay lưng, và các vị đã có ý định mỡ đường máu để thoát thân. Nhưng, thật bất ngờ khi nghe Cha Phương nói:

« Thôi các vị hãy vào đây, nếu có chết thì cùng chết với nhau. Bởi các vị mà chết hết thì tôi sống làm sao yên, mà cũng không đáng sống ».

Nói xong Cha Nguyễn Văn Phương đã đưa tất cả các vị vào trong nhà thờ. Nhưng để bảo toàn cho sinh mạng của các vị này, đồng thời cũng để cho nhà thờ khỏi bị tấn công, nên Cha Phương đã cho người gọi ông Trần Văn Tuyên đến đón các vị ấy về nhà nuôi giấu, và vợ con ông bà Trần Văn Tuyên đã cơm bưng, nước rót hầu các vị ấy hơn hai tháng.

Ai cũng biết hơn bốn tháng trời Đà Nẵng là thành phố chết, có tiền không mua gạo được, mà số người ẩn trốn lại quá đông. Vì thế, Cha Phương đã kêu gọi đồng bào miền Bắc di cư đóng góp để nuôi họ. Riêng ông Trần Văn Tuyên vì nhà ông nuôi giấu người đông nhất, nên các vị ấy đã chứng kiến hàng ngày cảnh ông Tuyên đã mang bị đi xin từng lon gạo, từng tí mắm « của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng » để đem về nuôi họ.

Và cũng nên biết, khi chạy đến nhà thờ của Cha Nguyễn Văn Phương, rồi đến trốn ở nhà ông bà Trần Văn Tuyên; tất cả các vị chỉ có một bộ áo quần trên người, ngoài ra không có một vật dụng nào khác. Ví thế, Linh Mục Nguyễn Văn Phương đã kêu gọi tất cả giáo dân đóng góp từng bộ áo quần, từng chiếc khăn, đôi dép cho đến những vật dụng cá nhân như kem, bàn chải răng …

Nhưng, đến khi sóng lặng, gió êm các vị này ai cũng có chức cả, nào là Chủ tịch, bí thư, nghị sĩ, dân biểu, nghị viên …Lúc này « vị » nào cũng đi đứng hiên ngang nên đa số không còn nhớ đến cái lúc cùng đường xông đại vào nhà người ta cầu cứu, cũng như lúc từ nhà thờ Thanh Bình đến nhà ông bà Trần Văn Tuyên « quý vị » đã vừa lết vừa bò vì sợ « Phật giáo » phát giác. Hơn ai hết, là đồng bào miền Bắc di cư họ thừa hiểu nếu « Phật giáo » biết được họ đã nuôi giấu « quý vị » trong nhà thì cả phường Thanh Bình cũng cùng số phận như Thanh Bồ trước đó; song họ đã bất chấp mọi thứ bởi thấy nguy là phải cứu, thế nhưng, làm người cái lịch sự tối thiểu là phải biết nói lời cám ơn khi được người khác cứu giúp. Nhưng « quý vị » ấy kể từ lúc rời khỏi Thanh Bình, trước 1975, « quý vị » ai cũng có quyền, có chức vậy mà đa số không hề có một lần ghé lại nhà ông bà Trần Văn Tuyên nói lời cám ơn. Ngày ông Trần Văn Tuyên mất cũng không có nữa lời chia buồn cùng gia đình.

Hiện nay, bà Trần Văn Tuyên và các con vẫn còn ở nguyên căn nhà cũ ở đường Cao Thắng, nơi mà ngày xưa « quý vị » từng ăn trốn ngủ lén hơn hai tháng ở đó.

Trước ngày vượt biển, tôi có đến nhà bà Trần Văn Tuyên nhiều lần, bà nói cười rất vui vẻ khi nhắc lại những ngày nuôi giấu các vị ấy trong nhà. Lúc ấy, các con của ông bà cũng như tất cả thiếu nhi phường Thanh Bình, theo sự hướng dẫn của bố mẹ, chúng đã trở thành đội canh phòng quanh phường để giữ an ninh cho các vị. Tôi nhớ tên từng « vị » đấy.

Khi nhắc lại điều này, tôi không sánh « quý vị » với Hàn Tín xưa. Tôi chỉ nhớ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có đoạn nàng Kiều của lầu xanh, khi thoát cơn bĩ cục đã mượn oai của Từ Hải để ân đền, oán trả. Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu, có nói đến tên tiểu đồng hàng ngày đi xin cơm về cúng mộ Lục Vân Tiên :

« … Sáng đi khuyên giáo tối về cúng đơm,

Dốc lòng trả nợ áo cơm,

Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền. »

Lúc thi ân, ông bà Trần Văn Tuyên không hề mong « quý vị » đền đáp, nhưng là những kẻ đã thọ ân mà suốt bao nhiêu năm qua « quý vị » đã thực sự quên đi những ngày tháng ấy thì rõ ràng là « quý vị » đã không xứng danh là quân tử.

Trên đây, là những lời tôi muốn nhắc lại cái tình người với các « vị chính khách ». Còn nói đến cuôc bạo loạn bàn Phật xuống đường vào mùa hè 1966, thì còn quá nhiều nhưng bài viết đã dài. Tôi xin tạm dừng lại ở nơi đây. Xin tái ngộ quý độc giả với những tài liệu về Thích Thiện Hào, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Minh và rất nhiều « ông » Thích nữa của Phật Giáo Ấn Quang cũng trên trang báo này; và về Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1964.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_CuocBaoLoanBanThoPhatXuongDuongTaiMienTrung_Muahe1966.htm

May 29, 2009 Posted by | Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966 | , | Leave a comment

A Revelation of the Truth of the 1989 Tiananmen Massacre

A Revelation of the Truth of the 1989 Tiananmen Massacre:

Yenhua Wu was there that spring, he saw it all happen right before his eyes. After scaping to Macau with his life, his training in investigating research leads him to write this book.

Chinese audio:

http://video.google.com/videoplay?docid=-491899813850930338&ei=jP8fSoG3FqLA-AGB_fzUDw&q=A+Revelation+of+the+Truth+of+the+1989&hl=en-GB&emb=1


English translation: http://www.truveo.com/A-Revelation-of-the-Truth-of-the-1989-Tiananmen/id/3240090173


On June 5, 1989, one day after the Chinese army’s deadly crushing of the 1989 Tiananmen Square protests in Beijing, a single, unarmed young man stood his ground before a column of tanks on the Avenue of Eternal Peace. Captured on film and video by Western journalists, this extraordinary confrontation became an icon of the struggle for freedom around the world.

Seventeen years later, veteran filmmaker Antony Thomas goes to China in search of “The Tank Man.” Who was he? What was his fate? And what does he mean for a China that today has become a global economic powerhouse?

Drawing on interviews with Chinese and Western eyewitnesses, Thomas recounts the amazing events of the spring of 1989, when a student protest that began in Tiananmen Square, the symbolic central space of the nation, spread throughout much of the rest of China. Several weeks later, when the government sent in the army to end the demonstrations, the citizens of Beijing poured into the streets in support of the students. “You had a million people on the street, minimum. … That was unprecedented, definitely in modern Chinese post-revolutionary history,” says John Pomfret, who was in Beijing at the time, reporting for the Associated Press.

The demonstrations ended in a massacre on the night of June 3-4, when the government sent the troops into the city with orders to clear Tiananmen Square. Eyewitnesses recount what happened — from the first shots fired in the city’s outskirts, to the students’ withdrawal from the square in the early hours of June 4, to the Tank Man’s courageous stand the following day.

From there, Thomas looks at what the Tank Man’s life might be like in today’s China. China observers and scholars, including Orville Schell, talk about the turning point the nationwide unrest of 1989 represented. “After the massacre of 1989, [Chinese leader Deng Xiaoping] in effect said, ‘We will not stop economic reform; [but] we will, in effect, halt political reform.'”

Almost two decades later, the educated elite who led the protests of 1989 have benefited handsomely from China’s rapid economic growth, but many Chinese workers still face brutal working conditions and low wages. “A lot of factories do not even have one day off,” says labor expert Dr. Anita Chan who has been researching working conditions inside China for 15 years. “That means seven days a week, 13 hours a day.”

In fact, some experts see the emergence of two Chinas: one modern, wealthy and urban; the other rural, poor and disenfranchised. There is evidence that unrest among workers and peasants is growing; in 2005, there were more than 87,000 “civil disturbances” in the country.

“China is on a knife’s edge,” says Dr. Nicholas Bequelin of Human Rights Watch. “If we in the West are not aware of this, the leaders in Beijing are very much so, and this is their top concern. They know that the stability is very fragile.”

The Chinese government has responded to this threat by cracking down on dissent, and on the media. The regime has managed to erase the Tank Man’s image, famous throughout the world, from Chinese memory. Thomas shows the iconic picture to undergraduates at Beijing University, the nerve center of the 1989 protests; none of them recognize it. Central to the regime’s struggle to control information is its filtering of the Internet, a complex undertaking that raises serious issues about the role of Western IT companies in China’s censorship strategy.

In the face of official silence about 1989 and the Tank Man, the program concludes with Thomas’ quest to find out what became of the Tank Man and who he was. In the end, his identity remains a mystery, but the symbolism of his act of defiance continues to have power. “That story … is not getting weaker because of time. Because we don’t know who he is, it’s actually getting stronger,” says Xiao Qiang of the China Internet Project at the University of California at Berkeley. “In the long frame of history … human freedom, courage, dignity will stay and prevail, and that’s what that picture will testify [to] forever.”

Watch full movie free online: Frontline: The tank man in Tiananmen Massacre 1989 in China:

http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/tankman/view/


Some terrible pictures:

May 29, 2009 Posted by | A Revelation of the Truth of the 1989 Tiananmen Massacre | , | Leave a comment

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (5)

CON ĐƯỜNG ĐẠO

(5)

Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

Bách Linh

oo0oo

Con rắn Đỏ vô cùng hung hiểm

Lạy lục Nga Tầu không nề điếm nhục

Con rắn Hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới trời lồng lộng mênh mông.

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng……

Có những con người giả đui, điếc thầm câm

Song rất thính và nhìn xa rất tốt.

Tập thơ Vô Đề & Khuyết Danh

Nực cười cho lũ bàng quan

Cờ tan lại muốn hai hàng sang xe,

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề!

Gió mây ta lại đi về gió mây

Cơ Bút của Linh Mẫu Chúa Liễu

o0o

12. Anh hùng quốc doanh Thích Quảng Độ “không sợ” công an! Những thủ đoạn dùng cò mồi của Cộng sản.

Vào năm 1999, song song với chiều hướng chính trị có vẻ thuận lợi cho Cộng sản Hà Nội Ờ ký hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ Ờ bọn cò mồi nhân quyền, các tổ chức và nhân sự chính trị, kháng chiến ma mãnh, các tổ chức “liên tôn ma giáo”, tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang đều nín khe, không dám lên tiếng chống đối cuộc ký kết hiệp ước thương mại được ấn định vào đầu tháng 9/1999. Bọn này công khai ra mặt “không” chống Cô.ng.

Tin ngày 31/8/1999. Công an khủng bố HT Quảng Độ, nửa đêm đập cửa chùa hăm do.a.

Paris. Công an Sài Gòn đang tung ra đợt khủng bố mới nhằm vào Hòa thượng Thích Quảng Độ, theo lời Hòa thượng kể cho một biên tập viên tạp chí Thông Luận tại Paris hôm Chủ Nhật 29/8.

Trong cuộc nói chuyện qua điện thoại, Hòa thượng cho biết là vừa phải vào bệnh viện rửa ruột, trong khi bệnh tiểu đường vẫn hành hạ và gây nhiều biến chứng trong đường tiêu hóa. Hòa thượng cho biết bây giờ đi lại rất khó khăn vì chân yếu đi.

Đặc biệt, Hòa thượng kể rằng vào đêm 13/8, lúc 12:30 đêm, một toán công an tới gõ cửa chùa, đòi gặp “ông Quảng Độ”. Các nhà sư nói, chùa không tiếp khách ban đêm, có gì các ông trở lại sáng mai. Băng công an này làm dữ, dọa phá cửa chùa vào. Các thầy vẫn không chịu mở, viên chỉ huy ra lệnh phá cửa, nhưng khi sắp phá thì lại thôi.

Hòa thượng Quảng Độ cho rằng “người ta bắt tôi trong đêm để không ai biết. Không biết rồi họ sẽ làm gì đây? Tôi chờ đơ.i.” Trong cuộc nói chuyện này, Hòa thượng tỏ ra vui vẻ, nói đùa rất nhiều trong cuộc nói chuyê.n.

Ta thấy ngay cái trò hề bịp bợm của Thích Quảng Độ. Công an Cộng sản nào dám bắt sư quốc doanh nhà nước? Để đến khi nhân dân Việt Nam tiêu diệt Cộng sản rồi xem Quảng Độ và tập thể tăng ni Ấn Quang, Vạn Hạnh sẽ bị bắt và tiêu diệt ra sao?

Đảng Cộng sản thường xử dụng cán bộ cò mồi ra vẻ chống đảng và phê bình đảng Cộng sản, để lôi cuốn những đảng viên khác nói theo và chống theo. Những đảng viên mắc mưu cò mồi lên tiếng hùa theo chửi đảng hay phê đảng đều bị bắt giết, thủ tiêu vì tội phản đảng. Cộng sản gọi đó là thanh lọc đội ngũ cán bộ đảng viên.

Thanh trừng nội bộ là truyền thống đặc biệt của Cộng sản. Khi Cộng sản ngả theo Liên Xô thì cán bộ loại thân Trung Cộng bị gạt sang một bên, hoặc giết hoặc cho về hưu. Khi đảng Cộng sản manh nha theo Mỹ thì chính đảng Cộng sản tung cò mồi để bắt giết những cán bộ đảng viên tỏ vẻ thân Mỹ và nhìn đâu cũng thấy CIA, nên sự thanh trừng đảng viên manh nha khen Mỹ hay thích Mỹ đã trở thành sự cần thiết phải có.

Biết đảng viên miền Nam bất mãn với đảng và quen lối làm giàu, thích Mỹ, nên đảng Cộng sản đã ra lệnh cho Nguyễn Hộ và Trần văn Trà lập ra “Câu Lạc Bộ những người Kháng Chiến Cũ” ở miền Nam vào những năm 1985, 1986. Kết quả có khoảng 15,000 đảng viên miền Nam loại nòng cốt, công lao nhiều, nhưng dám lên tiếng chống đối Cộng sản Bắc Kỳ, đều đã bị giết hoặc thủ tiêu.

Sau đó năm 1988, Bùi Minh Quốc, Đỗ Trung Hiếu, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Hữu Loan đã làm một chuyến đi dài từ Nam ra Bắc để làm cò mồi chống đảng. Kết quả, con đường máu của bọn cò mồi này đã đầy xác chết của khoảng 10,000 đảng viên! Từ 1977 đến 1984, tại miền Nam đã có nhiều cuộc đảo chánh “cò mồi” và đã có nhiều đảng viên loại cao cấp bị mang ra Bắc để hỏi tội, kể tội rồi thủ tiêu luôn.

Khi một người bị Cộng sản bắt tình nghi tội chống đảng hay phản đảng, thì không phải chỉ có một người bị giết. Nhà cửa họ bị tịch thu và vợ con bị đuổi ra ngoài đường. Họ sẽ bị tra tấn đến mức phải khai những người khác, người thân, bạn bè, họ hàng. Và những người này cũng bị bắt, gia đình họ phải tan nát. Và cứ tiếp tục như thế. Thành thử khi một người bị bắt thì có thể xảy ra bị bắt dây chuyền với hàng ngàn người bị bắt theo và hàng ngàn gia đình, con cái, trẻ nhỏ đều bị giam tù hay giết chết trong sự âm thầm, vô danh. Không bao giờ có tin tức nào lọt ra ngoài.

Nếu hiểu thế nào là Cộng sản công an trị với hàng ngàn trại tù và hàng triệu tù nhân, không bao giờ được xử án, hay thời hạn bị giam tù, thì ta hiểu ngay những tên sư quốc doanh và cán bộ được nhà nước Cộng sản tung ra hải ngoại, với tiếng tăm bị xử án, bị tù mà không ở tù, bị xử tử hình mà không chết, gia đình vợ con được Nhà Nước Cộng sản cho đi Mỹ để tiếp tục viết lách, hoạt động, tuyên truyền khéo cho chế độ Cộng sản… đều chỉ là những nhân vật trong một màn kịch nhân quyền bịp bợm do chính Cộng sản dựng lên.

Cộng sản tung cò mồi ra hải ngoại với mục đích xóa sự căm thù Cộng sản, dò tìm và vô hiệu hóa các âm mưu kế hoạch hoặc cá nhân chống Cộng được người Mỹ ủng hộ, lái hướng chống Cộng và ý chí tiêu diệt Cộng sản sang hướng hòa giải hòa hợp bất bạo động, hô hào “xin” Cộng sản ban cho nhân quyền, dân chủ… Chúng bắt tay với bọn chó săn hải ngoại do kháng chiến mafia làm hậu thuẫn với sự công khai hóa bắt tay với Cộng sản dưới chiêu bài liên kết, nối kết “trong ngoài”. Gần đây nhất, bọn cò mồi luôn luôn hô hào rằng “Cộng sản phải giải thể” và “tranh đấu nhân quyền, dân chủ cho Việt Nam”.

Bọn cò mồi đã lộ mặt bịp bợm một cách ngu dốt, nhà quê khi mọi người Việt hải ngoại đều nhìn thấy rõ ràng rằng không ai có thể bắt đảng Cộng sản phải giải thể. Và nếu có nhân quyền dân chủ thì cũng chỉ là nhân quyền dân chủ theo kiểu Cộng sản công an trị. Mọi người đều hiểu rằng nếu Cộng sản “cho” nhân quyền, dân chủ thật sự thì Cộng sản đã tự hủy diê.t.

Từ năm 1992 cho đến 1998…, ta thấy những tên tù nhân lương tâm và nhân quyền Cộng sản được báo đảng, đài đảng, báo chùa, báo chợ hải ngoại đánh bóng, đề cao… Hầu hết các báo chùa, báo chợ, báo đảng, đài đảng, kể cả đài Á Châu Tự Do với các nhân vật “không quốc gia” như Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại, Nguyễn Khanh, Đinh Quang Anh Thái…, đều không có một tiếng nói chống Cô.ng. Tất cả chỉ xoay quanh vấn đề phỏng vấn và đăng bài những tên có mồi nhân quyền dân chủ, và đồng thời mặc nhiên công nhận sự hiện hữu của chế độ và đảng Cộng sản. Ta cũng thấy rằng năm 1998, cán bộ Cộng sản hải ngoại được chỉ thị cố gắng công khai với người hải ngoa.i. Vũ Bình Nghi ở San José đã công khai phỏng vấn tổng lãnh sự Cộng sản Nguyễn Xuân Phong, cũng nằm trong mục đích làm cho nổi bật sự hiện diện của chính quyền Cộng sản. Hoàng Cơ Định, lãnh tụ Mặt Trận kháng chiến (nhưng chỉ bán phở) Hoàng Cơ Minh cũng lên tiếng bênh vực Vũ Bình Nghi.

Người Việt hải ngoại đã lạnh lùng thờ ơ vì tự nhiên trong thâm tâm họ, chẳng ai có cảm tình và tin được một lũ cán bộ Cộng sản và những tên đón gió trở cờ rất ngu ngốc, nhà quê, mà lại cứ lên mặt ta đây trí thức, khoe bằng cấp và muốn làm lãnh tụ! Những tên Cộng sản ra hải ngoại đóng kịch đòi nhân quyền dân chủ vào giờ thứ 25 thì làm sao cứu được chế độ Cộng sản?

Người Mỹ tỏ vẻ ủng hộ, hỗ trợ cho bọn cò mồi Cộng sản này. Chắc chắn người Mỹ phải biết chúng là Cộng sản và hoạt động cho Cộng sản. Nhưng tại sao người Mỹ lại để yên cho chúng hoạt đô.ng? Tại sao người Mỹ tỏ vẻ lơ là với công cuộc chống Cô.ng? Tại sao lại chỉ có những tố chức chống Cộng “ma”, kháng chiến “ma”, chính phủ “ma” để cho Cộng sản yên tâm rằng hải ngoại không có bất cứ hoạt động chống Cộng sản hữu hiệu nào? Nếu tìm hiểu sâu xa, ta thấy rằng một vài cá nhân hay tổ chức, thân cộng hay chống Cộng, dù có vỗ ngực xưng danh cũng chẳng làm nên trò trống gì. Chống Cộng và tiêu diệt Cộng sản là một vấn đề chiến lược quốc gia và siêu quốc gia, quân sự và siêu quân sự. Hầu hết các chiến lược gia trên thế giới đều không nghĩ ra hay đoán ra cái thế chiến lược bí hiểm này!

* * *

13. Sửa soạn thành lập chế độ “Phật Giáo Công An Trị” để thay thế đảng Cộng sản.

Một phương án khác là sửa soạn cho GHPGVNTN thay thế đảng Cộng sản và dùng lý thuyết Phật giáo thay thế lý thuyết Cộng sản. Kế hoạch này sẽ cứu sống nhân sự Cộng sản. Nếu tồn tại, những nhân sự Cộng sản này sẽ hoạt động đánh phá các chính quyền quốc gia cho đến khi cướp lại được chính quyền. Trong trường hợp người Mỹ ủng hộ GHPGVNTN làm đối lập chính trị với Cộng sản theo kiểu dân chủ đa nguyên trong diễn biến hòa bình, thì GHPGVNTN và nhân sự lãnh đạo Cộng sản vẫn nắm chính quyền, chỉ thay thế cái tên Cộng sản.

GHPGVNTN vẫn gắn bó với Cộng sản như một tổ chức ngoại vi hàng đầu từ mấy chục năm qua, thì làm sao mà người Mỹ hay người ngoài có thể tin? Lại còn cái tên “quốc doanh” do nhân dân Việt đặt tên từ năm 1975, thì làm sao xóa bỏ?

Từ năm 1992, Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang và tổng bí thư GHPGVNTN Thích Quảng Độ ký tên và Cục Phản Gián gửi nhiều bản điện thư tranh đấu ra hải ngoa.i. Tiền gởi hàng chục ngàn trang giấy điện thư đi khắp báo chí, đài phát thanh trên thế giới từ năm 1990, có thể đã tốn hàng triệu đôla. Ta có thể hiểu ngay là chỉ có Tổng Cục Phản Gián mới có thể đài thọ chiến dịch “điện thư” tranh đấu cuội này.

Trong khi đó thì Huyền Quang vẫn nói rằng bị “quản chế” tại chùa, với công an vây bọc 3 vòng trong ngoài! Hỏi ra thì “ngài” Tăng thống quốc doanh Thích Huyền Quang của GHPGVNTN làm Ủy viên Chủ tịch, Chủ tịch đoàn Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc kiêm đại biểu Quốc Hội Cộng sản, kiêm Ủy viên Trung Ương Đảng… vẫn ở trong chùa Hội Phước lộng lẫy nguy nga nhất tỉnh Quảng Ngãi. “Ngài” Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang được cả một đại đội công an bảo vệ rất kỹ càng, vòng trong vòng ngoài, đi đâu có xe ô tô đưa đón, chứ không có bao vây gì ráo!

Sau loạt bài Hoa Sen Đỏ lột trần mặt nạ sư quốc doanh, Thích Huyền Quang từ bỏ Tăng Thống mà dùng chữ xử lý thường vụ Viện Tăng Thống (ma). Danh từ Tăng thống cũng khó dịch sang tiếng Anh trong các bản văn phát ra hải ngoa.i. Nếu dịch là Monk President thì nghe nó kệch cỡm, đầy vẻ cao ngạo, ngu xuẩn. Làm sư thì làm sư, chứ sao lại là “Tổng Thống Sư”? Người nghe có thể mỉa mai là “Monkey President”! Huyền Quang cũng đóng kịch bị quản chế ở chùa khác. Thật ra thì mỗi khi có khách nước ngoài đến thăm, như trường hợp Phó Tham Vụ tòa đại sứ Mỹ David Young đến phỏng vấn đầu tháng 12/1999, thì Huyền Quang tạm ra ngoài ở một cái chùa nhỏ hơn với công an bảo vệ, để tiện tiếp khách.

Trong bản kiến nghị 9 điểm đề ngày 25/6/1992, Thích Huyền Quang đã vong bản phản bội tổ tiên Hồng Lạc tới mức khoe rằng 80% dân chúng cả nước hay là 56 triệu người (1992) kể cả đàn bà và trẻ con mới đẻ đều là phật tử, con Phật, ngụ ý gần hết cả nước Việt Nam là “con dân” của GHPGVNTN. Thích Huyền Quang cũng vong bản khi khoe rằng GHPGVNTN của y có công “mở nước, dựng nước” trong hai ngàn năm qua! Năm 1997, Thích Giác Lượng còn khoe rằng 90% dân chúng Việt Nam (72 triệu người) là Phật tử!

Phải chăng Thích Huyền Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN đã vong bản tới mức quên rằng dân tộc Việt Nam là con Hồng, cháu Lạc và tổ tiên người Việt từ đời Hồng Bàng đã mở nước, dựng nước từ 5 ngàn năm trước? GHPGVNTN mới thành lập tại chùa Xá Lợi ngày 1/1/1964, mà bọn tăng ni Cộng sản dám vong bản hỗn láo với tổ tiên rằng chúng đã mở nước dựng nước từ hai ngàn năm trước! Chúng nhập nhằng nói rằng chúng “là” Phật giáo trong khi chúng chỉ là một giáo hội “giả” Phật giáo với cán bộ Cộng sản giả làm tăng ni!

Huyền Quang và Quảng Độ cùng rêu rao là Nhà Nước đã giải tán GHPGVNTN và bắt buộc phải cải tạo thành Giáo hội Nhà nước tức là giáo hội quốc doanh. Thật ra thì GHPGVNTN vẫn nguyên vẹn là một công cụ ngoại vi của Cộng sản, với quy chế họp đại hội 5 năm 1 lần ngang bằng với đảng Cộng sản và Mặt Trận Tố Quốc, không bao giờ thay đổi.

Năm 1995, khi Hoa Kỳ công bố thiết lập bang giao với Hà Nội, bọn sư quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và hải ngoại thấy Cộng sản có vẻ tồn tại vĩnh viễn, chắc chắn hơn thời điểm năm 1991 và 1992. GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ thấy không cần phải chia đôi, cách ly với nửa bên trong nước và chúng gọi là “giáo hội quốc doanh”. Chúng liền tính làm một màn “thống nhất” hai giáo hội trong và ngoài nước làm một như cũ. GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ đã họp trong 2 ngày 16 và 17/9/1995 tại chùa Việt Nam do Thích Mãn Giác làm chủ chùa, Los Angeles, California để thống nhất 5 giáo hội Phật giáo để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoa.i.

Trong Tuyên Ngôn Chung có câu: 3. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tuyệt đối không kỳ thị đối với tăng ni, phật tử nào. Giáo hội luôn luôn thân ái, đoàn kết với tất cả tăng ni, phật tử như nước với sữa, như ánh sáng với không gian, cùng nhau chung góp tài lực xây dựng và phát triển Phật giáo khắp nơi tại hải ngoại cũng như tại quê nhà.

Và thư gởi Chư Tôn Đức lãnh đạo Phật giáo Việt Nam quê nhà.

Chúng tôi “nguyên” là các thành viên trong Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam, đã cùng nhau họp mặt thân mật vào các ngày 16 và 17 tháng 9, 1995, tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ, xin kính lời về chấn an chư tôn đức.

Kính thưa Chư Tôn Đức,

Chúng tôi họp mặt nơi đây để cùng nhau nghiêm túc trao đổi các tin tức và suy nghĩ về hiện tình con đường đi tới của Phật Giáo Việt Nam…

Kính thưa Chư Tôn Đức,

Để có được một nền Phật Giáo Việt Nam vững mạnh thì con đường đi tới chỉ có thể là con đường hợp nhất cùng nhau xây dựng một Giáo hội thực sự của Phật giáo…

Nay kính

Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Hòa Thượng Thích Huyền Vi, Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Hòa Thượng Thích Thuyền Ấn, Hòa Thượng Thích Hộ Giác…

Thế là sau 3 năm phân biệt rằng giáo hội PGVNTN trong nước là quốc doanh, còn GHPGVNTN hải ngoại không phải là quốc doanh, đã được chấm dứt bằng sự hợp nhất, liên kết trong ngoài trở lại như cũ. Các Hòa thượng cũng tự xác nhận rằng mình “nguyên” cựu thành viên trong hội đồng Viện Hóa Đạo trước 1975, hay là trước khi sang Mỹ để trà trộn với người tị nạn Cộng sản và tiếp tục hoạt động quốc doanh.

Trong tất cả mọi tuyên ngôn, tuyên cáo, thông bạch, kiến nghị, tâm thư của tăng ni GHPGVNTN từ năm 1992 đến 1999…, “không bao giờ” có lập trường chống Cộng hoặc kể lể tội ác Cộng sản.

* * *

14. Thành lập Phong Trào, Mặt Trận, Mạng Lưới cò mồi.

Một phương án khác nữa là thành lập rất nhiều loại Mặt Trận, Liên Minh, Phong Trào, Mạng lưới Nhân Quyền, Kháng Chiến Phục Quốc ma, chính phủ (Việt Nam Tự Do) ma, Liên Quân Kháng Chiến Đông Dương ma, hoàn toàn hữu danh vô thực, không có lực lượng cụ thể. Nhưng loại tổ chức ma này có dụng ý “cò mồi” để gom những người có thực tâm kháng chiến, chống Cộng, những người có tâm huyết vì nước vì dân, kể cả những người ham danh lợi, vào trong vòng kiềm tỏa, kiểm soát và chi phối của chúng.

Về phương diện này, Cộng sản đã thành công một phần nào trong thời gian đầu. Sau này, những danh từ “kháng chiến chống Cộng”, “phục quốc”, “chính phủ ma quốc gia lưu vong” đã trở thành đồng nghĩa với kháng chiến phở bò, phở tái, Mafia, giết người, ăn cướp, bịp bợm, lừa gạt, buôn lậu, buôn bán súng lậu, buôn bán ma túy và băng đảng, ám sát, khủng bố… Những tên cầm đầu, giật dây các tổ chức chính trị, kháng chiến, quốc doanh này đều là cán bộ quốc doanh hoạt động cò mồi cho Cộng sản!

Với chiêu bài kháng chiến và lợi dụng tinh thần hăng say chống Cộng của đồng bào hải ngoại vào những năm đầu thập niên 1980s, bọn kháng chiến ma đã thu được mấy chục triệu đôla của đồng bào hải ngoa.i. Với số “vốn” này, bọn kháng chiến ma đã mau chóng trở thành tổ chức Mafia khổng lồ như đã nêu trên.Những phương án khác do Cục Phản Gián thi hành là tung ra hải ngoại bằng điện thư những bản văn gọi là phê đảng sai lầm, đòi Đảng phải thay đổi, phải cởi mở, phải đổi mới, dân chủ… và ký tên các cán bộ Cộng sản cấp cao, trung kiên và hưu trí như Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bảy Liếm, Lữ Phương, Hoàng Tiến, Hoàng Hữu Nhân, Nguyễn Thanh Giang, Phan Đình Diệu… Lý lịch bọn cán bộ này và ban lãnh đạo GHPGVNTN Ấn Quang đều là cấp cao trong ngành công an, phản gián.Một điều rõ rệt là các bản văn dài đặc đã được gởi bằng điện thư (fax) ra hải ngoại rất tốn tiền, có thể đã đến hàng triệu đôla trong thời gian từ 1990 đến 1998. Người tù hay đảng viên Cộng sản nào mà được phép và có tiền gởi bằng điện thư nhiều như vậy? Cũng phải ghi nhận là báo Người Việt ở quận Cam, California, do Đỗ ngọc Yến làm chủ, đã luôn luôn đăng tải đầu tiên những bản văn cò mồi bịp bợm của Cộng sản từ trong nước gởi ra bằng điện thư, không thiếu một chữ hay một dấu chấm, phẩy. Các báo Thế Kỷ 21 và Văn Hóa cũng cùng một luận điệu với báo Người Viê.t.Việt Báo Kinh Tế của Trần Dạ Từ và Nhã Ca thì đặc biệt đăng tải những bản văn của tăng ni quốc doanh Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ và những bài viết bịa đặt do Phòng Thông Tin Phật Giáo của Võ văn Ái ở Paris tung ra.Đài phát thanh VNCR do Lê Đình Điểu làm chủ ở quận Cam và đài Á Châu Tự Do do Nguyễn Ngọc Bích làm giám đốc phần Việt ngữ với những phóng viên “quen thuộc” như Ngô Vương Toại, Nguyễn Khanh, Đinh Quang Anh Thái, phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế của Võ văn Ái tại Ba Lê đã tích cực đến mức trung thành là luôn luôn phỏng vấn và phát thanh những bài viết, bài nói do các cán bộ Cộng sản và tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang từ trong nước đưa ra. (Lê Đình Điểu đã chết vì ung thư năm 1999.)

http://www.chinhnghia.com/conduongdao5.htm

May 29, 2009 Posted by | CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | | Leave a comment

Tại sao việt-gian cộng-sản cần tập hợp người Việt hải ngoại (NB Việt Thường – Kỷ Nguyên 2000)

Tại sao việt-gian cộng-sản cần tập hợp người Việt hải ngoại (NB Việt Thường – Kỷ Nguyên 2000)

http://www.vimeo.com/4884576

http://www.vimeo.com/user1285161

May 28, 2009 Posted by | Tại sao việt-gian cộng-sản cần tập hợp người Việt hải ngoại (NB Việt Thường - Kỷ Nguyên 2000) | | Leave a comment

Lời cam kết của HT Quảng Độ ( Đặng Phúc Tuệ)

May 28, 2009 Posted by | Lời cam kết của HT Quảng Độ ( Đặng Phúc Tuệ) | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 13/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 13

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

Tiếng đạn nổ lớn trong sân chùa, 3 trong 7 tên rớt ngay tại chỗ nằm yên không dậy. Vừa bóp xong băng đầu tiên, chúng tôi đồng loạt lăn người sang chỗ khác. Bọn chúng bắn trả hàng loạt AK về phía chúng tôi. Chúng tôi bắn thêm loạt đạn thứ hai, bọn chúng tung lựu đạn về phía chúng tôi. Tôi la to:

– Lựu đạn.

Bốn tiếng nổ thật lớn. Sau 4 tiếng nổ, những tên còn lại ù té chạy vào bóng đêm. Tôi không cho lệnh truy kích vì sợ anh em gặp nguy hiểm, và cũng cần phải kiểm soát ngay xem anh em chúng tôi có ai bị thương, hoặc tử thương không. Cũng may chỉ có 2 người ở tổ thứ 3 bị thương ở chân và bắp vế vì bị mảnh lựu đạn, máu ra hơi nhiều. Chúng tôi cấp thời dùng băng cá nhân băng bó cho cả hai.

Hệ thống truyền tin FM1 bắt đầu đầu hoạt động:

– Tango. . . Tango, ông có sao không? Chúng tôi nghe rõ tiếng súng và 4 tiếng nổ lớn ở hướng ông.

Đó là giọng nói của Ân, rồi đến Tý, Trinh, và phó Vinh. Tôi trả lời họ:

– Chúng tôi đang chạm địch ngay trong sân chùa An Lăng, khoảng một tiểu đội Việt Cộng. Hai anh em bị thương nhẹ. Hạ được ba tên. Cho xe cứu thương và Bác Sĩ Hồ Đại Đội Phó đến ngay để lo cho hai anh em thị thương.

Tý nói:

– Nhận rõ. Tôi đưa 2 trung đội đến tiếp viện cho thẩm quyền ngay.

Trong khi chờ đợi, trung sĩ Ánh và trung sĩ Trọc thay phiên nhau giựt một số hoả châu cầm tay lên trời, ánh sáng hoả châu nhỏ soi sáng đủ cho chúng tôi nhận rõ 3 xác Việt Cộng nằm ngay sân chùa.

Để lại một tổ giữ an ninh phía ngoài, tôi cho hai tổ kia vào chùa lục soát. Không có gì trong chùa, tôi cho lệnh bắt Thích thiện Lạc tức thầy Ngoạn còng tay dẫn ra sân. Hai trung đội CSDC, Tý, Ân, Vinh, Hồ, Trinh và Đại Úy Trịnh công Hà, Quân Trấn Phó, chỉ huy 2 chiếc Commando Car của Quân Trấn Huế cũng đã vừa đến tiếp viện cho tôi. Hà là em ruột của nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn. Hai chúng tôi là bạn học thân tình từ thuở nhỏ, và tôi cũng là sư huynh của hắn trong Judo Club Huế, hắn đai nâu, tôi đai đen. Ra đời hai thằng cùng ở lính. Hắn về Quân Trấn, tôi biệt phái Cảnh Sát. Cả hai cùng một nhiệm vụ giữ gìn an ninh thành phố Huế. Ban đêm đang đi tuần tiễu vòng đai thành phố, nghe tôi đụng giặc, hắn đi cứu. Gặp tôi hắn hỏi:

– Liên Thành, có hề hấn gì không?

– Việt Cộng nghe xe tăng của ông đến, chạy hết rồi, có gì thì đã nằm ngay đơ rồi, đâu còn nói chuyện được với ông.

Cả hai đứa cùng cười. Bây giờ thì hắn định cư tại Sacramento.

Tý rải 2 trung đội CSDC bố trí quanh chùa. Hai Commando car của Đại úy Hà đậu ngay cổng. Mọi người đều đổ dồn đến 3 xác Việt Cộng nằm giữa sân chùa. Tôi nói Đại úy Vinh Chỉ huy phó:

– Vinh, anh liên lạc với cuộc Cảnh sát xã Thủy An và ông xã trưởng đến ngay để lập biên bản. Sau đó anh giao cho xã chôn cất họ cho đàng hoàng, dù sao thì họ cũng đã chết rồi. [Tôi còn nhớ ông xã Trưởng Thủy An là Nguyễn Mạnh. Sau vụ này khoảng 8 tháng sau, ông ta bị Việt Cộng ám sát chết ngay tại cổng nhà của ông ta. Thật tội nghiệp]

Trời sáng dần, cơn mưa nhẹ vẫn chưa dứt và gió thật lạnh. Tôi không đạo đức giả, nhưng nhìn ba xác chết trong lòng chợt buồn, nhưng chợt nghĩ, trước đây vài giờ, nếu mình trúng đạn của họ thì giờ đây mình cũng đã nằm bất động đi vào cõi thiên thu như ba người này. Thôi thì… coi như một lời an ủi cho chính mình, may ra có vơi nhẹ đi nỗi buồn và một thoáng hối hận chợt đến, khi nhìn ba hình hài nằm dài giữa những vũng máu. Trong cảnh máu nhuộm sân chùa vào buổi sáng tinh mơ của những ngày mùa đông xứ Huế, cơn gió lạnh thoảng qua, có chút mùi tanh của máu nguời, tôi nói nhỏ một mình trong nỗi buồn… “cuộc chiến này quả thật tàn bạo?”

Dân chúng làng An Lăng và Phủ Cam kéo đến xem mỗi lúc mỗi đông, trời đã sáng hẳn. Bất chợt tôi nghe Đại Úy Ân hỏi Thích Thiện Lạc:

– Ông biết ba người này không?

– Tôi biết người nằm giữa là Ông Đối, Nguyễn Đối.

– Còn hai người kia?

– Tôi không rõ.

Ân kề tai tôi nói nhỏ:

– Thiếu Tá Nguyễn Đối bí danh Thanh Bình.

Tôi gật đầu. Chúng tôi rời khỏi chùa vào hồi 7 giờ sáng. Ngày hôm sau không có cuộc biểu tình nào xảy ra để “đả đảo Đại Úy Liên Thành đàn áp Phật Giáo, vô cớ bắt bớ tăng ni”.

Nhưng tôi lại gặp một cuộc biểu tình phản đối, mà muôn đời không bao giờ dẹp được, đó là Mẹ tôi. Bà là một người mộ đạo, là đệ tử của Thầy Ngoạn. Ngày rằm bà đi chùa của Thầy, anh chị em tôi bà đều đem quy y vào chùa Thầy Ngoạn và ông là người đứng làm lễ quy y cho chúng tôi. Anh chị em tôi và ngay cả tôi đều có Pháp danh do Thầy Ngoạn đặt cho, mẹ tôi nghe tôi bắt thầy Ngoạn bà hốt hoảng nhắn với anh tôi:

– ”Nói hắn thả Thầy ra. Đời thủa nhà ai hắn lại đi bắt Thầy đã làm lễ quy y và đặt Pháp danh cho hắn.Thằng con bất hiếu.” Mẹ tôi cũng như hằng trăm ngàn Phật tử ở Huế, họ đối với quý Thầy một lòng tôn kính, điều thầy nói, việc Thầy làm tất cả đều đúng, tuyệt đối phải nghe lời Thầy dạy. Tôi bắt những tên Việt Cộng đội lốt thầy tu, thầy tu hoạt động cho Việt Cộng. Thầy Ngoạn hoạt động cho Việt Cộng, chứ đâu bắt Thầy Ngoạn đạo đức tu hành như Mẹ tôi và hằng trăm ngàn Phật Tử ở Huế vẫn lầm tưởng.

Đối với Mẹ, tôi là thằng con bất hiếu. Đối với hằng trăm ngàn Phật Tử ở Huế tôi là thằng phản đạo, ”nỗi oan này biết ngỏ cùng ai, thôi đành… kiếp làm thân chịu”.

Sau 30/4/1975 những con quỷ đỏ đó, cởi bỏ áo cà sa, hiện nguyên hình một bầy quỷ dữ, thẳng tay đàn áp, tiêu diệt Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đến nay đã hơn 32 năm vẫn còn tiếp tục.

Từ Huế, nơi xa xôi vạn dặm, nơi ngàn trùng xa cách, ở đây tôi nghe được tiếng vọng những lời hối hận:

– “Tội nghiệp ông Liên Thành. Ngày trước mình chửi ông ta là tên phản đạo. Bây giờ mới thấy có trật ai đâu, bọn chúng đã lộ mặt là Cộng Sản nằm vùng trong Phật giáo. Thật không ngờ”.

Vâng, thật không ngờ. Mà quả tình quý Thầy và đồng bào Phật Tử chân chính làm sao ngờ được. Bọn chúng là loại quỷ dữ tu luyện ngàn năm, đã hoá thành tinh, biến thành kiếp người, chỉ có những thầy Pháp cao tay, họa may mới có thể khám phá và trừ khử được bọn chúng, nhưng vận nước và Pháp nạn đã đến, có hối hận cũng bằng không.

Trở lại trường hợp của Thầy Ngoạn. Một tuần sau, hồ sơ thiết lập xong, và chuyển sang Hội Đồng An Ninh Tỉnh. Đại Tá Lê Văn Thân, Tỉnh Trưởng né tránh, vì sợ đụng chạm đến Phật Giáo, ông đi thanh tra quận. Tôi chức vụ Tổng Thư Ký hội Đồng An Ninh Tỉnh, Đại tá Tỉnh Trưởng chỉ thị tôi thay ông, ngồi nghế Chủ tịch Hội Đồng An Ninh Tỉnh. Trưởng Ty Nội An Tỉnh, Trưởng Ty An Ninh Quân Đội, Trưởng Phòng Hai Tiểu Khu, Trưởng Ty Chiêu Hồi, họ là hội viên.

Trưởng Ty Nội An và Chiêu Hồi đề nghị: ”Sáu tháng tù ở cho Thầy Ngoạn và không tái xét.”

Ty An ninh Quân Đội và Phòng II Tiểu Khu: ” Một năm tù ở không tái xét”

Tôi là người quyết định cuối cùng: ” Hai năm, không tái xét, đưa đi Côn Sơn”.

Ông Trưởng Ty Nội An một công chức lớn tuổi phản đối:

– Quá nặng, “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, hai năm quá nặng xin hội đồng xét lại.

Tôi lý luận với ông Trưởng Ty Nội An:

– Thưa ông Trưởng Ty, tôi biết ông là một Phật Tử, thờ Phật, kính Thầy, và tôi cũng là một Phật Tử. Nhưng trường hợp ông thầy Ngoạn này xin ông hiểu cho, ông ta không phải là kẻ tu hành, mà là cơ sở của ban An Ninh Thành Ủy Việt Cộng. Ông ta và đám Đặc công Thành do Thiếu tá Việt Cộng Thanh Bình chỉ huy, định dùng Chùa An Lăng của ông ta làm nơi xuất phát tấn công trụ sở xã Thủy Phước vào đêm Giáng Sinh. Nếu lực Lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế không phát giác kịp thời, ngăn chặn và phá vỡ âm mưu của bọn chúng, có lẽ một số cán bộ xã Thủy Phước và đồng bào đi dự lễ Giáng Sinh đã bị bọn chúng sát hại. Vì thế hai năm là quá nhẹ.

Thiếu Tá Truật, Trưởng Ty An Ninh Quân Đội, và Đại úy đại diện phòng II Tiểu Khu, nghe tôi lý luận với ông Trưởng Ty Nội An xong cũng đồng ý 2 năm. Mọi người đều ký vào biên bản.

Ba tuần sau, chúng tôi nhận được báo caó từ tình báo viên xâm nhập gởi về xác nhận: ‘Thiếu Tá Nguyễn Đối tự Thanh Bình thuộc Ban An Ninh Thành Ủy Huế và 2 đặc công đã tử trận vì bị phục kích tại chùa An Lăng’.

Lần này Lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế đã kịp thời ngăn chặn cuộc đột kích của Việt Cộng vào Xã Thủy Phước trong làng Phủ Cam vào ngày lễ Giáng Sinh 24/12/1970.

Tôi trở lại tiếp tục lời khai của Hoàng Kim Loan:

– Thích Chơn Thông

Ngôi chùa nhỏ Thiên Ấn tại đường Duy Tân thuộc Quận III thành phố Huế và hầm bí mật dưới chuồng nuôi heo của Chùa. Ngôi chùa nhỏ này là một trạm giao liên bản lề, rất quan trọng của cơ quan thành ủy Huế. Nơi đây là trạm tiền phương, chuyển vận cán bộ nội thành ra vào hoạt động trong thành phố, là trạm giao liên chuyển nhận mọi tin tức quan trọng và khẩn cấp từ nội thành lên khu và ngược lại.

Trạm giao liên này đã được Hoàng Kim Loan thiết lập từ năm 1964, và chính y cũng đã từng trú ngụ nhiều lần tại ngôi chùa này, trước thời gian xảy ra vụ tấn công Huế vào năm Mậu Thân 1968. Trụ trì ngôi chùa nhỏ này là Thích Chơn Thông cơ sở nội thành và được y kết nạp vào đảng từ năm 1961. Đây là ngôi chùa độc nhất trong Quận III thành phố Huế, nằm ngay trên đường Duy Tân, cạnh chợ An Cựu và cách quận đường quận III chưa đầy 300 mét.

Tôi còn nhớ trước tháng 3/1971, tôi nhận được bản tin từ cơ sở nội tuyến gởi về báo cho biết một toán đặc công thành, gồm 2 nam và 1 nữ, sẽ đột nhập vào thành phố và sẽ trú trong một hầm bí mật tại ngôi chùa trên. Vũ khí sẽ được chuyển vào cho toán đặc công này là 2 súng AK báng xếp, 1 B40, một số chất nổ và đạn dược. Nhiệm vụ của toán đặc công này là bất thần tấn công quận đường quận III. Ngày giờ tấn công nguồn tin không xác nhận được vì sẽ do trưởng toán Đặc công quyết định. Kèm theo bản tin là sơ đồ vị trí hầm bí mật tại ngôi chùa trên. Ngày 12/3/1971 nguồn tin xác nhận toán đặc công đã có mặt tại chùa, và bọn chúng đang điều nghiên, quan sát vị trí quận đường Quạân III. Ngay lúc đầu, tôi có ý định đặt một toán theo dõi để khám phá thêm số cơ sở nội thành, mà bọn đặc công này sẽ tiếp xúc để thu lượm tin tức bổ túc cho kế hoạch tấn công quận III của bọn chúng, nhưng nghĩ lại, mình đang dự định chơi một trò chơi nguy hiểm vì: – Ngày giờ tấn công của bọn đặc công mình không nắm vững, nếu bọn chúng ra tay sớm, sẽ có nhiều mạng sống của nhân viên chính quyền và dân chúng bị hy sinh.

Tôi quyết định ra tay trước bọn chúng, ngăn chặn cuộc tấn công của bọn Đặc công Cộng Sản nhắm vào Quận III thị xã Huế. 15giờ 30 chiều ngày 14/3/1971, hai trung đội CSDC do Đại úy Trần Văn Tý chỉ huy, 20 CSĐB do Đại úy Trương Công Ân chỉ huy, tôi chỉ huy tổng quát đổ quân bao vây chùa.

Dân chúng khu phố An Cựu, đường Duy Tân, đường Nguyễn Huệ, Chợ Cống, Cầu số 7, và ngay trong chợ An Cựu thấy chúng tôi đỗ quân vây chùa ùn ùn kéo đến mỗi lúc mỗi đông. Họ tụ tập bên này lề đường nhìn sang Chùa, và bắt đầu có tiếng chửi rủa la ó: ”đả đảo Liên Thành, đả đảo Cảnh Sát đàn áp Phật Giáo, bắt bớ tăng ni”. Đã lâu lắm rồi, từ bao năm nay, cá nhân tôi và anh em thường bị chửi như vậy. Chúng tôi cũng đã quen tai nên chỉ cười với nhau và cũng chẳng phiền hà gì chuyện đó.

Ngôi chùa nằm sát lề đường Duy Tân, tôi đứng bên này lề đường nói thật lớn với đám đông dân chúng tụ tập bên kia đường:

– Tôi, Đại úy Liên Thành, Trưởng ty Cảnh sát, yêu cầu đồng bào đừng sang phía bên này, nhân viên công lực chúng tôi đang hành sự. Chúng tôi đang bao vây 1 toán Việt Cộng hiện đang trú ẩn trong chùa.

Một tên đầu trâu mặt ngựa đứng truớc đám đông la to:

– Đồng bào đừng tin hắn, hắn nói láo đó. Hắn vây chùa bắt quí thầy, yêu cầu đồng bào tràn vào chùa giải thoát quí thầy.

Đã đến lúc phải làm mạnh với tên này, tôi bước xuống đường, đi về phía hắn. Tôi dí sát mủi súng M18 vào vế hắn:

– Anh đứng yên tại chỗ. Chỉ cần anh bước nửa bước xuống đường, tôi sẽ bắn gãy chân anh ngay, anh nghe rõ chưa?

Mặt hắn tái xanh, lủi vào đám đông mất dạng.

Tôi trở lại cổng chùa ngay lề đường đợi Tý bố trí lực lượng bao vây, và gọi máy yêu cầu Chỉ huy trưởng CSQG/Quận 3, Trung úy Phạm Cần chỉ huy một đơn vị Cảnh sát sắc phục đến giữ an ninh, ngăn chặn không để đồng bào tụ tập trước cổng Chùa.

Hai trung đội CSDC đã bao vây kín ngôi chùa nhỏ, và Đại úy Ân cũng đã mời hết mọi người trong chùa ra ra ngoài sân kể cả Thích Chơn Thông, vì sợ họ có thể bị nguy hiểm khi chúng tôi giao tranh với đám đặc công Việt Cộng.

Theo họa đồ mà chúng tôi có trong tay, thì vị trí hầm bí mật là chuồng nuôi heo của Chùa, nối liền với khu nhà bếp. Miệng hầm bí mật nằm về phía tay phải của chuồng heo, và lỗ thông hơi là một ống sắt được ngụy trang khéo léo từ ngoài gốc bụi chuối phía sau, sát với chuồng heo vào tận bên trong hầm. Hai yếu tố quan trọng để tránh thiệt hại nhân mạng khi khui hầm bí mật Việt Cộng là phải biết rõ vị trí miệng hầm và lỗ thông hơi, vì bọn Việt Cộng thường dùng hai vị trí này để bắn lên.

Một tiểu đội CSDC và CSĐB đã bố trí gần chuồng heo của chùa đang đợi tôi, Ân và Tý. Tôi nói Tý vị trí này quá chật, chỉ cần tôi, Tý, và ba nhân viên là đủ. Chuồng heo được xây một bức tuờng chung quanh chỉ cao quá đầu gối, không có cửa, đó là trở ngại chính vì trong chuồn có hai chú heo nhỏ, phải hai CSDC lựa thế mới đem được hai chú heo ra khỏi chuồng.

Chúng tôi tìm ra nắp hầm bí mật không mấy khó khăn, chỉ cần dồn phân heo và rơm rạ từ phía phải trong chuồng sang một bên là đã thấy ngay. Tiếng súng AK bắt đầu nổ dòn khi chúng tôi cậy tung nắp hầm, ba loạt AK từ dưới hầm bắn lên, chúng tôi không bắn trả vì muốn bắt sống ba tên đặc công này, nhưng nếu có bắn trả cũng chẳng thấy bọn chúng ở đâu mà bắn vì dưới hầm quá tối. Tôi la to:

– Tý, thẩy lựu đạn cay xuống hầm.

Đại úy Tý và hai CSDC nhanh nhẹn gởi xuống hầm tặng bọn đặc công 6 trái lựu cay, khói cay toả lên miệng hầm mù mịt, có tiếng ho sặc sụa của bọn chúng. Tôi nói lớn:

– Các anh đầu hàng đi, tôi cho 5 phút để đầu hàng, bằng không tôi sẽ thẩy lựu đạn nổ mạnh xuống hầm.

Có tiếng ho, và tiếng đàn bà la lớn dưới hầm:

– Chúng tôi đầu hàng… Chúng tôi đầu hàng… Cho chúng tôi lên, đừng liệng lựu đạn xuống.

– Có bao nhiêu người dưới hầm?

– Chúng tôi có ba người.

– Liệng súng lên miệng hầm truớc, người lên sau. Tuần tự từng người một, hai tay đưa lên khỏi đầu. Nếu có vũ khí cầm tay sẽ bị bắn hạ ngay.

Tiếng nói dưới hầm vọng lên:

– Chúng tôi nghe rõ.

– Bây giờ bắt đầu, liệng vũ khí lên đi.

Hai súng AK 47 và một súng B41 từ dưới hầm chuyển lên. Sau đó từng người một đưa hai tay cao quá đầu chui từ hầm bí mật trồi lên. Người đầu tiên là một phụ nữ khoảng trên hai mươi tuổi, và sau đó là hai người đàn ông chưa đầy ba mươi tuổi. Cả ba người vừa lên khỏi hầm bí mật đã ngồi qụy xuống ngay nền chuồng heo đầy phân heo, thở dồn dập. Có lẽ chỉ cần chậm thêm vài phút họ đã ngất xỉu, vì hơi cay và thiếu dưỡng khí trong hầm bí mật. Ba nhân viên CSĐB đã còng tay họ xong, Đaị úy Ân hỏi họ:

– Đạn B41 và chất nổ để ở đâu?

– Còn dưới hầm.

Ân định cho một toán xuống lục soát hầm lấy đạn B41 và chất nổ lên. Tôi cản lại:

– Khoan đã Ân. Coi chừng bọn chúng gài chất nổ chậm dưới hầm. Đem họ đi. Tất cả anh em rời khỏi đây ra ngoài sân chùa ngay. Coi chừng hầm nổ tung bây giờ, một hai giờ sau xuống lục soát chưa muộn.

Chúng tôi rời chuồng heo dẫn họ ra sân chùa. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát kỹ ba tên đặc công: Người đàn bà, nữ đặc công là một thiếu nữ mặt còn rất trẻ, hai người đàn ông kia cũng khoảng dưới ba mươi tuổi, tất cả mặt mày xanh xao, quần xắn cao, phân heo dính đầy người và đặc biệt từ mắt cá chân trở xuống nuớc phân heo đã nhuộm đen đôi bàn chân của họ. Phải nhìn thấy một sự thật rõ ràng, sức chịu đựng gian khổ của họ đã vượt quá mức. Mọi người có mặt hôm đó thật tình không hiểu nổi làm sao họ có thể đứng nhiều ngày dưới một hầm phân heo ngập quá mắt cá chân. Tôi hỏi người nữ đặc công:

– Chị và hai người kia ở dưới hầm bao lâu rồi?

– Ba đêm, bốn ngày. Ban đêm chúng tôi lên khỏi hầm đi quan sát và điều nghiên mục tiêu.

– Mục tiêu nào?

– Quận đường Quận III.

– Khi nào tổ của chị tấn công?

– Tối hôm nay, một giờ sáng.

– Tổ của chị thuộc đơn vị nào?

– Đơn vị Đặc công H1 cơ quan Thành ủy.

Tôi định hỏi tiếp người nữ Đặc công này thì một toán chuyên viên thâu hình của đài truyền hình Huế, một số ký giả và đài phát thanh Huế đã vào sân chùa từ hồi nào và muốn phỏng vấn tôi. Tôi từ chối khéo, vì chuyện chúng tôi làm là chuyện tình báo, chuyện kín, chuyện hở, chuyện trên trời dưới đất, làm sao nói được. Sẵn có Vinh đứng gần tôi, tôi chuyển qua cho Đại Úy Vinh:

– Tôi quá bận, xin quí vị gặp Đại úy Vinh Chỉ huy phó của tôiÔng ta sẵn sàng tiếp tất cả quí vị, ngoài ra nếu quí vị muốn thâu hình 3 Đặc công Việt Cộng, vũ khí tịch thâu được và hầm bí mật xin cứ tự nhiên.

Tôi thoát nợ. Bây giờ thì đồng bào đã tràn vào sân chùa, họ đứng xem, xầm xì, bàn tán, tôi nghe có người nói:

– Mình đã nghi oan cho Cảnh Sát. Họ vây chùa khui hầm bí mật bắt Việt Cộng, chứ đâu bắt quí thầy.

Tôi nghe rõ và trả lời với họ:

– Tôi cám ơn người nào vừa nói câu đó, cám ơn đã trả lại công bằng cho Lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế chúng tôi. Cách đây vàì giờ, khi chúng tôi đổ quân vây chùa, đồng bào đã phản đối, cho rằng chúng tôi đàn áp Phật Giáo, vây chùa bắt Tăng, Ni. Bây giờ có ai chứng minh được ba tên đang ngồi đó là Tăng, Ni. Tôi sẽ mở còng cho họ, và giao lại cho đồng bào rước ‘Tăng, Ni’, trở lại chùa?

Mọi người đều im lặng, bỗng từ trong đám đông, một người đàn bà xông ra, chỉ vào mặt ba tên Đặc công Việt cộng, với một giọng Huế nhưng thuộc Quận Hương Điền rất khó nghe:

– “Ba đứa ni mà Tăng, Ni chi, tụi hắn là Việt Cộng. Ông cha mồ tổ bây, Mậu Thân bây bắt chồng tau đem đi chôn dập chôn vùi ở mô mà nấy năm trời ni tau đi cùng vành non nước tìm xác không ra, tổ cha mụ nội bây, đồ Việt Cộng ác ôn”.

Vừa la hét, chửi bới, chị ta xông vào định hành hung tên nữ Đặc công. Một CSDC cản lại. Một CSDC đứng gần tôi, nói vớí tôi:

– Chị ta là vợ của một Cảnh Sát Quận III, bị Việt Cộng bắt đi chôn sống năm Mậu Thân, để lại cho chị 8 đứa con dại nheo nhóc. Gia đình chị ta ở gần nhà em, lâu lâu lại sang nhà em mượn gạo. Thật tội nghiệp, thường ngày chị ta hiền lắm.

Vừa nghe nói chị ta là vợ nhân viên Cảnh sát, tôi móc trong túi có được ít tiền dúi vào tay chị ta:

– Thôi được rồi, chị hả giận chưa, đi về mua gạo cho con đi. Chị chửi Việt Cộng ác ôn chỉ gãi ngứa cho tụi hắn mà thôi, lần sau có chửi thì phải chửi: “Ông cha mồ tổ thằng Hồ Chí Minh” may ra tụi hắn mới đau.”

– Thưa Ôn, em còn ức lắm. Cho em nói với ôn Chơn Thông một câu nữa rồi em về.

Miệng nói, chân bước đến ngay trước mặt Thích Chơn Thông đang bị còng tay ngồi cùng với ba tên Đặc công Việt Công:

– Lâu nay trong xóm ai cũng tưởng Ôn là người tu hành, té ra Ôn là Việt Cộng. Ôn đào hầm bí mật chứa Việt Cộng trong chùa, đồ Việt Cộng ác ôn…

Nhìn cảnh người đàn bà uất hận chửi bới Việt Cộng, tôi hiểu ngay phải đem 3 tên Đặc công và Thich Chơn Thông rời khỏi chùa càng sớm càng tốt, bằng không sẽ sinh loạn, vì khu vực này năm Mậu Thân 1968, Việt Cộng đã bắt 500 người đem đi chôn sống. 500 gia đình nạn nhân họ kéo đến thì thật đại họa. Tôi gọi Đại Úy Ân:

– Ân, đưa bọn họ về Trung Tâm Thẩm vấn,. Nhiều gia đình có thân nhân đã bị Việt Cộng chôn sống họ kéo đến thì phiền lắm.

Ân cho xe chở 3 Đặc công Việt Cộng và Thích Chơn Thông về Trung Tâm Thẩm vấn. Đại úy Tý cho một toán CSDC xuống lục soát dưới hầm bí mật, tịch thu 3 quả đạn B41, một số chất nổ cùng đạn AK47.

Đồng bào từ từ giải tán, có tiếng la to:

– Đả đảo Việt Cộng ác ôn. Hoan hô Cảnh sát. Hoan hô Đại úy Liên Thành.

Tôi cười, và cũng la to trả lời họ: “Hoan hô đồng bào!”

Từ tháng 10/1966 đến 10/1974 lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế đã khám phá hàng chục hầm bí mật tương tự như tôi vừa kể trên. Nếu viết ra cả hàng trăm trang giấy cũng vẫn chưa hết, đó là một sự thật đáng buồn. Phật Giáo tại Huế từ lâu đã bị Việt Cộng xâm nhập quá sâu, từ hạ, đến thượng tầng cơ sở, những chuyện tương tự còn quá nhiều, xin hẹn một dịp khác.

Tôi xin tạm dừng ngang đây để trở lại những sự kiện và lời khai của Trung tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan về các tổ chức khác của hắn, tại thành phố Huế. . . . . . . .

(Còn tiếp)

LỜI MINH XÁC:

Chúng tôi vừa nhận được ý kiến thắc mắc của một độc giả từ Âu Châu như sau: ” – Bên Na Uy hiện nay mới có một ngôi chùa đặt tên là “Chùa Đôn Hậu”?. Vậy những điều mà tác giả Liên Thành viết trên TS BĐQ tố cáo Thích Đôn Hậu là VC, đã cùng Thích Trí Quang chủ mưu những biến động ở miền Trung, gây ra biết bao tang tóc cho dân chúng, có đáng tin cậy không? – Nhà tu Thích Đôn Hậu phải là người đức cao vọng trọng mới được người đời dùng tên đặt cho chùa chớ…!!”

Để làm bằng chứng, vị độc giả Niên Trưởng này còn gởi kèm một phóng ảnh trang báo có đăng bản tin:

“Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng chùa Đôn Hậu – Na Uy” – Trong đó có ghi địa chỉ ngôi chùa như sau: Chùa Đôn Hậu – Sivet Thonstadv 10A – 7080 Norvège (Norway)

Tél : (0047) 07-260-2119.

Chúng tôi xin minh xác cùng quý độc giả, những điều tác giả Liên Thành viết hoàn toàn đúng sự thật. Đây là vấn đề quan trọng, có liên quan đến lịch sử và tôn giáo – Với tinh thần tôn trọng sự thật, với lương tâm của người cầm bút, TS BĐQ và tác giả Liên Thành hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều đã viết, đã đăng trên Tập San. Chúng tôi chỉ làm công việc của một chứng nhân trong giai đoạn lịch sử đó, đồng thời vạch mặt những cán bộ cộng sản đội lốt nhà tu để lợi dụng tôn giáo thôi.

Còn việc đặt tên “chùa Đôn Hậu”, chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là chuyện… bình thường của hệ thống tuyên truyền cộng sản, luôn đổi trắng thay đen. Quý độc giả hẳn đã biết người quốc gia chúng ta, coi ông Hồ Chí Minh như một tên tội đồ của dân tộc. Ông ta đã gây ra biết bao nhiêu tội ác đẫm máu dân lành, khi áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên đất nước VN, nào là cải cách ruộng đất, đánh tư sản mại bản, bắt bớ văn nghệ sĩ, đấu tố địa chủ vv… Đã giết hại biết bao nhiêu người, vậy mà vẫn có những “đệ tử” của ông ta tạc tượng sơn son, thiếp vàng, đem vào chùa đặt trước tượng Phật đấy! (Chùa Đại Nam thuộc tỉnh Bình Dương). Ai bất phục, chống đối, đả phá, thì cũng chỉ dám âm thầm chửi rủa – Còn nhóm sư, tăng quốc doanh chúng vẫn cứ xì xụp lễ bái, nhà nước khuyến khích. Mấy chục năm nay, người cộng sản cầm quyền ở VN, họ ra sức đánh phá, đàn áp các tôn giáo dưới mọi hình thức, từ cấm đoán sinh hoạt, đến việc gài người vào để lèo lái tôn giáo đó theo ý họ, hoặc quậy phá, chia rẽ nội bộ các tôn giáo – Ngoài ra họ luôn luôn nói một đường, làm một nẻo, trường hợp bắt bỏ tù Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân vừa rồi là những biểu tượng rõ ràng sự ăn ngang, nói ngược của nhà cầm quyền cộng sản, chắc quý độc giả đã rõ, không cần chúng tôi phải nhắc lại.

Dưới đây là 2 tấm hình chúng tôi trích trong website Take2Tango, quý vị có thể vào kiểm chứng

Tượng HCM đặt trong chuà Đại Nam ở Bình Dương

Công An VC đội lốt nhà sư đang chén tạc chén thù *

Chuyện “Biến Động Miền Trung” cuả tác giả Liên Thành được tam ngưng tại đây. Đọc giả muốn tìm hiểu thêm, xin click vào điạ chỉ sau:

http://bietdongquan.com/baochi/biendongmientrung/ramatsach.htm

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung13.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 12/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 12

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

Là một vị lãnh đạo Phật Giáo Ấn Quang tại Miền Trung sau 1968, với tấm lòng từ bi, trong mọi tình huống gay cấn, khó khăn giữa giáo hội và Chính quyền, Hòa Thượng vẫn luôn luôn chủ trương hoà giải, mặc dầu Hoà Thượng vẫn thường xuyên gặp áp lực nặng nề của những tín đồ quá khích và đám cơ sở Việt Cộng nằm vùng trong Giáo Hội.

Tôi được Hòa thượng tiếp tại nhà hậu trai, sau khi trình bày rõ ràng nội vụ, và để Hòa thượng xem lời khai của Thích như Ý và đồng bọn, cùng một số tin tức, tài liệu quan trọng trong đó có bốn tấm không ảnh. Tôi kết luận:

– Bạch Thượng tọa, lời khai của họ đã rõ ràng, đủ yếu tố đưa họ ra Tòa, hoặc Hội đồng An ninh Tỉnh. Nếu cần con có thể mở cuộc họp báo để bạch hoá hồ sơ, công bố chi tiết nội vụ cho báo chí và đồng bào rõ đâu là sự thật.

Tôi hỏi Thượng Tọa Thích Mật Nguyện:

– Bạch thầy, cứ mỗi lần Lực Lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế phá vỡ một tổ chức Việt Cộng và bắt giữ một số cơ sở nội thành của tổ chức đó, thì Giáo Hội tại Huế lại biểu tình chống đối và cho đó là hành động đàn áp Phật Giáo.Vậy những người biểu tình đó họ là ai? Đang ở chiến tuyến nào? Bắc hay Nam vĩ tuyến 17? Thượng tọa ngồi trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng ông nói với tôi:

-Con đã biết trong Giáo Hội tại Huế nguời của bên kia cũng nhiều, khó mà kiễm soát được họ. Nhưng thôi, Thầy không muốn đề cập đến chuyện này.Các cuộc biểu tình vừa rồi, không phải Giáo hội hành động, mà là một nhóm phật giáo đồ, khi nghe tin chùa Trà Am bị lục soát và thầy Thích như Ý bị chính quyền bắt, họ hấp tấp tự động tổ chức biểu tình phản đối. Họ chẳng cần xin lệnh của Giáo hội, chẳng có lệnh của thầy.Mọi chuyện có thể trở nên trầm trọng hơn, thôi thì mỗi bên nhường nhịn nhau một tí.Thầy sẽ cho họ biết rõ nội vụ và yêu cầu họ chấm dứt biểu tình.Phần con, cũng nên tha cho thầy Như Ý và mấy người đó đi, hoá giải tất cả.

– Bạch thầy, thật khó cho con.Thầy Thich Như Ý và mấy người kia là cơ sở và cán bộ an ninh nội thành Việt Cộng.Họ đang mưu toan và đã có kế hoạch đặt chất nổ phá hoại, và giết hại dân lành, họ phải bị truy tố ra toà.

Thượng toạ cắt ngang lời nói của tôi:

– Thôi được, mấy người kia là chuyện ngoài đời, thế tục, thầy không muốn nhúng tay vào.Riêng thầy Thích Như Ý, con tha cho ông ta.Con có muốn thầy đứng bảo lãnh cho thầy Như Ý không?

– Dạ, không dám.Con chỉ có thể hứa với thầy và sẽ làm đúng lời hứa là thay vì đưa thầy Như Ý ra toà, con sẽ đưa ra Ủy Ban An ninh Tỉnh, với đề nghị thật nhẹ.Nhưng 6 người kia con vẫn lập thủ tục giải toà. Lời hứa thứ hai là sẽ không tổ chức họp báo công bố nội vụ, nhưng với điều kiện sẽ không có cuộc biểu tình nào nữa vào ngày mai.

– Con yên tâm đi, thôi con về.Xe để ở đâu? Con ra cửa sau, cẩn thận đừng để ai thấy. Thiên hạ lại tung tin thầy có quan hệ với ông Liên Thành, với Mỹ. Ngoại trừ chuyện quan trọng, khẩn cấp, bình thường, con cứ nói thằng Bích lên gặp thầy là được rồi.

‘Thằng Bích’ là chú tiểu Bích, tu đạo tại chùa này, chùa Linh Quang, không biết từ hồi mấy tuổi, nhưng năm tôi học tiểu học trường Nam Giao, tôi đã chơi thân với chú tiểu Bích, vì gia đình tôi ở ngay trong vườn lăng Cụ Phan Bội Châu, chỉ cách chùa Linh Quang một con đường nhỏ.Tôi thường vào chùa rủ hắn đi đánh bi với đám bạn trong xóm Từ Đàm- Linh Quang.

Hắn tu chưa lên được chức Đại đức thì giai nhân xuất hiện, người đẹp là em ruột của thầy Thích Mật Nguyện.Hắn phải lòng người đẹp nên ốm tương tư, cuối cùng xin cởi áo tu, hoàn tục, và xin Thuợng Tọa Thích Mật Nguyện cưới nguời đẹp làm vợ, một mái lều tranh hai quả tim… chì cạnh chùa Linh Quang.

Năm 1966, khi tôi về Cảnh Sát thì gặp hắn chững chạc trong bộ cảnh sát sắc phục. Tôi rút hắn về văn phòng tôi, thường đi với tôi trong mọi công tác. Hoàn tục đã lâu, nhưng chiếc đầu vẫn trọc lóc không một sợi tóc. Tôi thăng cấp tu hành cho hắn, thường gọi hắn là ‘Thượng Tọa Bích’. Hắn chỉ nhăn răng cười mà không cự nự. Hắn là một gạch nối giữa tôi và Hoà Thượng Thích Mật Nguyện trong những công việc cần dàn xếp giữa chính quyền và Giáo Hội.

Ngày 28-2-1975, khi Việt Cộng chiếm Huế, Bích là chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia đầu tiên của lực lượng CSQG ThừaThiên -Huế rút súng bắn vào đầu tự sát ngay dốc Bến Ngự, cách chùa Linh Quang không xa.

Ngày nay cứ mỗi độ 30 tháng 4 về, anh em chúng tôi thường nhắc đến anh: Nguyễn Văn Bích với tấm chân tình kính trọng một vị anh hùng liệt sĩ Cảnh Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế. Xin cầu nguyện cho anh đời đời yên nghỉ ở cõi Niết Bàn, nơi mà anh đã chọn tìm đến từ thuở tuổi ấu thơ. Vĩnh Biệt Nguyễn văn Bích… ‘Thượng tọa Bích’.

Trở lại chuyện Thích như Ý:

Ngày hôm sau, 22-5-1971, hồ sơ Thích Như Ý, và sáu người kia được chuyển qua Hội Đồng An ninh Tỉnh truy tố tội danh, với đề nghị:

– Thích như Ý : 3 tháng.

– Sáu người kia: 2 năm tái xét.

Cuộc biểu tình chấm dứt kể từ 10 giờ sáng ngày 22-5-1970. Tưởng mọi chuyện đã yên ổn, nhưng lại không bình yên.Ba ngày sau, 26-5-1970 khoảng 9 giờ sáng viên Cố vấn CSĐB gặp tôi:

– Đại úy Thành, ông gặp rắc rối rồi, một tí thôi.

– Chuyện gì xảy ra? Tôi ngạc nhiên hỏi ông ta.

Ông ta nói:

– Nội trong ngày hôm nay, có thể là hai, hoặc ba giờ chiều, Thiếu Tuớng Phong, Tư Lệnh của ông, cùng với một phái đoàn cao cấp của Chính Phủ Sàigon sẽ gặp ông, để điều tra Vụ Chùa Trà Am.

Quả đúng như lời của viên cố vấn CSĐB. Khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, điện thoại reo, đầu đây bên kia là giọng nói của Thiếu úy Chính, Trưởng Ban an ninh phi trường Phú Bài:

– Đại úy, em Thiếu úy Chính, Đại úy giữ máy. Thiếu tướng Tư lệnh muốn nói chuyện với Đại úy.

– Allo! Thiếu tướng Tư lệnh đây Liên Thành.Thiếu tướng đang ở phòng khách của phi trường Phú Bài. Em đem hết hồ sơ vụ chùa Trà Am xuống đây gặp Thiếu Tướng.

– Em nhận rõ Thiếu Tướng. Xin Thiếu Tướng cho em khoảng 30 phút em sẽ trình diện Thiếu Tướng.

Hơn ba mươi phút sau tôi có mặt tại phòng khách danh dự phi trường Phú Bài. Mọi người đang đợi tôi trong phòng khách danh dự, gồm có:

– Thiếu Tướng Trần Thanh Phong, Tư lệnh CSQG

– Đại Tá Nguyễn Khắc Bình, Giám đốc Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo

– Một Đại Tá thuộc Cục An ninh Quân Đội (nếu tôi nhớ không lầm là Đại Tá Nhuận)

– 4 sĩ quan cao cấp của Khối CSĐB/ BTL.

Sau khi tôi chào Thiếu Tướng Tư Lệnh và các sĩ quan trong phái đoàn, Thiếu Tuớng Tư lệnh nói với tôi:

– Vì không có thì giờ, nên Thiếu Tướng gặp em ở đây, dịp khác Thiếu Tướng sẽ thăm BCH. Bây giờ em trình bày cặn kẽ vụ chùa Trà Am cho Thiếu Tướng và phái đoàn rõ.

Tôi hiểu ngay đây là một cuộc điều tra.Thân phận của tôi chỉ là một hạt bụi nhỏ trong cơn lốc chính trị giữa hai luồng áp suất mạnh: Phật giáo và Chính phủ trung ương, vì Thích như Ý là anh ruột của Ngài Hoà Thượng Thích Trí Thủ Tổng thư Ký Viện Hoá Đạo Phật Giáo Ấn Quang tại Sàigòn.Tôi bắt đầu trình bày từng chi tiết một, diễn biến vụ chùa Trà Am:

1- Khởi đầu, cơ quan Tình báo quân đội Hoa Kỳ(CID), bộ phận kiểm thính báo cho tôi biết có điện đài Việt Cộng phát tuyến nhiều lần tại Chùa Trà Am. Sau đó CID lại chuyển tiếp cho tôi 4 bức không ảnh do phi cơ thám thính của CID chụp được, phát hiện một toán 3 tên Việt Cộng có võ trang đang đứng sau nhà Hậu trai của Chùa Trà Am.

2- Tôi chỉ thị cho phòng CSĐB đặt trạm theo dõi gần Chùa Trà Am, và sau đó phát giác một số cơ sở nội thành Việt Cộng vào ra ngôi chùa. Số cơ sở này chúng tôi đã biết từ trước, vì hiện đang nằm trong một vài chiến dịch xâm nhập của phòng CSĐB.

3- Trước ngày 18-5-1970, nguồn tin nội tuyến từ trong lực lượng Học Sinh, Sinh Viên, Giải Phóng thành Phố Huế của Việt Cộng báo tin: ‘Sẽ có một phiên họp quan trọng tại Chùa Trà Am vào tối ngày 18-5-1970’

4-Vào lúc 6 giờ 30 sáng ngày 19-5-1970, bao vây chùa Trà Am và bắt giữ một nữ cán bộ an ninh thành, tên Lê Thị Út, sáu cơ sở Việt Cộng trong đó Thích Như Ý.

5- Sau khi thẩm vấn, tất cả người này đều nhìn nhận họ hoạt động cho cơ quan An ninh Thành Ủy Huế và mục đích của buổi họp này là lên kế hoạch đặt chất nổ một vài địa điểm trong thành phố như: Ty Bưu Điện, Ty Ngân Khố, Toà Hành Chánh Tỉnh và 2 rạp chiếu bóng Tân Tân, và Châu Tinh.

6- Tang vật tịch thu được gồm có: một số tài liệu quan trọng, trong đó có bản Nghị Quyết mới nhất của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau đó theo hướng dẫn của nữ cán bộ Lê Thị Út, thuộc cơ quan An Ninh Thành ủy Huế, Đại Úy Trưởng Công Ân, Trưởng phòng CSĐB đã tịch thâu được khoảng 6kg chất nổ TNT và 8 ngòi nổ chậm, tại vùng nghiã trang gần núi Ngự Bình mà y thị chuyển từ mật khu về Chùa Trà Am và sau đó đem cất dấu tại địa điểm trên, chờ họp xong chỉ cho năm cơ sở kia đến lấy để thi hành công tác phá hoại. Ngoài ra, vì khu chùa quá rộng không thể tìm được điện đài họ cất dấu ở đâu.

Trong khi tôi thuyết trình, một trong bốn sĩ quan BTL ngồi ghi chép. Một người khác lâu lâu lại rờ vào tay nắm của chiếc cặp để cạnh ông ta. Tôi mỉm cười nhìn ông, và ngưng thuyết trình, ghé vào tai ông ta nói nhỏ:

– Ông khởi lo, tôi sẽ nói lớn hơn để ông thâu cho rõ.

Như một đứa trẻ ăn vụng bị bắt gặp, nét mặt ông ta thẹn thùng, vì bên trong chiếc cặp là một máy thâu băng. Không hiểu ông ta đã được huấn luyện bao nhiêu khoá Tinh báo, mà hành sự quá tệ. Sau gần 30 phút trình bày nội vụ, tôi ngưng cuộc thuyết trình, và trình Thiếu Tướng Tư Lệnh, cùng phái đoàn hồ sơ liên hệ nội vụ gồm có:

a- Tin tức của cơ quan Quân báo Hoa Kỳ (CID) về điện đài phát tuyến tại Trà Am.

b- Bốn tấm lớn không ảnh mà máy bay không thám CID chụp về đêm phát hiện toán võ trang Việt Cộng tại sau nhà hậu trai chùa Trà Am.

c- Lời khai của Thích như Ý và đồng bọn.

d- Tài liệu mật đã tịch thu được trong đó có bản nghị quyết mới của Trung ương đảng Cộng sản.

e- Ảnh chụp tang vật: 6 kg chất nổ TNT và 8 ngoài nổ chậm

f- Bản báo cáo của cơ sở nằm vùng trong tổ chức Học sinh, Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế về phiên họp sắp xảy ra tại chùa Trà Am.

g- Hồ sơ cá nhân của tình báo viên nằm vùng trong tổ chức Học sinh, sinh viên Giải phóng thành phố Huế . [Để bảo mật, và bảo vệ sinh mạng cho tình báo viên, tôi chỉ trình riêng hồ sơ này với Thiếu tướng Tư lệnh mà thôi,. Sau khi Thiếu Tướng xem xong, tôi lấy lại ngay, không để bất kỳ một ai trong phái đoàn được đọc hồ sơ này].

Tôi tiếp tục:

– Trình Thiếu Tướng và quí vị trong phái đoàn. Số tang vật 6Kg chất nổ TNT và 8 ngoài nổ chậm tôi có mang theo xuống đây, hiện đang để ngoài xe, nếu quí vị muốn xem tôi đem vào.

– Không cần đâu Liên Thành, Thiếu tướng muốn hỏi em một câu nữa: Tại sao Phật giáo ngưng biểu tình?

Tôi trình bày nội dung cuộc tiếp xúc của tôi với Ngài Hoà Thượng Thích Mật Nguyện, Chánh đại diện Phật giáo miền Trung, và kết luận:

– Hai bên cùng thuận với những điều kiện được nêu ra nên cuộc biểu tình chấm dứt.

Tôi hiểu phần trình bày của tôi đến đây đã quá đủ, và Thiếu Tướng Tư lệnh cũng cần bàn bạc riêng với phái đoàn, nên tôi xin phép Thiếu tướng Tư lệnh ra ngoài. Hiểu ý tôi, ông gật đầu. Rời phòng khách danh dự, đứng ngay cửa dành cho hành khách ra phi cơ, tôi ngước nhìn trời xanh, mây trắng, lòng thấy thanh thản, nhẹ nhàng như trút đi được bao nhọc nhằn căng thẳng đã gần cả tuần nay, khi đối đầu với vụ chùa Trà Am, và bây giờ với phái đoàn điều tra hỗn hợp: BTL/Cảnh Sát, Phủ Đặc ủy Trung Ương Tình Báo, Cục An Ninh Quân Đội. Tôi tự hỏi: Chẳng lẽ vụ này đụng chạm quá lớn, chính phủ phải cử phái đoàn điều tra hư thực? Chẳng lẽ mình hành động sai? Tôi không chủ quan, nhưng không tìm thấy chỗ nào sai.Bắt một kẻ đội lốt tu hành hoạt động cho Việt Cộng, một nữ cán bộ an ninh Thành Ủy Huế và 5 cơ sở của y thị, cùng tài liệu và chất nổ, lục soát một nơi có chỉ dấu Việt Cộng đặt điện đài ngay tại chùa Trà Am, lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế đã phá vỡ kế hoạch của bọn chúng đang mưu toan đặt chất nổ vào các cơ sở của chính quyền, và gài chất nổ giết hại dân chúng trong hai rạp chiếu bóng tại thành phố Huế.Chúng tôi, lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế đã làm đủ, và đúng trong trách nhiệm mà chính phủ giao phó: – Duy trì luật pháp Quốc Gia, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào. Vậy sai ở chỗ nào, ở điểm nào? Mà nếu đã không sai, thì sao lại có phái đoàn điều tra? Tôi tự hỏi mà vẫn không tìm ra đáp số đúng. Mãi suy nghĩ, thì ông chuyên viên thâu băng ra gặp tôi:

– Đại úy, Thiếu Tướng gặp anh, và ông ta tự giới thiệu:

– Tôi, Thiếu tá C. . . khối CSĐB/BTL. Đại úy Ân khá không?

Có lẽ ông Thiếu tá này muốn nói cho tôi biết ông ta là cấp trên của Ân trong khối CSĐB/BTL. Nhìn dáng dấp và hành động vụng về của hắn khi thâu băng lén trong phòng họp, tôi thật tình không có cảm tình:

– Hân hạnh gặp Thiếu tá, Trương Công Ân là một nhân tài, một chuyên viên tình báo lỗi lạc, trong Khối CSĐB/BTL khó có người so sánh với Trương Công Ân.

Hắn không đến nỗi tối dạ không hiểu tôi đang nói móc hắn, hắn lảng sang chuyện khác:

– Mình vào kẻo Thiếu Tướng đợi.

Không khí trong phòng khách danh dự bây giờ có vẻ nhẹ nhàng hơn, không như lúc đầu. Vừa thấy tôi Thiếu Tướng Tư lệnh nói ngay:

– Liên Thành, Thiếu Tướng và phái đoàn phải trở vào Saigòn bây giờ. Vụ Trà Am, Thiếu tướng và phái đoàn đã hiểu rõ.

Tôi đưa Thiếu Tướng và phái đoàn ra phi cơ, trước khi bước lên phi cơ Thiếu tướng Tư lệnh nói với tôi:

– Huế khó lắm, em chu toàn công việc như vậy là tốt lắm rồi, gắng lên.Về ông Như Ý cũng nên nhẹ tay cho ông ta một phần nào.

Mọi người lần lượt bắt tay tôi bước lên máy bay, Đại Tá Nguyễn Khắc Bình siết mạnh tay tôi.Tôi hiểu đó là cử chỉ biểu lộ sự thông cảm và thấu hiểu mà ông dành cho tôi, tôi nói vừa đủ để ông nghe:

– Cám ơn Đại Tá.

Phi cơ cất cánh, để lại một làn khói trắng phía sau giữa bầu trời trong xanh, và cũng để lại trong lòng tôi những suy tư ưu phiền: “Mình đã hành động đúng hay sai?” Tôi đi vào bên trong, vừa đi vừa suy nghĩ mông lung, mãi không để ý, một thân hình to lớn chấn ngay lối đi của tôi. Nhìn lên, viên Cố vấn CSĐB đã đứng chắn trước mặt tôi từ hồi nào. Một thoáng ngạc nhiên tôi hỏi anh ta:

– Anh đến hồi nào?

– Chỉ sau Đại úy năm, mười phút.

– Làm gì?

– Tôi nhận lệnh xuống đây, tôi tưởng họ đã đem ông theo vào Sàigòn, cũng may họ giữ đúng lời.

– Tại sao?

– Có lẽ còn quá sớm để ông biết rõ chuyện này.

Dân ngoại giao, tình báo thường hay nói nửa vời, hiểu sao thì hiểu, tôi cũng chẳng muốn hỏi thêm.

– Đại úy, tôi biết ông bây giờ vừa đói và mệt, mình vào Câu lạc bộ của Sư Đoàn USMC ăn một tí gì, sau đó tôi dẫn ông đi gặp bác sĩ khám bệnh cho ông.

– Đói và mệt thì có, nhưng bệnh thì không. Như anh biết, vụ Trà Am, năm, sáu ngày nay tôi và một số anh em đã quá mệt.

Rời khỏi Câu lạc bộ của Sư Đoàn USMC tại căn cứ Phú Bài, tôi cùng viên Cố vấn vào bệnh viện dã chiến. Khi tôi tỉnh dậy thấy mình đang ở trong một thế giới xa lạ, tưởng là nằm mơ, chung quanh tôi toàn là thương bệnh binh Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, viên cố vấn CSĐB đã đứng cạnh giường tôi, tôi hỏi hắn:

– Sao tôi lại ở đây, đây là đâu, bao lâu rồi?

– Bệnh viện dã chiến của USMC. Ông đã ở đây gần hai mươi bốn giờ.

Tôi giật mình nói với hắn:

– Thôi chết.Vậy ai lo công việc ở BCH. Anh em họ đâu biết tôi đi đâu.

– Ông khỏi lo, mọi việc tôi đã báo cho Đại úy Ân sau khi ông vào đây. Không có chuyện gì quan trọng xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua.

Tôi thắc mắc hỏi hắn:

– Nhưng tại sao lại bỏ tôi ngủ lâu như vậy?

Vẫn câu trả lời nửa vời:

– Tôi sẽ giải thích với ông sau.

Làm việc chung với những người này, những gì họ không muốn nói có cạy răng họ cũng không nói, thôi đành bỏ qua.

Ngoại trừ Đại úy Ân, chẳng một ai trong BCH biết đuợc tôi đã nằm bệnh viện dã chiến của USMC tại căn cứ Phú Bài gần một ngày một đêm.

Sáu năm sau, 1976 tôi gặp lại viên Cố vấn tại Hoa Kỳ, hỏi lại chuyện xưa thì hắn thong thả kể cho tôi nghe:

– Ngày đó họ có ý định gọi anh về Phú Bài và bắt giữ anh đem vào Sàigòn ngay để điều tra.Một trong bốn sĩ quan của BTL đi theo ông Tướng sẽ thay thế anh. Nhưng sau khi nghe anh thuyết trình, họ thấy không có lý do nào để bắt anh, vì thế mà họ ra về tay không. Người giúp anh hôm đó chính là anh.Chúng tôi rất lo cho anh, nhưng chỉ giúp anh một phần nào thôi. Còn việc anh vào nằm bệnh viện, thứ nhất là để anh phục hồi sức khoẻ, thứ hai là để bảo vệ anh, có vậy thôi.

Tôi tạm dừng ngang đây vì chuyện hắn kể tôi không thể kiễm chứng làm sao biết đúng hay không.

Tôi trở lại tiếp tục lời khai của Hoàng Kim Loan trong đối tượng Phật Giáo tại Huế.

– Thích Thiện Lạc và ngôi Chùa An Lăng.

Hoàng kim Loan khai: Chùa An Lăng là trạm giao liên quan trọng của cơ quan Thành Ủy Huế, và Thích Thiện Lạc trụ trì chùa này là một trong những cơ sở nòng cốt của Hoàng Kim Loan. Thiện Lạc có 12 năm tuổi đảng, do chính hắn kết nạp Thiện Lạc vào Đảng Cộng Sản từ năm 1960. Dân chúng và tín đồ trong vùng An Lăng thường quen miệng gọi ông ta là Thầy Ngoạn.

Ngôi chùa An Lăng này nằm về phía tây nam thành phố Huế, chỉ cách thành phố khoảng hai cây số, đối diện với trụ sở xã Thủy Phước, cách làng Phủ Cam khoảng một cây số và nằm gần lăng Vua Dục Đức và Vua Thành Thái tại làng An Lăng. An Lăng là một xóm nhỏ cạnh núi Ngự Bình, nằm trên trục xâm nhập của cán bộ thành từ vùng Tứ Tây, Ngũ Tây về thành phố Huế.

Lời khai của Hoàng Kim Loan về ngôi chùa và ông thầy Ngoạn, đã phù hợp với tin tức và hành động của chúng tôi vào gần cuối tháng 12/1970.

Vào ngày 17/12/1970, nguồn tin tình báo viên xâm nhập gởi về cho hay Thiếu Tá Việt Cộng Nguyễn Đối, bí danh Thanh Bình, thuộc ban An Ninh Thành ủy Huế và một toán đặc công thành sẽ về ém quân trong ngôi chùa này vào khuya ngày 23/12/1970, để tối hôm sau, vào đêm Noel 24/12/1970 lợi dụng hàng ngàn người đi xem đèn, xem máng cỏ Chúa Hài Đồng tại xóm đạo Phủ Cam, bọn chúng sẽ trà trộn vào đám đông và bất thần tung cuộc đột kích vào trụ sở xã Thủy Phước để tạo tiếng vang.

Tôi họp ban tham mưu soạn thảo kế hoạch hành quân phục kích ngay tại ngôi chùa An Lăng. Ưu tiên một là bắt sống tên Thiếu Tá Việt Cộng An Ninh Thành ủy Huế Nguyễn Đối. Nếu tình huống không thuận tiện thì tiêu diệt toàn bộ bọn chúng.

Cuộc phục kích này sẽ do tôi chỉ huy, với 9 nhân viên CSĐB. Họ là những quân nhân có kinh nghiệm hành quân tác chiến, là những đồng đội của tôi đã theo tôi từ Nam Hoà biệt phái về CSQG từ 1966.

Tôi đích thân chỉ huy cuộc phục kích này vì 3 lý do:

– Đây là cuộc phục kích ngay trong chùa, mà hậu quả có thể đụng chạm lớn đến tôn giáo, và nhất là niềm tin của Phật giáo đồ, hậu quả thật khó lường.

– Tôi là sĩ quan quân đội, đã từng là Đại đội trưởng tác chiến. Ít nhiều thì tôi vẫn có kinh nghiệm về hành quân, phục kích, chạm địch, hơn anh em Sĩ quan Cảnh sát Quốc Gia.

– Đây là một trách nhiệm nặng nề, và có thể đụng chạm đến Phật Giáo. Tôi là cấp chỉ huy, phải nhận lãnh mọi hậu quả về hành động này, tôi không muốn anh em thuộc cấp dính vào.

Đại úy Ân trưởng Phòng CSĐB phái một nữ nhân viên thuộc Biệt Đội Thiên Nga và một nam nhân viên CSĐB, đóng vai cặp tình nhân viếng cảnh chùa. Họ có nhiệm vụ quan sát tỉ mỉ và ghi nhớ về vẽ lại sơ đồ ngôi chùa từng chi tiết một, từ ngôi chánh điện, khu nhà trai, ngõ trước, cửa sau, tóm lại không bỏ sót một điểm nhỏ nào.

Tôi cũng họp với Cố vấn CSĐB, và viên Thiếu Tá Cố Vấn chương trình Phụng Hoàng, báo cho họ biết kế hoạch của tôi và yêu cầu họ nếu có thể được, cung cấp cho tôi một số không ảnh vùng chùa An Lăng, để tiện nghiên cứu, hướng và đường đột nhập vào chùa của tên Thiếu Tá Đối và đám đặc công của hắn, hầu tôi có thể đặt toán phục kích đúng hướng bọn chúng đi vào.

Bốn ngày sau, 21/12/1970, tôi đã có tấm họa đồ với đầy đủ chi tiết do Đại úy Ân cung cấp và 6 tấm không ảnh do cố vấn phòng CSĐB cung cấp. Như vậy đã quá đủ đồ nghề dư sức chơi với đám giặc cỏ.

Sau khi nghiên cứu, tôi quyết định sẽ bố trí toán phục kích nằm về hướng bắc của sân chùa vì huớng nam sân chùa là con đường mòn, nối liền từ cồn mã phía ngoài vào chùa. Bọn Việt cộng sẽ dùng con đường này để đi vào, và như vậy khi toán phục kích của chúng tôi nổ súng thì đạn đạo sẽ đi từ hướng bắc xuyên ngang sân chùa về hướng nam không đụng vào chùa.

Đêm 23/12/1970, 19 giờ 10 lực lượng của chúng tôi đã sẵn sàng, chúng tôi có 3 tổ, mỗi tổ 3 nhân viên, theo kế hoạch bố trí hàng ngang, nằm về phía bắc sân chùa. Tôi ở tổ 1, nằm ở vị trí đầu của toán phục kich. Tất cả được trang bị M16, và không mang theo lựu đạn, vì địa thế hẹp không thể xử dụng, và có thể gây hư hại nặng cho chùa.

Lực lượng trừ bị cho tôi có hai trung đội CSDC, và 20 CSĐB do Đại úy Tý, và Đại úy Ân chỉ huy, trực tại BCH sẵn sàng tiếp ứng khi tôi yêu cầu.

Khoảng gần 20 giờ 15 ngày 23/12/1970, chúng tôi xuất phát từ BCH. Huế vào những ngày gần lễ Giáng Sinh trời thật lạnh. Ai đã từng ở Huế mới thấm được cái lạnh của Huế. Lạnh cắt da, lạnh luồn vào thân thể, mặc bao nhiêu áo cũng không đủ ấm.Đêm nay quá lạnh, lại có từng cơn mưa nhẹ, vì đi phục kích nên chúng tôi không một ai mặc áo mưa.

An Lăng là một xóm nghèo hầu như mọi nhà đều không có đèn điện, chỉ ánh đèn dầu le lói bên trong. Chúng tôi đổ quân cách ngôi chùa khoảng gần một cây số, len lỏi vào bóng đêm vắng lặng, chúng tôi tiến dần đến mục tiêu, thời gian di chuyển chỉ khoảng gần hai mươi phút. Nhìn đồng hồ dạ quang, bây giờ là 21 giờ 20, chúng tôi đã ở sát hông chùa. Ngôi chùa nằm im lìm trong bóng đêm, chỉ có hai ánh đèn nhỏ bên trong khu nhà hậu trai. Từng tổ một, chúng tôi âm thầm tiến vào vị trí phục kích. Tôi khom người nhẹ nhàng đến từng tổ kiểm soát và nhắc lại một lần chót, rất nhỏ:

– Tôi sẽ khai hỏa trước. Địa thế quá chật, cẩn thận kẻo bắn lầm nhau. Không được ho, không được hút thuốc.

Tôi trụ về tổ 1, tổ chúng tôi có bốn người, dưới cơn mưa, lạnh, ngồi sát vào nhau cho ấm và chờ đợi…

Mưa vẫn tiếp tục, thật lạnh, và bóng đêm dày đặc, thỉnh thoảng chúng tôi lại nghe tiếng chó sủa từ thôn xóm xa vọng lại. Im lặng và chờ đợi…

21 giờ 50 phút có tiếng động ở phía nhà hậu trai, cánh cửa bật mở, một người từ trong nhà hậu trai bước ra, tay cầm cây đèn dầu trên tay, ánh đèn dầu soi rõ mặt người đó, tôi giật mình: Ông Thầy Ngoạn ! Thầy Thích Thiện Lạc. Ông ta cầm cây đèn dầu đi một vòng chung quanh chùa rồi trở vào bên trong nhà hậu trai kép cửa lại.

22 giờ 30 phút, cánh cửa nhà hậu trai lại mở, lần này thầy cầm cây đèn đưa cao lên và đi ra sân chùa, tiến về phía bắc sân chùa, chỉ cách chúng tôi một thân cây cổ thụ to lớn. Chúng tôi đang bố trí phía sau thân cây, sát bụi hoa bông cẩn, ông ta dừng lại để cây đèn xuống đất, vén áo cà sa, thoải mái tè vào gốc cây cổ thụ Mộc lan, tè xong ông lại cầm đèn trở lại nhà hậu trai khép cửa. Chúng tôi ngồi cứng người, nín thở chỉ sợ ông ta phát giác, nhưng may ông ta không thấy chúng tôi.

23 giờ 10 phút, lần thứ 3, thầy Ngoạn lại mở cửa cầm đèn đi hai vòng quanh chùa, lại trở vào nhà hậu trai. Có lẽ đây là lần cảnh giới thứ ba của ông ta, và hai lần cầm đèn đi chung quanh chùa là dấu hiệu báo cho Việt Cộng biết tình hình an toàn, bọn chúng có thể vào chùa.

Chúng tôi vẫn ngồi co mình chờ đợi. Tiếng chó bắt đầu sủa dồn cuối xóm An Lăng, từ hướng Nam. Tôi nói nhỏ cho Trung sĩ Ánh sát tôi, chuyền cho các tổ sau chuẩn bị, có thể bọn Việt Cộng sắp xuất hiện.

Khoảng mười phút sau, ba bóng người xuất hiện, ba tên Việt Cộng tổ tiền sát. Bọn chúng mặc quần đùi, tay cầm súng tiểu liên AK di chuyển chậm và nhẹ nhàng không nghe tiếng động. Ba tên túa ra ba góc cuối sân chùa quan sát. Khoảng ba phút sau một tên đi lộn lại về lối đường mòn và biến mất trong bóng đêm.

Với kinh nghiệm trong đời lính tác chiến, chúng tôi hiểu tên đi ngược trở về là để báo cho toán sau biết tình hình, và hướng dẫn, hố tống nhóm chính vào chùa.

Quả đúng như chúng tôi tiên liệu, khoảng 10 phút sau, 7 tên Việt Cộng xuất hiện ngay cuối sân chùa. Rất nhanh, tôi nhẹ nhàng làm thủ lệnh cho Trung sĩ Ánh và tôi tác xạ vào mục tiêu 7 tên Việt Cộng, 2 anh em kia trong toán tác xạ vào 2 tên đang đứng gác cuối sân chùa. Nhẹ nhàng mở khóa an toàn, một ,hai, ba… Bốn loạt đạn M16 nổ chát chúa vào đám Việt Cộng, hai tổ sau cũng rất nhanh đồng loạt khai hoả.

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung12.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 11/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 11

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

Hoàng kim Loan đã khai những cơ sở bí mật của hắn trong Phật Giáo tại Huế như sau:

– Thích Đôn Hậu.

Thích Đôn Hậu trụ trì chùa Thiên Mụ, là Chánh Đại Diện Phật GiáoẤn Quan miền Vạn Hạnh (Miền Trung). Cơ sở Tôn giáo Vận, được Hoàng Kim Loan tổ chức từ trước năm 1963.

Chùa Thiên Mụ là một trạm giao liên nội thành rất quan trọng của cơ quan Thành ủy Huế trong suốt thời gian Thích Đôn Hậu trụ trì chùa này cho đến Mậu Thân 1968, khi Thích Đôn Hậu thoát ly ra Bắc.

Trong Tết Mậu Thân 1968, Thích Đôn Hậu được Hoàng Kim Loan giao chức vụ: Phó Chủ tịch Lực lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà Bình. Sau Mậu Thân, Thích Đôn Hậu ra Hà Nội được Trung ương đảng Cộng Sản bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch phái đoàn đại diện cho quần chúng, Tôn Giáo, trí thức miền Nam công du một số nước Cộng sản như Trung Cộng, Tây Tạng v. v… để cổ võ, tuyên truyền cho Hà Nội.

Theo Hoàng Kim Loan, nếu không có vụ Mậu Thân 1968, thì trong năm đó Thích Đôn Hậu cũng sẽ thoát ly ra Bắt để tham gia vào phái đoàn, vì chính Hoàng Kim Loan hắn đã nhận được chỉ thị chuẩn bị kế hoạch để đưa Thích Đôn Hậu rời khỏi Huế ra Hà Nội thì xảy ra biến cố Mậu Thân. Sau 1975, Thích Đôn Hậu trở về lại Chùa Thiên Mụ và giữ chức Chủ tịch Phật Giáo quốc doanh.

– Thich Trí Quang.

Cư ngụ chính thức tại Chùa Từ Đàm, từ trước 1963. Đảng viên Côïng Sản, gia nhập Đảng Cộng sản vào 1949. Người kết nạp là Tôn Thất Lành tự Tố Hữu. Lời khai của Hoàng kim Loan phù hợp với tiết lộ của Tố Hữu vào năm 2000 tại Hà Nội, chính y là người kết nạp Thích Trí Quang vào đảng Cộng Sản. Tố Hữu cũng nói thêm: “Sau 1963 Thích Trí Quang có ngỏ ý xin Trung Ương Đảng cho tạm nghỉ một thời gian để có thì giờ chấn chỉnh nội bộ Phật Giáo Ấn Quang, nhưng lời yêu cầu đó không được Trung ương đảng chấp thuận.”

Tố Hữu còn có nhận xét về Trí Quang: ‘ Vào lúc đó uy tín và ảnh hưởng của ông Bồng [Trí Quang] đối với quần chúng nhất là tín đồ Phật Giáo quá lớn, ông ta nghĩ không cần đảng nữa, ông ta muốn thiết lập một chế độ Giáo quyền tại miền Nam, mà trong đó ông đóng vai ‘Quốc Phụ’.

Và lời khai của Hoàng Kim Loan cũng phù hợp với tài liệu của Sở Mật Thám Pháp còn lưu giữ tại trung tâm Văn khố của BCH Cảnh Sát Thừa Thiên Huế:

Thích Trí Quang là cán bộ Cộng Sản, là Đảng viên Cộng Sản. Hoàng Kim Loan xác nhận hắn không phải là Cán Bộ điều khiển của Thích Trí Quang. Trước 1963 cán bộ điều khiển của Thích Trí Quang là Thượng Tá Lê Câu, chỉ huy Truởng màng lưới điệp báo từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam. Sau 1963 ai là cán bộ điều khiển Trí Quang thì Hoàng Kim Loan không rõ, hắn chỉ được lệnh phối hợp hành động với Thích Trí Quang trong vụ đảo chánh 1963, và vụ biến động Miền Trung vào tháng 6/1966.

– Nguyễn Khắc Từ, viên Bí Thư của Thích Trí Quang.

Cũng theo Trung Tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan khai báo:

Cơ quan Tình Báo Chiến lược của Cộng Sản Hà Nội đã bố trí một nhân vật tình báo cao cấp của bọn chúng bên cạnh Thích Trí Quang, với vai trò là Bí Thư cho Thích Trí Quang, đó là tên Nguyễn Khắc Từ. Nguyễn Khắc Từ được cơ quan Tình Báo Chiến Lược Việt Cộng giao nhiệm vụ:

1- Theo dõi và kiểm soát mọi hành động của Thich Trí Quang.

2- Cán bộ giao liên giữa Thích Trí Quang và Cụm Tình Báo Chiến lược Hà Nội

3- Cán bộ Giao liên giữa Thích Trí Quang và Trung Tá Cộng Sản Hoàng Kim Loan.

4- Quan Sát, theo dõi, và thiết lập hồ sơ chuyển về cơ quan Tinh Báo Chiến lược những thành phần ”Tốt” trong hàng Sĩ Quan [Phải là cấp Đại Úy trở lên] thuộc Sư Đoàn I Bộ Binh để cơ quan này tuyển mộ hoạt động cho bọn chúng.

5- Công chức trong chính quyền VNCH tại Thừa Thiên Huế [Phải là cấp Trưởng Ty trở lên].

6- Phân loại Sinh viên của Đại học Huế đang giữ chức vụ đại diện các phân khoa, và một số thành phần quan trọng trong Tổng Hôị Sinh Viên Đại Học Huế. Một số giáo Sư Đại Học và Trung học ở Huế. Tất cả các đối tượng Quân Đội, Công chức, Giáo sư, Sinh Viên kể trên đều tham gia và nằm trong các lực lượng dấy loạn miền Trung vào năm 1966 của Trí Quang và Trung Tá Cộng sản Hoàng Kim Loan.

7- Phân loại và thiết lập hồ sơ các thành phần Đại Đức, Thượng Tọa, của Phật Giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh tại Huế.

8- Các thành phần chủ chốt của các khuôn hội Phật Giáo từ cấp Quận trở lên Từ sau 1963 đến 1966, Nguyễn Khắc Từ với vai trò là Bí Thư của ‘Quốc Phụ’ Thích Trí Quang, hắn trở thành nhân vật đầy quyền uy thứ 2 của Phật Giáo Ấn Quang miền Trung. Trong thời gian này từ Tư Lệnh Quân Đoàn, Tư lệnh Sư Đoàn, đến hàng sĩ quan cấp tá, các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng, Trưởng Ty Cảnh Sát tại miền Trung trong phong trào tranh đấu, muốn diện kiến Trí Quang để xin chút ân huệ Trí Quang ban cho, đều phải qua tay của Nguyễn Khắc Từ mới có kết quả. Đối với hàng Phật giáo đồ tại miền Trung, hắn là một nhân vật biểu tượng gương mẫu của một người đạo đức tu hành, suốt đời hy sinh tranh đấu cho cho đạo pháp bị ‘lâm nguy’. Thế nhưng, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phật Giáo đồ tại Huế, quí Đại Đức,Thượng Tọa, các bậc tu hành chân chính đã phải kinh hoàng khi thấy Nguyễn Khắc Từ lộ nguyên hình là tên Cán bộ Việt Cộng cao cấp, và hắn là Phó Trưởng Ban Tôn Giáo của Mặt Trận Tổ Quốc thuộc Thành Ủy Sài Gòn. Nằm vùng quá lâu trong Phật Giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh, là con rận Việt Cộng nằm trong áo Cà Sa của Quí thầy, hắn đã phân loại từng nhân vật, từ các Thượng Tọa, Đại Đức, đến các thành phần trưởng các khuôn hội Phật Giáo, các Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Bây giờ Nguyễn Khắc Từ nguyên là viên Bí thư và là cánh tay mặt của Thích Trí Quang là Phó trưởng Ban Tôn Giáo của Mặt trận Tổ Quốc Thành Ủy Sàigòn sau ngày 30/4/1975. Thử hỏi Tăng Ni và Phật Tử làm sao chịu nổi những đòn phép mà hắn và Đảng Cộng Sản Việt Nam tung ra để tiêu diệt Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Nhớ lại vào tháng 6/1966 khi Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Lực Lượng CSQG Thừa Thiên-Huế dẹp loạn Tranh đấu Miền Trung của Thích Trí Quang, tôi đã bắt Nguyễn Khắc Từ.

– Nguyễn Khắc Từ chắc hẳn ông vẫn còn nhớ rõ??? Tình báo Chiến Lược Cộng Sản Việt Nam thả con rận độc Nguyễn Khắc Từ vào nằm trong áo cà sa của quí thầy trong bao nhiêu năm cùng với Thích Trí Quang và Trung Tá Cộng Sản Tình Báo Chiến Lược Hoàng Kim Loan, để cầm nắm lèo lái Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất theo ý muốn và mưu đồ của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Thế nhưng bọn chúng quên một điều: Ở cõi đời này có luật thừa trừ ‘Vỏ quít dày, vẫn còn có móng tay nhọn.’.

Con rận độc Nguyễn khắc Từ vào tháng 6/1966 cũng đã bị cấy vào người một chất Sinh tử phù cực độc. Nguyễn khắc Từ, chắc ông vẫn chưa quên ai là Cán Bộ Điều Khiển?

Hãy dừng tay lại ngay lập tức, Nguyễn Khắc Từ, tên phản bội, tên Việt Cộng nằm vùng trong Phật Giáo. Đừng tưởng rằng sau 1975, Chính phủ VNCH không còn nữa, Cảnh sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế đã bị xoá tên thì chất độc Sinh tử phù sẽ không còn tác dụng. Lầm lớn rồi Nguyễn khắc Từ, đồng ý, miền Nam đã không còn trong tay người Quốc Gia, nước mất, nhà tan, thân phận lưu lạc, chúng tôi những kẻ đã bị chôn, nhưng chưa chết. Nếu tôi phá vỡ nguyên tắc, bạch hoá hồ sơ, thì chính ông là kẻ chưa chết, nhưng sẽ bị chôn, hậu quả như thế nào chắc ông hiểu rõ hơn tôi nhiều.

‘Báo nhận hiểu và thi hành’ đi, Nguyễn Khắc Từ, tên Việt Cộng nhơ nhớp, bẩn thỉu, hơn loài cầm thú.

– Thích Chánh Trực Tu tại Chùa Tường Vân,

Ngôi chùa nằm phía sau đồi Quảng Tế. Ngôi chùa này chính là nơi tu đạo của Ngài Đại Lão Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết, Giáo Chủ Phật Giáo Việt Nam thống nhất.

Thích Chánh Trực có nét mặt và dáng dấp của một tên thảo khấu giang hồ, nhưng lại có tài ăn nói, hùng biện, thu hút quần chúng. Thích Chánh Trực là cánh tay mặt và là truyền nhân của Thích Trí Quang, cũng là sơ sở quan trọng của Hoàng Kim Loan trong công tác Tôn Giáo Vận. Mọi cuộc biểu tình của Phật giáo tổ chức, chống đối chính quyền, hắn là nhân vật chính, hướng dẫn, xách động. Thích Chánh Trực là Đảng viên Cộng Sản do Hoàng Kim Loan kết nạp.

Hoàng Kim Loan còn khai, có một khoảng thời gian sau Mậu Thân, vì tình hình an ninh quá căng thẳng, trong thành phố Huế không còn là nơi an toàn cho hắn trú ẩn, vì lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế tổ chức hành quân Cảnh Sát liên miên, lục soát bất chợt. Hoàng Kim Loan đã được Thích Chánh Trực đưa vào trú ngụ với y tại chùa Tường Vân, khoảng trên một năm. Hoàng Kim Loan phát giác Thích Chánh Trực đã có dan díu với một nữ tín đồ và có một đứa con trai với người này. Cũng theo Hoàng Kim Loan, bản chất tên này hung ác, dâm loạn, trẻ không tha, già không bỏ. Có một lần Hoàng Kim Loan bắt gặp hắn hành lạc với một nữ tín đồ ngay trong phòng của hắn, và chính Hoàng Kim Loan đã phê bình với Chánh Trực làm như vậy là ‘thiếu đạo đức cách mạng’, nhưng hắn vẫn chứng nào tật đó. Hắn thường ăn mặn, không ăn chay, thức ăn của hắn do các nữ tín đồ tình nhân đem đến chùa cho hắn, thường là đậu đen được hầm với thịt thái nhỏ, có trời mà biết được hắn ăn mặn.

– Thích Thiện Siêu

Thích thiện Siêu trụ trì Chùa Từ Đàm, đảng viên Cộng Sản do Hoàng Kim Loan kết nạp. Một trong những cơ sở quan trọng Tôn giáo vận của Hoàng Kim Loan. Hắn hoạt động chìm, có trách nhiệm nghiên cứu các đối tượng ở các khuôn hội Phật giáo, các phật tử, cung cấp cho Hoàng Kim Loan để tổ chức, kết nạp.

Sau 1975, Thích Thiện Siêu được Trung ương đảng Cộng Sản tiến cử làm dân biểu Quốc hội.

– Thích Như Ý

Thích Như Ý, trụ trì chùa Trà Am. Cơ sở Tôn Giáo vận. Hoàng Kim Loan tổ chức và kết nạp y vào trước 1963. Chùa Trà Am cũng là trạm giao liên ngoại thành của cơ quan Thành ủy Huế – Huế có hằng trăm ngôi chùa, nhưng có thể nói không một ngôi chùa nào có cảnh trí thanh nhã bằng chùa Trà Am. Nằm cách núi Ngự Bình khoảng bốn cây số đường bộ về hướng nam, trong vùng Tứ Ngũ Tây thuộc quận Hương Thủy. Sau lưng chùa là những đồi thông, một giòng suối chảy ngang trước mặt chùa, muốn vào chùa phải đi qua chiếc cầu nhỏ bắc qua giòng suối, những tàn cây cổ thụ cả trăm năm phủ rợp bóng từ cổng chùa vào đến tận bên trong. Chùa chỉ có hai căn nhà mái ngói rêu phong, đó là khu chánh điện và nhà hậu trai, đâu đâu cũng đầy hoa thơm cỏ lạ, phảng phất mùi hương nhẹ nhàng. Nơi đây là một cảnh tiên trong cõi trần tục. Chùa Long Giáng của Khái Hưng trong Hồn Bướm Mơ Tiên cũng chỉ là một nét nhỏ của chùa Trà Am. Đã bước vào đây thì mọi phiền lụy trong cõi hồng trần đều rũ sạch, vậy mà tiếc thay, bọn Việt Cộng lại dùng nơi đây làm trạm liên lạc, chuyển vận người và dụng cụ về mật khu, ra vào thành phố Huế, và vị sư trù trì là Thích Như Ý lại là cơ sở của Hoàng Kim Loan.

Lời khai của Hoàng Kim Loan làm tôi hồi tưởng lại. Vào mùa hè năm 1970, tôi cũng đã vào ngôi chùa Trà Am bắt Thích Như Ý và đám cơ sở nội thành Việt Cộng đang nhóm họp. Vụ này đã tạo cơn bão chính trị lớn tại thành phố Huế, hàng loạt biểu tình của Phật giáo phản đối chính quyền đàn áp Phật giáo.

Chuyện xẫy ra như sau: Vào khoảng cuối tháng 12/1969, nhiều lần cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài thông báo cho tôi, tại tọa độ… có điện đài đang phát sóng. Dò trên bản đồ quân sự 1/100,000 thì đó là địa điểm của Chùa Trà Am. Hai tháng sau đó, vào tháng 2/1970, qua viên Thiếu tá cố vấn chương trình Phụng Hoàng, CID chuyển cho tôi bốn tấm không ảnh chụp về đêm phát hiện có một toán nhỏ 3 tên Việt Cộng có vũ trang, xuất hiện phía sau nhà hậu trai của ngôi chùa. Ảnh chụp rất rõ ràng. Tôi bàn với Đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB, và sau đó chúng tôi đã thiết lập một trạm bí mật theo dõi, giám sát hàng ngày ngôi chùa này, chỉ ban ngày mà thôi, ban đêm toán theo dõi được rút về, vì đây là khu vực vùng D, vùng xôi đậu, có phần nguy hiểm cho toán theo dõi.

Chỉ không đầy 6 tuần lễ sau, chúng tôi phát giác có một số cơ sở nội thành Việt Cộng, đang nằm trong mục tiêu theo dõi của chúng tôi đã lên hội họp tại đây vào những ngày thứ bảy hoặc chúa nhật, khi mà thiện nam tín nữ thăm viếng chùa đông đảo. Trung tuần tháng 5/1970, cơ sở chúng tôi trong lực lượng Học Sinh, Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế, báo cho biết sẽ có phiên họp của đám cơ sở nội thành tại chùa Trà Am. Vào 6 giờ 30 sáng ngày 19-5-1970, tôi đổ 2 trung đội CSDC và khoảng 20 CSĐB bao vây chặn mặt sau ngôi chùa. Tôi, Đại úy Ân, một số CSĐB và một trung đội CSDC tiến thẳng vào chùa bằng cổng chính. Có lẽ trong chùa đã biết, nên khi chúng tôi vừa vào đến sân, thì gặp ngay vị sư Thích Như Ý đang lơ đãng quét lá vàng vào ban sáng, có ý chặn chúng tôi lại ngay tại đó. Ông làm ra bộ ngạc nhiên cất giọng hỏi chúng tôi:

– Chào Đại úy, ông và anh em Cảnh Sát đi đâu sớm vậy mà sao lại lạc vào đây?

– Bạch Thầy, chúng con không đi lạc, chúng con đang hành quân Cảnh Sát ở vùng này. Bạch Thầy, con là Đại úy Liên Thành, Trưởng ty Cảnh Sát.

– Tôi biết, vội vàng chi, mời Đại úy và anh em vào hậu trai uống tí trà vào buổi sáng.

– Cám ơn Thầy, nhưng anh em đang làm việc.

Tôi đi thẳng vào ngay vấn đề:

– Thưa Thầy, chiều qua có một số thanh niên vào chùa, mãi đến tối không thấy trở ra, con muốn tìm kiếm đám này, vì họ là đám phá rối trị an, cơ sở Việt Cộng.

Ông lạnh lùng nhìn tôi và nói:

– Đại úy Liên Thành, ông thấy đó, cảnh chùa vắng vẽ có ai đâu.

Tôi tự nói với mình: ”A di đà Phật, bậc tu hành sao còn nói láo”

– Vâng, sân chùa vắng vẻ, chẳng có ai, nhưng con nghĩ họ ở trong chùa, vì thế con muốn thầy cho phép soát trong chùa.

– Ông Trưởng ty muốn lục soát chùa cũng được, nhưng ông Trưởng ty có giấy cho phép của Thượng Tọa chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh hay không? Nếu có thì ông Ty cứ tự nhiên, còn bằng không, thì ông Ty không thể vào lục soát được.

– Thưa Thầy, luật pháp quốc gia không có quy định nhân viên Công lực khi thi hành phận sự phải xin phép một tôn giáo nào cả. Bây giờ không phải là năm 1966, CSQG/Thừa Thiên-Huế phải xin phép, tuân lệnh các thầy. Con xin phép Thầy chỉ là vấn đề lịch sự, không phải là thủ tục pháp lý.

Ông nhìn tôi và nặng lời:

– Ông Trưởng ty Liên Thành là con giòng cháu giống, cháu nội Kỳ Ngoại Hậu Cường Để sao lại chạy theo Thiệu Kỳ đàn áp Phật Giáo?

– Con không còn nhớ mình là cháu nội của ai, chỉ biết giờ này là Trưởng ty Cảnh Sát, đang thi hành phận sự của một nhân viên công lực, yêu cầu thầy đứng qua một bên đừng cản trở nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ.

Bốn nhân viên Cảnh sát, hai Đặc biệt, hai Dã chiến, vây ông ta vào giữa. Vừa ngay khi đó thì đơn vị bọc sau lưng chùa dẫn vào năm thiếu niên và một phụ nữ dáng dấp chưa đầy ba mươi tuổi. Trung đội trưởng CSDC có nhiệm vụ chặn phía sau chùa cho biết cả sáu người này từ trong chùa chạy ra thì bị bắt giữ ngay.

Tôi cho lệnh soát chùa nhưng dặn anh em phải hết sức cẩn thận. Mục đích lục soát là kiếm người và tìm điện đài, người đã bắt được rồi. Nhưng điện đài thì thật khó, vì điện đài là một vật nhỏ nếu không biết vị trí cất dấu chính xác thì khó mà tìm dược. Sau gần 45 phút tim kiếm điện đài, chúng tôi đành bỏ cuộc, rời khỏi chùa Trà Am vào hồi 9 giờ sáng, ngày 19-5-1970 mang theo năm thanh niên một phụ nữ cùng thầy Thích Như Ý và một số tài liệu trong đó có một bản Nghị Quyết mới nhất của Trung ương Đảng Cộng Sản Hà Nội, (tôi không còn nhớ đó là bản Nghị quyết số mấy). Tổng Cộng bảy người, tất cả bị bắt đem về Trung tâm thẩm vấn. 3 giờ chiều cùng ngày, ngày 19-5-1970, Phật Giáo bắt đầu biểu tình. Đoàn biểu tình rầm rộ kéo xuống trước Tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo và yêu cầu thả người. Tôi liền cho 3 trung đội CSDC tăng cường giữ an ninh Toà Hành Chánh tỉnh, nhưng không cho lệnh giải tán đoàn biểu tình. Tại Trung Tâm thẩm vấn, Trung Úy Hồ Lang, Trưởng cơ quan G-4 (Trung tâm thẩm vấn), cùng anh Trần Vững, Trưởng ban khai thác tin tức, không gặp khó khăn trong việc thẩm vấn và khai thác tin tức của năm thanh niên và ngươì phụ nữ kia. Y thị nhìn nhận mục đích buổi họp tối hôm đó tại chùa Trà Am là để bố trí công tác cho năm cơ sở nội thành, thực hiện một số mục tiêu phá hoại bằng chất nổ tại một vài cơ sở quan trọng của chính quyền trong thành phố Huế, và đặt chất nổ tại 2 rạp chiếu bóng, đó là rạp Ciné Tân Tân ở đường Trần Hưng Đạo và rạp Ciné Châu Tinh tại đường Chi Lăng quận II thành phố Huế.

Người đàn bà này có tên là Lê thị Út, cán bộ an ninh cơ quan Thành ủy Huế, đã chuyển vận một số chất nổ từ mật khu về chùa Trà Am, và đem cất dấu tại khu nghĩa trang dưới chân núi Ngự Bình. Đợi sau khi y thị họp xong với năm thanh niên cơ sở nội thành này, y thị sẽ chỉ chỗ cất dấu chất nổ cho họ đến lấy và thi hành công tác phá hoại. Đại úy Trương Công Ân, Trưởng phòng CSĐB, cùng với một toán CSĐB đi cùng y thị đến chỗ cất dấu chất nổ, đã tịch thu được một số lượng khoảng 6 Kg chất nổ TNT, và 8 ngòi nổ chậm. Riêng về phần thẩm vấn Thích như Ý thật khó khăn. Hai chuyên viên lỗi lạc trong ngành thẩm vấn là Trung Úy Hồ Lang, Truởng cơ quan G-4 và anh Trần Vững, Trưởng ban khai thác tin tức cũng đã phải nao núng. Bởi lẽ đầu tiên ông ta vẫn mặc y phục của vị tu hành phật giáo, không chịu thay y phục của tù nhân, điều này đã tạo khó khăn về mặt tâm lý và tôn giáo không ít cho thẩm vấn viên. Huế sau 1963, ngoài xã hội có bao nhiêu đảng phái chính trị, bao nhiêu tôn giáo, thì trong lực lượng CSQG /Thừa Thiên Huế đều có bấy nhiêu, tỷ như: Chi Bộ Cảnh Sát Quốc Dân Đảng, Chi Bộ Cảnh Sát Đại Việt Cách Mạng, Chi Bộ Cảnh sát Nhân Xã Đảng, Chi Bộ Cảnh Sát Tân Đại Việt, và nhiều thứ Chi Bộ Cảnh Sát của các đảng phái khác, thật kể không hết. Cũng may là không có Chi bộ Cảnh Sát đảng Cộng Sản, nếu có, thì BCH/ Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế đã trở thành Lực lượng Liên Minh Dân tộc, Hoà Hợp, Hoà giải. Hoa Kỳ, Cộng Sản, và VNCH chẳng cần tốn thì giờ và bút mực ký hoà đàm Paris làm chi cho mệt…

Về Tôn giáo thì có Cảnh Sát Phật Tử, Cảnh Sát Công Giáo v. v.. Đó là thực trạng đáng buồn trong BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế sau 1963. Thật khó khăn cho cho tôi trong việc chỉ huy và điều hành một lực lượng đông đảo trên 5000 nhân viên, có lẽ vì vậy mà chẳng ai muốn thay thế tôi trong chức vụ Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế, và cũng vì thế mà tôi phải ngồi lỳ trong 9 năm trời tại nhiệm sở này. Không một thẩm vấn viên nào chịu phụ trách thẩm vấn Thích như Ý. Đưa người này thẩm vấn thì:

– Thưa ông Ty, em Phật tử, em không dám, xin ông Ty cử người khác.

Giao thẩm vấn viên khác phụ trách, cũng lại:

– Thưa ông Ty, em Công Giáo, sợ mất lòng bên anh em Phật giáo.

Tôi nỗi giận:

– Ông nào cũng là Cảnh sát, cũng là nhân viên công lực, ăn lương chính phủ mà lại từ chối nhiệm vụ giao phó, tại sao lại đưa Tôn giáo vào nơi này? Ông Công Giáo sợ ông Phật Giáo.Ông Phật Giáo sợ một tên Việt Cộng đội lốt tu hành.Được rồi, anh em không làm thì tôi làm.

Tôi thấy ngay trở ngại đầu tiên là tấm áo nâu sồng khoát trên người một kẻ đã lợi dụng màu áo nâu tu hành làm vỏ bọc để hoạt động cho Cộng sản, nhưng lại có giá trị khơi động niềm tin tôn giáo và sự nể trọng các bậc tu hành trong lòng thẩm vấn viên. Vì vậy phải tháo bỏ tấm áo này thì nhân viên thẩm vấn mới khỏi lẫn lộn giữa đạo và đời, giữa vị chân tu và kẻ lợi dụng tôn giáo hoạt động cho địch.

Tôi nói với trưởng cơ quan G-4, Trung Úy Hồ Lang ý nghĩ của tôi, và yêu cầu anh ta lấy áo tù, và tôi sẽ phụ trách chuyện này. Tôi vào phòng thẩm vấn gặp Thích như Ý:

– Nơi này không phải là chùa Trà Am, mà là Trung tâm thẩm vấn, vì thế tôi yêu cầu ông thay áo quần can phạm, ông không bằng lòng tôi vẫn phải thay cho ông, đây là thủ tục bắt buộc.

Miệng nói, tôi tiến về phía ông với bộ áo quần trên tay. Ông ta có vẽ hoảng hốt:

– Tôi thay… Tôi thay… Tôi đã đoán đúng tâm lý của ông ta: Mặc dầu ông ta hoạt động cho Việt Cộng, nhưng bản chất vẫn là một kẻ tu hành, không bao giờ để thân thể trần truồng trước mắt kẻ lạ, vì thế ông hốt hoảng tự động làm việc đó mà không cần đến tôi. Tôi bước ra khỏi phòng và chỉ năm, mười phút sau quay lại, ông ta đã thay xong, mặc bộ đồ đen. Suốt đêm 19-5-1970, Tôi, Ân, trưởng cơ quan G-4 và Trần Vũng, thay phiên nhau thẩm vấn ông ta. Mãi gần trưa ngày hôm sau, đã quá mệt mỏi không chống mỗi với chiến thuật xa luân chiến của chúng tôi, và sau khi cho ông xem lời khai của sáu cơ sở đã bị chúng tôi bắt trong chùa của ông, biết là khó chối cãi, khi đó ông mới bắt đầu khai rõ mọi hoạt động. Tôi còn nhớ ông ta ăn nói thô bạo và tục tĩu còn hơn nhân vật sư Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử của Trung quốc. Trong đời tôi, đây là lần đầu, tôi được nghe được những lời chửi rủa, văng tục từ miệng một kẻ tu hành. tôi ngạc nhiên và xấu hổ. Ông ta lôi từ ông sơ, ông cố của tôi, từ Vua Gia Long, đến ông nội của tôi là Kỳ Ngoại Hầu Cuờng Để ra chửi. Ông ta ví mặt tôi và anh em thẩm vấn viên giống như cái đó… của đàn bà, và là đồ mật thám, chó săn, chạy theo Thiệu, Kỳ đàn áp Phật Giáo. Mỗi lần ông ta văng tục xong tôi lại hỏi ông:

-‘A di Đà Phật’, ông chưởi xong chưa? Sao tu hành mà ăn nói tục tĩu như vậy.

Đây là một câu chuyện thật về ông Như Ý, ngoài tôi, số anh em thẩm vấn viên đã bị ông ta chửi tục hiện định cư tại Hoa Kỳ chắc không quên chuyện đó.

Ngày 20-5-1970 lực lượng Phật Giáo vẫn tiếp tục biểu tình phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, và yêu cầu chính quyền thả người. Cũng trong ngày này, tôi nhận được hai Công điện khẩn cấp, một của Văn phòng Tư Lệnh CSQG, Thiếu Tướng Trần Thanh Phong, và một của Đại Tá Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc Đặc Biệt, yêu cầu tôi báo cáo tình hình và giải thích nội vụ bắt giữ Thích như Ý.

Tôi đánh điện phúc trình nội vụ. Tôi cũng đã tiên liệu trước, vụ này sẽ trở thành lớn chuyện, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Thượng Tọa Thích Trí Thủ, Tổng thư ký Viện Hoá Đạo tại Sàigòn.

Tôi suy nghĩ với tình hình này, nếu để lâu, nội vụ sẽ là cơ hội tốt cho cho nhóm cơ sở Việt Cộng nằm vùng trong Phật giáo tạo ra biến động lớn, và sẽ gây nhiều phiền toái cho chính phủ và nhất là cho chúng tôi. Tôi họp với Ân và một số anh em Sĩ Quan trong ban tham mưu, đưa ra hai giải pháp để giải quyết:

1- Lập hồ sơ nội vụ thật nhanh để giải tòa, hoặc đưa ra Hội Đồng An Ninh Tỉnh với tội danh: Hoạt động cho Việt Cộng và âm mưu phá rối trị an, và nếu cần họp báo công bố nội vụ.

2- Thương lượng, trao đổi trực tiếp, với Giáo Hội Phật Giáo tại Huế. Anh em đều chọn giải pháp thứ hai. Tiên lễ, hậu binh. Thương lượng trước.

8 giờ tối ngày ngày 21-5-1970, tôi lên Chùa Linh Quang gặp Thượng Tọa Thích Mật Nguyện với đầy đủ hồ sơ của Thích như Ý và đồng bọn. Chùa Linh Quang nằm trong khu vực Từ Đàm, phía sau lăng Cụ Phan Bội Châu.

Thượng Tọa Thích Mật Nguyện là một vị cao tăng đức hạnh, đối với Phật Giáo đồ và ngay cả những người ngoại đạo, những ai đã gặp ông đều phải nể trọng, cung kính.

Năm 1968, khi Thích Đôn Hậu thoát ly ra Hà Nội, Hoà Thượng Thích Mật Nguyện được Giáo Hội đề cử vào chức Chánh Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh thay thế Thích Đôn Hậu.

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung11.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 10/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 10

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

CHỐNG BẦU CỬ TỔNG THỐNG NHIỆM KỲ II – 1971

Tình hình chính trị lại sôi động trở lại, Hoàng Kim Loan và Phật Giáo Ấn Quang tại Huế dùng sinh viên, học sinh và tín đồ Phật Giáo phát động một vụ biến động mới tại Huế: Chống bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ II.

1971 là năm bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ II vào ngày 1-10 1971. chỉ độc nhất có một liên danh ra ứng cử là liên danh Nguyễn Văn Thiệu- Trần văn Hương, vì thế báo chí đối lập gọi cuộc bầu cử này là “Bầu cử độc diễn”.

Phật giáo Ấn Quang chống đối mãnh liệt ‘Bầu cử độc diễn’. Các khuôn hội Phật giáo, Tỉnh Hội Phật giáo được lệnh chỉnh đốn hàng ngũ để chờ lệnh ‘Thầy’ hành động. Hoàng Kim Loan nhảy vào cuộc, mọi cơ sở nội, ngoại thành, nằm trong Phật giáo, học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba được lệnh sẵn sàng tham chiến. Ngoài hai lực lượng kể trên, còn có những thành phần đối lập, phe nhóm chính trị chống đối Tổng thống Thiệu, đã âm thầm nhảy vào ăn có, tạo cho tình hình chính trị, an ninh tại Huế vừa phức tạp, vừa nguy hiểm.

Đương nhiên, tôi có nhân viên nằm vùng trong mọi tổ chức của bọn họ nên nắm vững và rõ ràng kế hoạch hành động của bọn chúng trong ngày bầu cử. Bọn chúng áp dụng kỹ thuật tác chiến của Tướng Trung Cộng Lâm Bưu:

Dùng 5 mũi giáp công tiến vào thành phố (ba mũi đã chết ngắc, huống gì năm mũi), đồng thời tại trung tâm thành phố bọn chúng dùng chiến thuật ‘Nở hoa trong lòng địch’.

– Năm mũi giáp công đó là 5 đoàn biểu tình, mỗi đoàn khoảng hơn 1 ngàn người kéo vào thành phố từ 5 hướng khác nhau: Từ Đàm, An Cựu, Đập Đá, Bao Vinh, An Hoà.

– Nở hoa trong lòng địch là lực lượng Sinh Viên Đại Học Huế, và Tiểu thương chợ Đông Ba.

Bộ chỉ huy điều khiển cuộc biểu tình này đóng tại Đại Học Văn Khoa ngay đầu cầu Tràng Tiền, đối diện với đài phát thanh Huế, do nhóm sinh viên cơ sở nội thành của Hoàng kim Loan chỉ huy. Trước một ngày xảy ra biến động (ngày bầu cử Tổng Thống VNCH, nhiệm kỳ II), tôi làm phiếu trình Đại tá Tỉnh Trưởng về lực lượng, kế hoạch hành động của Phật Giáo Ấn Quang và đám sinh viên tranh đấu vào sáng sớm ngày hôm sau, ngày bầu cử 1-10-1971. Cuối bản phúc trình tôi còn nhớ tôi đã viết: ”Xin Đại Tá Tỉnh Truởng ban chỉ thị cho Ty tôi thi hành”. Phúc trình gởi đi, chẳng thấy hồi âm, Đại Tá Tỉnh trưởng chẳng có một chỉ thị nào.

Trong đêm trước, sau khi phân phối công việc cho mọi cấp chỉ huy, tôi cho rút các đơn vị CSDC hiện đang tăng phái cho các quận yểm trợ cho chương trình Phụng Hoàng cấp tốc về BCH tỉnh.

7:30 sáng ngày 1-10-1971, ngày bầu cử Tổng Thống, các điạ điểm thùng phiếu bắt đầu mở cửa cho dân chúng đi bầu, Đại tá tỉnh Trưởng gọi tôi đến gặp ông tại sân bay trực thăng ngay trước trường Quốc học:

– Đại úy, tôi đã đọc phiếu trình của anh hồi đêm. Tôi chẳng có chỉ thị gì cho anh cả. Tốt hơn anh nên liên lạc với Tư Lệnh của anh tại Sàigòn để xin chỉ thị của ông ta. Bây giờ tôi phải đi thanh tra Quận, mọi chuyện anh liên lạc máy báo cáo cho tôi biết.

Nói dứt câu, ông bắt tay tôi bước lên trực thăng, máy bay cất cánh. Tôi chưa kịp nói một lời nào, nhìn lên cao bóng dáng chiếc trực thăng chỉ còn là một chấm nhỏ giữa bầu trời xanh biếc. Một thoáng buồn chợt đến với nỗi bất bình trong lòng.

Ông là Tỉnh Trưởng, Hiến Pháp VNCH đã quy định quyền hạn và nhiệm vụ của ông. Ông là Tổng Thống tại địa phương này. Ông có đầy đủ quyền hạn để ra lệnh cho thuộc cấp, cùng gánh trách nhiệm với thuộc cấp, đó là trách nhiệm và bổn phận của ông. Tại sao lại phủi tay?

Huế là trung tâm điểm của những trận cuồng phong chính trị, cơn lốc có thể kéo đến tận Sàigòn và giựt sập chính phủ Trung ương. Vì vậy mà đã hơn một tuần nay, Ông Nguyễn văn Ngân, Phụ tá Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và bộ tham mưu của ông đã có mặt tại Tòa Đại Biểu Huế, tiếp xúc với thân hào nhân sĩ, đảng phái chính trị, tôn giáo, mưu tìm sự hổ trợ cho Tổng Thống Thiệu, và cũng để theo dõi, giám sát cuộc bầu cử.

Một vài ngày truớc ngày bầu cử, theo chỉ thị, tôi cũng đã gặp ông Nguyễn văn Ngân và bộ tham mưu của ông để trình bày mọi tin tức liên quan đến cuộc bầu cử, đặc biệt là những tin tức Phật Giáo Ấn Quang kết hợp với lực lượng Sinh Viên sẽ phá rối, ngăn chặn cuộc bầu cử, và kế hoạch bảo vệ an ninh, duy trì trật tự của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế trong ngày bầu cử. Bây giờ 8 giờ sáng ngày bầu cử, 1-10-1971, Huế sắp phải gánh chịu tai ương, gây rối loạn, bạo động trong thành phố của Phật Giáo Ấn Quang và đám cơ sở học sinh, sinh viên “Giải Phóng” của Trung tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan, lần này cũng tương tự như cuộc nổi loạn của họ vào tháng 6-1966.

Tôi không có một chỉ thị nào, một lệnh lạc nào của thượng cấp, cho dù là khẩu lệnh, để đối phó với tình hình nguy kịch này. Tôi hiểu, nếu tôi có xin lệnh vị Tư Lệnh trực tiếp của tôi, ngành CSQG tại Trung ương cũng bằng thừa. Lý do dễ hiểu: ông Tư Lệnh ở xa nơi xảy ra biến động cả trên 1200 cây số, làm sao nắm vững tình hình để cho lệnh tôi hành động, và lẽ đương nhiên ông không thể chen vào quyền hạn của Tỉnh Truởng tại địa phương, vì đây là vấn đề chính trị rắc rối nhiều mặt, và hậu quả sẽ vô cùng tai hại nếu tôi hành động sai.

Tôi hiểu, lệnh hành động giờ này không xuất phát từ đâu xa, mà từ lý trí, trách nhiệm và bổn phận của tôi, của một người cầm đầu lực lương CSQG tại Thừa Thiên Huế và của tất cả anh em Sĩ Quan và Hạ sĩ quan thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Chúng tôi có trách nhiệm và bổn phận duy trì luật pháp quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ sinh mạng đồng bào. Đã nắm rõ mục đích, bản chất của đám sẽ gây rối loạn là ai, tôi quyết định đàn áp không nương tay với đám gây rối bạo động này.

Khoảng 9 giờ 10 sáng 1-10-1971, năm đoàn biểu tình từ các quận nông thôn kéo lên thành phố đã xuất hiện tại 5 cửa ngõ ra vào thành phố Huế, đại đa số lực lượng này là người của các khuôn hội Phật Giáo tại các quận. Các đoàn biểu tình không gặp trở ngại tại năm cửa ngõ vào thành phố, họ không bị ngăn chặn bởi lực lượng Cảnh Sát, thật ra điều này nằm trong kế hoạch của tôi. Tôi muốn để họ vào và trực diện với họ một lần cho xong, tôi không đủ lực lượng CSDC để trấn áp bạo động và giải tán biểu tình từng điạ điểm. Với quân số 500 CSDC, nếu xé lẻ thì nỗ lực chính tại trung tâm thành phố sẽ yếu đi, khó đương đầu nổi với lực lượng biểu tình của bọn họ gần mười ngàn người.

9 giờ 40 phút sáng 1-10-71 , lực lượng biểu tình đã tập trung đông đảo tại hai địa điểm:

1- Đường Phan Bội Châu, đường Trần Hưng Đạo, ngay mặt tiền của Ty Thông Tin cạnh đầu cầu Tràng Tiền là hai dãy phố chính của thành phố, và khu chợ Đông Ba ngay trung tâm thành phố, vào khoảng 4, 5 ngàn người, đủ mọi thành phần học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba, và lực lượng của 2 mũi giáp công An Hoà, Bao Vinh kéo đến.

2- Trong và ngoài khuôn viên Đại Học Văn Khoa, Đài phát thanh Huế, dọc đường Lê Lợi, Duy Tân, khoảng 3 ngàn Sinh viên, Học sinh, cộng thêm lực lượng của 3 mũi giáp công Đập Đá, An Cựu, Từ Đàm nhập vào. Cũng tại khuôn viên Đại học Văn khoa, loa phóng thanh của lực lượng biểu tình bắt đầu kêu gọi học sinh, Sinh viên bãi khóa, mọi nơi đình công bãi thị xuống đường chống bầu cử ‘độc diễn’. Mọi sinh hoạt bình thường của dân chúng trong thành phố bị ngưng đọng, giao thông trong thành phố và các tuyến đường đi Huế-Đà Nẵng, Huế-Quảng Trị bị cắt đứt hoàn toàn, cảnh tượng chẳng khác gì những ngày xáo trộn của cuộc tranh đấu Phật Giáo vào tháng 6-1966 tại Huế.

Để chống bạo loạn và dẹp tan đám biểu tình, bảo vệ an ninh cho ngày bầu cử, đêm hôm trước BCH chúng tôi đã họp bàn soạn kế hoạch đối phó. Tôi xử dụng và phối trí lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế như sau:

– 500 CSDC ( Đại đội 102 CSDC)

– 400 Cảnh sát sắc phục

– 600 Cảnh Sát Đặc Biệt cộng Biệt đội Thiên Nga.

– Biệt Đội Hình cảnh.

Lực lượng được chia làm hai phần, nỗ lực chính và nỗ lực phụ.

– Nỗ lực chính do tôi chỉ huy cùng với Đại Úy Trần văn Tý Đại đội trưởng 102 CSDC.

– Nỗ lực phụ do Đại úy Trương văn Vinh Chỉ huy Phó chỉ huy cùng với Đại úy Bác sĩ Hồ, Đại đội phó 102 CSDC.

Đại úy Trương công Ân, Trưởng phòng Cảnh Sát Đặc Biệt, tung 600 nhân viên trà trộn vào các đám biểu tình ghi nhận mọi tin tức quan trọng thông báo ngay để kịp thời phản ứng, đồng thời bắt giữ các thành phần nòng cốt trong đám biểu tình.

Khác với những lần giải tán biểu tình trước đây, lần này tôi cho lệnh trang bị tối đa lựu đạn cay cho lực lượng trấn áp bạo động, và cho lệnh các đơn vị xử dụng tối đa, tổng cộng gần 2 ngàn lựu đạn cay được phân phối cho các đơn vị.

Kim đồng hồ chỉ đúng 10 giờ sáng ngày 1-10-1971, cuộc bạo động tại thành phố Huế bắt đầu.

Tại Quận II trung tâm của thành phố, đoàn biểu tình bắt đầu di chuyển từ đường Trần Hưng Đạo, ngang qua chợ Đông Ba, tiểu thương chợ Đông Ba ào ra, nhập vào đoàn biểu tình. Đại Úy Trương Công Ân, Trưởng phòng CSĐB báo về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, số lượng đồng bào biểu tình tại quận II khoảng hơn 6 ngàn nguời.

Tại Khu Đại Học Văn Khoa số lượng học sinh, sinh viên tập trung khoảng gần 5 ngàn, họ đang có ý định kéo sang cầu Tràng Tiền nhập vào với đoàn biểu tình Quận II.

Tôi nói với ông phó Trưởng Ty Trương Văn Vinh:

– Mình xuất phát, anh đổ quân bao vây khu Đại học Văn Khoa, và chặn ngay bên này cầu Tràng Tiền không cho bọn chúng kéo sang nhập với đoàn biểu tình Quận II. Cố gắng cầm chân bọn họ, đợi tôi giải tán đám biểu tình ở Quận II xong, giao lại cho Đại úy Tý tôi sẽ quay sang với anh ngay.

Xe tôi dẫn đầu theo sau là xe Đại úy Tý, băng qua cầu Tràng Tiền vừa đến đoạn cuối của chiếc cầu thuộc phạm vi Quận II. Tất cả đoàn xe phải dừng lại, ngay trước mặt tiền của Ty Thông Tin đường Trần Hưng Đạo, sát ngay đầu cầu Tràng Tiền, lửa khói đã bốc cao từ một đống khoảng 40 vỏ xe hơi. Ân cũng báo cho biết một số địa điểm bỏ phiếu bị đập phá, một vài nơi khác đang bị đốt cháy.

Tôi gọi máy nói với Đại úy Tý:

– Tý, mình dừng tại đây, đổ quân. Cho lệnh các Trung đội đi bộ và giàn đội hình, mình sẽ tiến sát và khi đối diện với đám biểu tình thì anh cho lệnh dừng lại.

– Nhận rõ thẩm quyền. Nhìn cách dàn quân, bố trí đội hình, phải công nhận Đại úy Tý là một tay chuyên nghiệp giải tán biểu tình, không chê vào đâu được. Khi đụng việc, Tý là một sĩ quan trầm tĩnh, cương quyết, cứng rắn. Đại úy Tý là một Sĩ Quan CSQG rất trẻ, đẹp trai, còn độc thân, tay chơi thứ thiệt, một tay nhậu thuộc loại trời nghiêng đất lở. Mấy ông quan ba, quan tư, Nguyễn Lô, Lê văn Mễ, Phạm Như Đà Lạt, Phan Nhật Nam trong sư Đoàn Nhảy Dù đấu tay đôi với hắn, chưa chắc đã thắng nỗi hắn. Hắn mang chiến tích đầy người vì nhậu, nướng mực khô với rượu đế, rượu bốc cháy, hắn bị phỏng đầy người ở cấp độ hai, ba mươi phần trăm. Tôi phải gởi hắn ra Hạm đội Mỹ chữa trị. Về lại đơn vị hắn tiếp tục nhậu.

Ngoài Tý, đại đội 102/CSDC còn có những Thiếu uý Trung Đội trưởng cự phách như Thiếu úy Hoàng Công Sủng, Thiếu úy Nguyễn Thế Quang, Thiếu Úy Truật, họ là những sĩ quan rất trẻ, năng động và là những chuyên viên trấn áp bạo động thứ thiệt của đaị đội 102 Cảnh Sát Dã Chiến.

Tôi, Tý và khoảng 300 CSDC đối diện với đám biểu tình khoảng trên 5 ngàn người. Một rừng biểu ngữ đả đảo ‘Bầu cử độc diễn’, đả đảo Tổng thống Thiệu, và nhiều thứ đả đảo loạn xà ngầu chẳng đâu vào đâu. Đứng đầu đoàn biểu tình là một lũ đầu trâu mặt ngựa. Khoảng hơn 1 trăm tên, không biết từ đâu ra, bắt đầu văng tục, la hét, chửi bới um xùm, chửi ông Thiệu, ông Kỳ, ông Khiêm và thậm tệ nhất là ông Liên Thành.

Tôi lấy trong túi áo giáp ra băng cờ biểu tượng cho Quốc gia khoác ngang vào người. Đó là thủ tục pháp lý khi giải tán biểu tình, và bắt đầu dùng loa phóng thanh nhân danh đủ thứ để kêu gọi đám biểu tình. Tôi còn nhớ đại khái lời kêu gọi có nội dung như sau:

– ”Nhân danh luật pháp Quốc gia, nhân danh Tổng Thống VNCH, tôi yêu cầu đồng bào giải tán, bằng không, buộc lòng nhân viên Công lực phải hành động giải tán cuộc biểu tình này. Mọi cản trở lưu thông, ngăn cản sinh hoạt của dân chúng trong giờ này là vi phạm luật pháp Quốc Gia, yêu cầu đồng bào giải tán. Đây là lần đốc thúc thứ nhất”

Luật pháp quy định phải kêu gọi ba lần, mỗi lần cách nhau 5 phút.

Tôi và Tý đã giải tán hằng chục lần biểu tình trong vòng 5 năm nay, nên đến lần đốc thúc thứ nhì, Tý cho lệnh anh em mang mặt nạ chống hơi cay và sẵn sàng hành động.

Tôi nhắc lại với Tý:

– Anh nhớ dặn lính bắn phi tiễn sát đất, cấm không được bắn trực xạ. Lỡ có ai bị thương, tình hình thêm rắc rối. Mình sẽ đẩy đoàn biểu tình chạy về cầu Gia Hội, chặn đường Phan Bội Châu, chừa đường Chi Lăng cho họ chạy, sau đó anh canh giữ cầu Gia Hội không cho họ kéo lên nữa. Sau khi kêu gọi lần thứ 3, tôi sẽ bắn quả phi tiễn đầu tiên vào đám biểu tình và ngay lập tức anh cho lệnh đơn vị xử dụng tối đa phi tiễn và lựu đạn cay đẩy lui đám biểu tình.

Vừa dứt lời đốc thúc lần thứ 3, tôi bắn quả phi tiễn đầu tiên sát mặt đất, vào ngay đám biểu tình. Lập tức hằng trăm quả lựu đạn cay và phi tiễn được tung vào đám biểu tình. Đám biểu tình dùng bao nylon che mặt chống hơi cay, dùng những bom xăng chống trả với lực lượng CSDC. Bom xăng được chế tạo bằng cách đổ xăng vào chai với một số vòng cao su, trên miệng chai là một nùi vải, châm lửa và ném vào CSDC, thường gọi là bom lửa Molotov. Tôi cũng chẳng biết tại sao có danh từ này.

Đám biểu tình chịu đựng và chống trả được cuộc tấn công của CSDC đợt lựu đạn cay đầu tiên, nhưng đợt tấn công lần thứ 2 thì họ hết chịu nổi. Đoàn biểu tình lùi dần phía cầu Gia Hội. Mặt nạ chống hơi cay còn chịu không nổi, bao nylon và vài quả chanh có sá gì với gần cả ngàn quả lựu đạn cay chúng tôi tung vào.

Bây giờ thì thành phố Huế đầy khói của lốp xe hơi bị đốt và lựu đạn cay, Huế ngày xưa trong buổi thanh bình của thi sĩ Hàn Mạc Tử với: ‘Ở đây sương khói, mờ nhân ảnh’ đã không còn nữa. Mà ‘suơng khói mờ hơi cay’, ngày hôm nay, vào giờ này, không phải của thiên nhiên, của trời, của đất, của Hàn Mạc Tử, mà là khói lựu đạn cay, của lực lượng CSQG/ Thừa Thiên-Huế đang chống biểu tình.

Khói lựu đạn cay bồng bềnh giăng đầy phố Huế, từ đường Trần hưng Đạo, chợ Đông Ba, Phan Bội Châu, Hàng Bè, Bạch Đằng, Chi Lăng, Chùa Diệu Đế, đến tận Gia Hội, Bãi Dâu, mơ màng trên sông Huơng, qua đến quận III, khu Đại Học, Tòa Đại Biểu,và lang thang từ đường lớn, đường nhỏ đến tận hang cùng ngõ hẻm trong thành phố Huế.

Quần thảo với đám biểu tình này khoảng hơn một giờ chúng tôi mới đẩy lui họ qua được vùng Chi Lăng, Gia Hội, đoàn biểu tình chạy toán loạn và giải tán.

An ninh trật tự đã vãn hồi tại Quận II vào khoảng 12 giờ trưa ngày 1-10-1971. Tôi yêu cầu ty Thông Tin dùng xe phóng thanh kêu gọi đồng bào trong quận đi bỏ phiếu.

Qua hệ thống máy Motorola, tiếng của Đại úy Vinh Chỉ huy phó gọi tôi:

– Thẩm quyền, ông qua gấp bên này, bọn chúng bắt đầu đốt Đại học Văn Khoa.

– Nhận rỏ, tôi và Tý sang ngay, bình tĩnh.

Tôi giao trách nhiệm lại cho Đại Úy Ngô Trọng Thành, Chỉ Huy Trưởng CSQG quận II, tôi cùng với Đại Úy Tý và lực lượng CSDC quay sang Khu Đại học Văn Khoa.

Đại học Văn Khoa nằm ngay đầu cầu Tràng Tiền thuộc quận III. Đối diện với đài phát thanh Huế và trường trung học Kiểu Mẫu, mặt tiền là giao điểm của đường Lê Lợi và Duy Tân. Chúng tôi vừa đổ quân ngay ngã tư Lê Lợi-Duy Tân, cạnh Đài phát Thanh Huế, nhìn lên trên sân thượng của lầu Đại học Văn khoa đã thấy lửa bắt đầu cháy phía mặt tiền của Đại học Văn Khoa rồi.

Lực lượng biểu tình ở đây cũng đông không khác gì bên quận II. Bọn họ chia làm 3 toán: một toán ở góc đường Lê Lợi, một toán ở góc đường Duy Tân, một toán trong khuôn viên Đại học và trên sân thượng lầu Đại học Văn Khoa.

Năm anh em chúng tôi Vinh, Ân, Tý, Hồ và tôi đứng ngay tại lề đường đối diện với Đại học Văn Khoa, tôi chia phần cho 4 Đại uý:

-Đường Lê Lợi phần của Đại Úy Tý, Đại đội trưởng.

-Đường Duy Tân là phần của Đại đội phó Bác sĩ Hồ.

-Đại úy Vinh chỉ huy phó chia đôi lực lượng tăng cường cho Tý và Hồ. Đại úy Vinh đi với lực lượng Đại uý Hồ.

-Tôi lãnh phần tấn công thẳng vào Đại học Văn Khoa.

Tôi nói nhỏ với Vinh, Ân, Hồ, Tý … Cả 4 đại úy đều khen ý kiến hay. Tôi cười nhìn họ:

– Bọn mình hay từ lâu rồi. Khi Ân thi hành kế hoạch.. . xong, đợi tôi nói dứt câu: ‘Đây là lần đốc thúc thứ 3’ là tấn công ngay, xử dụng tối đa lưụ đạn cay, cho lệnh bắn trực xạ phi tiễn vào các cửa kính để đưa hơi cay vào trong khuôn viên đại học.

Ân lặng lẽ đi thi hành kế hoạch, chúng tôi đợi Ân…

Chỉ 15 phút sau một xe Dodge của Cảnh Sát mệt nhọc lăn bánh chạy chậm ngang qua đoàn biểu tình đến ngay mặt tiền Đại học Văn Khoa thì xe bị hư máy không chạy được nữa. Tài xế xuống xe, mở nắp xe cúi mình vào sửa chữa, thì bỗng trong đám biểu tình có nhiều tiếng la lớn:

Đốt xe Cảnh Sát,… đốt xe Cảnh Sát…

Một nhóm người trong đám biểu tình xông ra đổ xăng châm lửa, ngọn lửa bốc cao chiếc xe bắt đầu cháy lớn.

Như vậy là quá đủ, vừa đốt cháy Đại học Văn khoa, vừa đốt xe nhân viên công lực, đám biểu tình đã vi phạm luật pháp một cách trầm trọng:

Phá hoại tài sản Quốc gia, nhân viên công lực buộc lòng phải can thiệp. Đám biểu tình và sinh viên không còn to miệng la lớn: ‘ Đại Học tự trị’. Chúng tôi sẽ xông thẳng vào khuôn viên Đại học để dẹp bọn quá khích này, tái lập an ninh trật tự, và bảo vệ tài sản Quốc gia.

Tôi vừa dứt câu: ‘Đây là lần đốc thúc thứ 3’. Tý ở góc đường Lê Lợi, Hồ ở góc đường Duy Tân bắn hàng lọat phi tiễn và lựu đạn cay vào hai đoàn biểu tình. Phần tôi cho lệnh bắn trực xạ vào tất cả các cửa kính của trưòng Đại học Văn khoa nằm về phía đường Lê Lợi và Duy Tân để chuyển hơi cay vào khuôn viên Đại học.

Đám biểu tình và sinh viên phản công lại bằng bom xăng Molotov, hàng trăm chai xăng đỏ lửa bay tới tấp về phía chúng tôi, một vài Cảnh Sát Dã Chiến bị phỏng nhẹ vì bom xăng.

Hai đoàn biểu tình la hét vang dội cả khu Đại học: ‘Đả đảo Nguyễn văn Thiệu, đảù đảo ‘Bầu cử độc diễn’, đả đảo Liên Thành đàn áp học sinh sinh viên. Yêu cầu đồng bào đình công bãi thị, bãi khoá, chống bầu cử độc diễn, v.v…’

Khói lựu đạn cay và phi tiễn hòa lẫn với khói bom xăng bay mù mịt phủ kín cả khu đại học Văn khoa. Sau đợt tấn công lần đầu của CSDC, đám biểu tình vẫn chưa nao núng, vẫn la hét chửi bới, vẫn tiếp tục ném hằng loạt bom xăng vào CSDC. Tôi gọi máy nói với Tý, Vinh và Hồ:

– Chuẩn bị tấn công đợt 2, sau khi xử dụng lựu đạn cay và phi tiễn, xông vào cận chiến, không nhân nhượng được nữa.

Tôi hỏi Tý:

– Anh cần tôi tăng cường cho anh không? Vì đám biểu tình bên phía anh quá đông.

– Không cần thẩm quyền, vừa rồi tôi chỉ mới mời họ ăn điểm tâm, bây giờ tôi mời họ ăn trưa, ông yên tâm, mười lăm phút nữa là xong.

– Vinh, Hồ, hai anh cần tăng cường không?

– Chúng tôi dư sức chơi với bọn này, thẩm quyền lo cho Tý đi, bên cánh Tý nặng hơn chúng tôi.

Sau nhiều loạt lựu đạn cay và phi tiễn, cả hai cánh quân đều xông vào cận chiến với đám biểu tình bằng khiên và gậy cao su.

Bây giờ là 12 giờ 40 trưa ngày 1-10-1971, nắng thu vàng không đủ xuyên qua làn khói hơi cay, cả khu Văn khoa, Lê Lợi, Duy Tân mịt mù chìm trong khói xám dày đặc. Chỉ cách nhau khoảng năm mười thứơc đã thấy mờ nhân ảnh. Hơi cay thấm vào da thịt, vào mắt vào mũi, tượng đá cũng phải tuôn lệ có xá gì mặt nạ hoặc bao nylon. Cảnh Sát Dã Chiến và cả đám biểu tình đều khóc, tuôn trào nước mắt không ngưng.

Đám biểu tình không còn chịu nổi sức ép cận chiến quá mạnh của Tý, Vinh và Hồ, hai đám biểu tình lùi dần… lùi dần. Cuối cùng cánh quân của Tý dẹp tan đoàn biểu tình ngay tại khu thư viện đại học, đối diện với Câu lạc bộ thể thao – Cánh quân của Vinh và Hồ đẩy đám biểu tình chạy dài đến ngã tư Duy Tân và Lê Thánh Tôn, đám biểu tình tự động tan hàng, rã đám. Tý gọi tôi:

– Xong rồi thẩm quyền, tôi để lại một trung đội chặn ngay khu đó.

– Đồng ý, số còn lại, anh kéo hết về ngay nhà thuốc tây Lê đình Phòng, tôi đợi anh ở đó.

– Nhận rỏ thẩm quyền.

Tôi gọi máy cho Đại úy Hồ:

– Ông Bác sĩ, phía ông và Đại uý Vinh xong chưa?

Dân trí thức, khoa bảng của bộ chỉ huy CSQG/Thừa Thiên-Huế văng tục:

– Xong lâu rồi thẩm quyền. Chỉ mười phút là xong ngay, giống như đi vào động…

– Chưa xong đâu ông bác sĩ, để lại một trung đội giữ khu đó, số còn lại kéo hết về đây. Mình dứt điểm khu Đại học Văn khoa.

Mười phút sau, chúng tôi gặp nhau tại ngã ba Lê Lợi -Lý thường Kiệt cạnh nhà thuốc tây Lê đình Phòng, đối diện với cổng vào Đại học Văn Khoa.

Bây giờ chỉ còn mục tiêu cuối cùng là Đại học Văn khoa, nơi bộ chỉ huy đầu não của cuộc biểu tình, theo phân chia từ trước, tôi chỉ huy thanh toán mục tiêu này.

Lực lượng của Vinh, Hồ, làm thành phần trừ bị vòng ngoài, tôi, Tý chỉ huy 3 trung đội CSDC, Đại úy Ân với hơn một trăm CSDB xông thẳng vào khuôn viên Đại học Văn Khoa.

Tôi dặn Ân và Tý:

– Ân, đám đầu não hốt trọn gói đem về trung tâm thẩm vấn. Tý, số sinh viên, học sinh còn lại là đám a dua, ham chơi, chừa đường cho bọn hắn chạy. Còn lại bao nhiêu lựu đạn cay và phi tiễn dùng hết, Đại úy Vinh đã gọi về Đại úy Trinh TTHQ/Cảnh Lực yêu cầu tái tiếp tế rồi anh khỏi lo. Tý dàn đội hình, tôi và Tý đứng ngay hàng đầu với phi tiễn cầm tay, 3 trung đội đã mang mặt nạ chống hơi cay, tôi và Tý vẫn đội trên đầu chưa kéo xuống mặt.

Loa phóng thanh trong khuôn viên Đại học Văn khoa có lẽ đã bị hơi cay quá nhiều nên tiếng nói vừa rè vừa ấp úng:

– Đả đảo Đại úy Liên Thành, Đại úy Trần Văn Tý đàn áp sinh viên, học sinh.

– Yêu cầu Đại úy Liên Thành tôn trọng ‘quy chế Đại Học tự trị’, lực lượng Công An Cảnh Sát không có quyền xâm phạm vào khu đại học Văn Khoa…

Tôi dùng loa trả lời họ:

– Quy chế Đại học tự trị trong hoàn cảnh này không còn được nhân viên công lực tôn trọng, các anh đã dùng công ốc của đại học biểu tình chống đối chính phủ. Các anh đã vi phạm luật pháp khi nổi lửa đốt đại học Văn Khoa, hủy hoại tài sản quốc gia, đốt xe của nhân viên công lực khi đang thi hành phận sự. Tôi cho phép năm phút để lực lượng biểu tình đang chiếm giữ khu đại học phải giải tán, bằng không, để bảo vệ tài sản quốc gia, tái lập an ninh trật tự, lực lương CSQG/Thừa Thiên- Huế buộc lòng phải can thiệp.

Tiên lễ, hậu binh, sau 5 phút chờ đợi, tôi xoay qua Tý và Ân:

– Mình bắt đầu.

Sau hai trái phi tiễn của tôi và Tý bắn đi, hàng loạt, hàng đợt phi tiễn và lựu đạn cay được gởi vào đại học Văn Khoa. Khoảng gần hai trăm Cảnh Sát Dã Chiến và Cảnh Sát Đặc Biệt xông vào sân trường Đại học Văn khoa, vì địa thế quá hẹp không khai triển đội hình được. Tôi nói nhanh với Tý:

– Mình chia đôi lực lượng. Anh bên mặt, tôi bên trái. Xử dụng thêm một đợt lựu đạn cay nữa, ép đẩy bọn chúng ra cổng chính.

Khói cay bay mù mịt, đám sinh viên phản công bằng hàng loạt bom xăng tung vào chúng tôi. Hơi xăng và hơi cay trộn lẫn vào nhau, sức trâu còn không chịu nỗi huống gì sức người. Tôi và Tý đều cho gia tăng tối đa hơi cay và xông thẳng vào cận chiến với đám sinh viên. Hai cánh quân của tôi và Tý một bên phải, một bên trái khép chặt vòng vây, đẩy đám sinh viên vào giữa và đẩy họ ra cổng chính của khu đại học Văn Khoa.

Đám sinh viên vừa thoát ra được cổng chính chạy về hướng đường Lê Lợi gặp ngay lực lượng của Hồ. Hồ đẩy họ lui, chạy về hướng đường Lý Thường Kiệt, Trần Cao Vân. Hồ cho 3 trung đội rượt theo đến ngay ty Bưu Điện Huế, đám sinh viên tan hàng. Trong khi đó, lực lượng CSĐB của Đại úy Ân đã bắt giữ toàn bộ đám sinh viên nòng cốt của cuộc biểu tình.

Chúng tôi chiếm lại và kiễm soát khu đại học Văn Khoa vào khoảng 1 giờ 45 trưa ngày 1-10-1971.

2 giờ 30 ngày 1-10-1971 an ninh trật tự đã được tái lập. Sinh hoạt bình thường của dân chúng đã vãn hồi, phố phường mở của trở lại, khu chợ Đông Ba mọi người lại tấp nập mua bán, và đồng bào lũ lượt kéo đến địa điểm bỏ phiếu.

Huế trong triền miên biểu tình, hàng tháng, hàng năm, vì thế mà người Huế đâm ra thành thói quen, cứ sau mỗi lần hít thở hơi lựu đạn cay, họ lại tỉnh bơ trở lại sinh hoạt bình thường, xem như không có hơi cay thì… nhớ. Có rồi lại thôi, hết nhớ…

9 giờ 30 phút tối 1-10-71 các địa điểm bỏ phiếu trong toàn tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế đóng cửa.

11 giờ 45 khuya ngày 1-10-71 trung tâm kiểm phiếu trung ương đặt tại toà Hành Chánh tỉnh kiểm phiếu xong. Liên danh Nguyễn văn Thiệu-Trần văn Hương thắng phiếu tại Thừa Thiên- Huế.

Trường hợp vị Tỉnh Truởng tỉnh Thừa Thiên,Thị trưởng thành phố Huế. Ông làm Tỉnh Trưởng là làm một nghề Chính trị, nhưng ông đã đánh sai ván cờ chính trị lần này. Vì vậy mà chỉ vỏn vẹn có mấy giờ, sau khi Trung tâm kiểm phiếu tại toà hành chánh tỉnh Thừa Thiên-Huế thông báo kết quả bầu cử, thì 9 giờ sáng ngày hôm sau, 2-10-1971 ông bị cách chức, bàn giao chức vụ lại cho Đại Tá Tôn Thất Khiên Tỉnh Trưởng Tỉnh Quảng Trị vào thay thế.

Từ 10 giờ sáng ngày 2-10-1971, hầu hết các cơ quan Tình báo hoạt động tại Huế đến gặp tôi xin bảo lãnh người, vì khoảng một phần ba trong số sinh viên bị bắt là người của họ.

Sở dĩ tôi đề cập đến cuộc biểu tình chống bầu cử Tổng Thống vào năm 1971, là để chứng minh một điều:

-Tổng hội Sinh Viên Đại học Huế là một chiến trường Tình báo, Gián điệp của mọi cơ quan tình báo VNCH hợp lực đấu trí với Tinh báo Việt Cộng tại đó.

Tôi trở lại đối tượng cuối cùng của Hoàng Kim Loan trong điệp vụ của hắn:

VI- Đối tượng Phật Giáo.

Viết lại những gì đã xảy ra trong một thời đại nhiễu loạn từ 6/1966 – 9/1972 của Huế và Phật Giáo, mà trong đó tôi là người đã tham dự trực tiếp với chức vụ là Trưởng ty CSQG Thừa thiên và Thị Xã Huế và cũng là người bắt và thẩm vấn tên Trung Tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan, thuộc Cục TBCL Cộng Sản, uỷ viên Thành ủy Huế, không ngoài mục đích kể lại những sự thật cho những ai chưa biết và muốn biết, những gì đã xảy ra cho Huế và Phật Giáo, mà đạo diễn chính là Bộ chính trị Trung ương đảng Cộng Sản Hà Nội, và người thi hành công tác đó là Thích Trí Quang và Hoàng Kim Loan.

Trong một khoảng thời gian khá dài gần hai mươi năm cài người xâm nhập, nằm vùng, trong hàng ngũ phật giáo, dùng ‘Phật Giáo làm ngọn cờ’ gây ra bao cuộc bạo loạn chính trị cho chính quyền miền nam Việt Nam, để hổ trợ cho lực lượng quân sự của chúng trong kế hoạch xâm chiếm miền nam Việt Nam.

Có thể nói tín đồ Phật Giáo ở Huế chiếm gần 2/3 dân số. Trước 1963, phật giáo đồ tại Huế là một lực lượng thuần nhất, tổ chức chặt chẽ, hầu như không tham gia vào các sinh hoạt chính trị, mà chỉ lo việc tu đạo. Trong mọi gia đình ở Huế ngoài bàn thờ tổ tiên ông bà, nhà nào cũng có bàn thờ Phật, các thầy đối với họ là những thần tượng đạo đức tuyệt đối, lời các thầy dạy sao, tín đồ nghe theo không phản đối, không tranh luận. Đó chính là yếu huyệt mà Hoàng Kim Loan đánh vào. Hắn chỉ cần tuyển mộ, cầm nắm những nhân vật quan trọng trong tổ chức Phật Giáo, từ khuôn hội các xã, quận, lên đến Tỉnh Giáo hội, và một số Thượng Tọa, Đại Đức làm việc cho hắn là xem như hắn đã làm chủ cả lực lượng Phật Giáo tại Huế.

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung10.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 9/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 9

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

I- Đối Tượng Cảnh Sát Quốc Gia.

* 1)- Thiếu tá Quân lực VNCH Lê Cảnh Thâm, Trưởng ty CSQG tỉnh Quảng Trị.

Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Trị 1966 đến sau Mậu thân 1968. Hiện tại là Chi Khu Phó chi khu Hương Trà. Trước khi tôi bị bắt, đương sự đã có lệnh thuyên chuyển BTL/Tiền Phương Quân Đoàn I, phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân. Lê Cảnh Thâm có người anh ruột là Lê Cảnh Xuân tự là Nam Đen, Quân hàm Thiếu Tá Quân Báo. Tôi móc nối Thâm hoạt động từ khi hắn còn là Trung Sĩ phục vụ tại phòng 2 Sư Đoàn. Sau đó hắn được chuyển qua cho cơ quan Quân Báo điều khiển. Qua tiền bạc của cơ quan Quân báo, hắn đút lót cho cấp chỉ huy, hắn được đề nghị gởi đi học khoá Sĩ Quan Đặc Biệt tại Nha Trang, ra truờng mang cấp Chuẩn úy. Đến 1966, nhờ thế lực hắn được đề cử đi làm Trưởng ty CSQG tại tỉnh Quảng Trị. Trong suốt thời gian này cơ quan Quân Báo hầu như không giao cho hắn một công tác đặc biệt nào, để hắn lún sâu, nằm yên. Cho đến tháng 2/1972 cơ quan Quân báo cho người tiếp xúc với hắn và giao công tác, người tiếp xúc với hắn thời gian gần đây nhất, chính là Thiếu Tá Quân Báo Lê Cảnh Xuân tự Nam Đen, anh ruột hắn.

* 2)- Nguyễn văn Cán, quận trưởng Cảnh Sát. (Commissioner).

Trưởng Ty CSQG Thị xã Huế, sau 1963 đến tháng 5-1966. Nguyễn văn Cán có người anh ruột quân hàm Đại Tá Quân Báo Cộng Sản, em ruột lại là Thiếu Tá Tế, thuộc đơn vị Truyền tin Quân Đoàn I/ QLVNCH. Nguyễn văn Cán được móc nối hoạt động qua quan hệ gia đình, hoạt động sau 1963, trực thuộc Cụm Tình báo Chiến Lược. Trước trận đánh Mậu Thân 1968, Tôi (HKLoan) đã trú ngụ tại nhà Quận Cán nhiều lần.

* 3)- Đoàn Công Lập.

Trưởng Ty CSQG Thừa Thiên và Thị Xã Huế từ tháng 7/1966 đến 2/1968 sau Mậu Thân. Đoàn Công Lập nguyên cán binh Trung Đoàn 95 chính quy Việt Cộng, phục vụ tại đơn vị Quân Báo. Vào 1953 trong cuộc hành quân mang tên Camargue của quân đội Pháp khai diễn taị vùng Vân Trình đến An Hội, từ sông Mỹ Chánh ra đến biển, vùng ‘Dãy phố buồn hiu’ [tên này do lính Pháp đặt], kéo dài đến Thanh Hương, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc 2 quận Phong Điền và Quảng Điền nằm về phiá Bắc Tỉnh Thừa Thiên.

Hai Trung Đoàn 101, và 95 Chính quy Việt Cộng bị tổn thất nặng nề. Đoàn công Lập ra đầu hàng với quân đội Pháp trong trận này tại vùng Thanh Hương. Sau. 1954 trở về Huế sinh sống bình thường, nghề cuối cùng trước khi làm Trưởng Ty Cảnh Sát là phóng viên thể thao, tường trình các trận đấu banh tại Huế. Truớc 1963 theo chỉ thị của cơ quan, tôi (HKLoan) móc nối Đoàn Công Lập hoạt động trở lại. Đoàn công Lập khôn ngoan đã gia nhập một đảng chính trị nổi tiếng chống Cộng để làm bình phong. Đến tháng 7/1966 được tiến cử làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên- Huế.

Hoàng kim Loan nói tiếp:

– Tôi là cán bộ điều khiển của Đoàn Công Lập. Chúng tôi thiết lập 2 trạm liên lạc, một ở nội thành và một ở ngoại thành.

* Trạm liên lạc nội thành: Nhà và cũng là văn phòng khám bệnh của Bác sĩ Hoàng Bá, nằm ngay đầu cầu Nam Giao, trên đường Phan Chu Trinh, quận 3 thành phố Huế. Bác sĩ Hoàng Bá là cơ sở đường dây nội thành.

* Trạm liên lạc ngoại thành: Đặt tại vùng Cầu Lim, là Chùa… Từ thành phố Huế đi lên qua khỏi Đàn Nam Giao, vừa qua khỏi Cầu Lim phía trái có con đường nhỏ, cuối đuờng này là ngôi chùa. Trụ trì chùa này là cơ sở đường dây ngoại thành. Trong suốt thời gian gần hai năm Đoàn Công Lập làm Trưởng Ty, chúng tôi hầu như làm chủ ty Cảnh Sát. Qua Đoàn Công Lập, mọi hoạt động chìm, nỗi của Cảnh Sát chúng tôi đều biết trước, rõ ràng và tường tận. Ngoài ra cơ quan chúng tôi đã có kế hoạch đẩy hắn xâm nhập vào cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế, qua ngõ Văn phòng Cố Vấn CSĐB. Chúng tôi đã cung cấp cho Đoàn Công Lập một số tin tức có giá trị cao như Nghị Quyết mới nhất của Trung Ương Đảng, báo chí và nhất là một số tài liệu quan trọng có giá trị để hắn thường xuyên cung cấp cho Văn Phòng Cố Vấn CSĐB.

Đối với Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Tại Huế chúng tôi giao cho Đoàn Công Lập các tài liệu liên quan đến mọi hoạt động của Phật giáo Ấn Quang, Đảng phái Chính trị như: Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng, Cần Lao.v v… Tóm lại là những tin tức tình báo và chính trị mà 2 cơ quan này cần, với mục đích để hắn mỗi ngày mỗi tiếp cận và tạo uy tín khả năng tình báo của hắn với 2 cơ quan trên. Hy vọng trong tương lai gần, Tình báo dân sự Hoa Kỳ sẽ tuyển mộ hắn. Trong Mậu Thân 1968, nhiệm vụ chính của Đoàn Công Lập là chiếm giữ Đài phát thanh Huế hợp pháp, chờ đợi lực lượng Giải phóng kiểm soát toàn bộ thành phố Huế thì đài phát thanh sẽ phát đi lời kêu gọi của chính quyền Cách Mạng Thành phố Huế và những thông tin cần thiết.

Với 3 cơ sở Hoàng Kim Loan vừa khai báo, tôi yêu cầu hắn dừng ngang đó, để hắn có thì giờ viết lại. Trong 3 cơ sở, chuyện về Quận Cán đã quá thời gian tính, sau Mậu Thân chính Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cho bắt quận Cán và giao cho Trung Tá Cường, Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng. Trung tá Cường là 1 đại sư phụ trong ngành An Ninh Quân Đội. Ông hoạt động trong ngành tình báo, kể cả tình báo hải ngoại, từ lúc còn Trung úy trong thời Đệ I Cộng Hoà. Giữ chức vụ Trưởng Ty ANQĐ Đà Nẵng trong 11 năm, bản chất ngang tàng, không sợ trời mà cũng chẳng sợ đất, rất hợp với Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Thiếu Tướng Loan giao cho ông vụ Quận Cán là đúng người, đúng việc.

Trường hợp của Thiếu Tá Lê Cảnh Thâm và ông Đoàn Công Lập. Việc đầu tiên sau lời khai của Hoàng Kim Loan, tôi yêu cầu Văn Phòng Cố Vấn CSĐB gởi 1 chuyên viên và máy đo sự thật ra Huế. Sau cuộc trắc nghiệm với máy đo sự thật xác nhận lời khai cuả HK Loan là đúng.

**[ Máy đo sự thật là một loại máy đo dựa trên căn bản hoạt động của nhịp đập tim và hoạt động thần kinh não bộ của người bị đo, để ghi nhận sự biến đổi và phản ứng của hai bộ phận này. Người bị đo máy được hỏi những câu hỏi rất ngắn, gọn, một số là câu hỏi vu vơ, một số là những câu hỏi cần biết đương sự có nói dối hay không, và người bị hỏi chỉ trả lời: Có/Không, Yes/No. Ví dụ: Anh Tên là Loan phải không? Yes. – Anh có 2 con, 1 gái,1 trai phải không? Yes. – Anh đặt chuyện để vu khống cho Ông Thâm, Cán và Lập phải không? Nếu hắn nói láo thì phản ứng tự nhiên để chống lại câu hỏi đó được phát hiện trên một biểu đồ hình Sin trong toán học, qua máy đo vì sự biến đổi của nhịp tim mà máy có thể ghi lại trên biểu đồ trong khoảng 1/ bao nhiêu ngàn giây đồng hồ.]

Mặc dầu cho đến ngày nay máy đo sự thật vẫn không đuợc chấp nhận có đủ tư cách pháp lý làm bằng chứng để buộc tội, nhưng các cơ quan Tình báo họ tin máy này còn hơn tin Tổng Thống của họ. Bây giờ tôi đủ 3 dữ kiện để có thể hành động ngay mà không sợ lầm lẫn:

Lời khai của HK Loan đã được thâu băng.

Lời khai do chính hắn viết tay.

Kết quả máy đo sự thật.

Tôi ký giấy bắt giữ Thiếu Tá Lê Cảnh Thâm, thẩm vấn sơ khởi trong vòng 24 giờ, sau đó giải giao đương sự cho Thiếu tá Truật, Trưởng Ty ANQĐ Thừa Thiên-Huế, ‘Tuỳ nghi’. Tôi cho lệnh bắt giữ Bác Sĩ Hoàng Bá, và cơ sở trạm giao liên ở chùa gần Cầu Lim. Riêng Ông Đoàn Công Lập, đây là một trường hợp rất khó cho tôi, mặc dầu ông hoạt động cho địch, nhưng dù sao ông cũng là ông Chief cũ của tôi trong 2 năm. Khi ông thay Thiếu tá Phạm Khắc Đạt làm Trưởng ty, tôi vẫn là Phó Trưởng ty CSĐB làm duới quyền ông Lập. Bây giờ nếu tôi ký lệnh bắt ông ta, tôi chẳng biết tôi là loại người gì? Lương tâm, tình cảm và nhiệm vụ, tôi phải chọn đường nào?

Tôi hỏi ý kiến phụ Tá của tôi Đại Úy Trương Công Ân Trưởng Phòng CSĐB. Có thể nói trong BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, ngoài tôi ra, Ân là người xếp hàng thứ hai khi trực diện đối đầu với đám giặc cỏ Việt Cộng, chúng tôi chẳng bao giờ tương nhượng và lùi bước một ly tấc nào. Hắn đúng là Sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt thứ thiệt, loại sĩ quan nòng cốt của Lực lượng CSQG.

Trả lời câu hỏi của tôi, hắn nói:

– Thường ngày đụng việc, nhất là đối với đám Việt Cộng, anh cứng ngắc. Sao đối với chuyện này anh yếu xìu? Có gì đâu, tội hắn còn nặng hơn Việt Cộng, Trưởng ty CSQG mà làm nội tuyến. Nếu tôi là anh, tôi ký giấy bắt ngay.

Hắn dứt câu, tôi thấy có tí hổ thẹn trong lòng, tôi nói để chống đỡ:

– Thì đó, vì mình là người quốc gia, nhiều khi tình cảm yếu đuối thật.

Cuối cùng tôi chọn giải pháp trình Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sàigòn xin BTL thụ lý vụ ông Đoàn công Lập. Tôi nhẹ người, trút được gánh nặng ngàn cân.

Ngày hôm sau, 21-5-72, tôi tiếp tục nói chuyện với HK Loan. Hắn khai tiếp những cơ sở nội tuyến của Tổng Cục 2 Quân Báo và Cụm TBCL trong các đơn vị quân lực VNCH. Tôi chỉ nêu một hai nhân vật điển hình như sau:

II- Đối tượng QLVNCH

* 1)- Thiếu tá Phan Huê.

Thiếu Tá Phan Huê là Chỉ huy trưởng Quân bưu cục (KBC) tại Huế. Cán bộ tình báo Việt Cộng điều khiển Thiếu tá Huê chính là Hoàng Kim Loan. Công tác chính của Thiếu tá Huê là sao chép, chụp hình những thư từ và các tài liệu quan trọng được chuyển qua hệ thống KBC, và chuyển lại cho Hoàng Kim Loan.

* 2)- Một Cựu Thiếu Tuớng QLVNCH (xin được miễn đề cập danh tánh và chi tiết nội vụ)

Ông này bị cơ quan Quân Báo Việt Cộng móc nối hoạt động từ khi còn mang cấp Tá. Cán bộ tình báo Việt Cộng điều khiển là Đại Tá quân Báo Việt Cộng Hà Văn Lâu.

* 3)- Một Trung Tướng Quân Lực VNCH còn tại chức vào năm 1972 (Xin được miễn nêu danh tánh và chi tiết nội vụ).

Cán bộ Tình Báo Việt Cộng đầu tiên được lệnh của cơ quan Cục TBCL /VC điều tra sưu tập toàn bộ lý lịch để mở đầu mối xâm nhập, tổ chức ông Trung Tướng này, chính là hắn, HK Loan. Sau đó Hoàng Kim Loan được lệnh chuyển giao toàn bộ đầu mối xâm nhập này lại cho Cục TBCL tại Hà Nội điều khiển, hắn không còn biết thêm gì nữa.

Hắn vưà dứt lời khai, toàn thân tôi như có một luồng hơi lạnh chạy suốt từ chân đến đầu. Tôi ngồi yên bất động. nếu quả đúng, thật là một đại họa, một tai ương, bất hạnh quá lớn cho quốc gia, và cho tập thể Quân Lực VNCH. Tôi dừng cuộc thẩm vấn, để HK Loan viết lời khai. Tôi trở về BCH gọi Ân, hai anh em cùng bàn soạn với nhau:

– Ân, mình phải cẩn thận hết sức. Có thể hắn khai thật, nhưng cũng phải đề phòng. Hắn là một con cáo già đã thành tinh đội lốt người trong giới Tình báo. Hắn dùng mình để gây xáo trộn, lũng đoạn, nghi ngờ trong nội tình Chính phủ, và cũng để hủy diệt mình. Bây giờ mình đi gặp chuyên viên đo máy sự thật yêu cầu họ soạn thảo thật nhiều và chi tiết các câu hỏi liên quan đến vụ này, yêu cầu đo máy chiều nay. Nếu mọi lời khai của hắn đúng, làm phiếu trình Thiếu Tướng Tư Lệnh. Tôi không thể rời nhiệm sở lúc này. Anh thay tôi, sáng mai lấy chuyến bay sớm nhất vào gặp Đại Tá trưởng khối CSĐB của anh, trình bày rõ ràng, để ông trình Thiếu Tướng Tư Lệnh, chuyện này ngoài tầm tay của mình.

Cuộc đo máy sự thật được thực hiện ngay chiều hôm đó và kéo dài khoảng gần 2 giờ. Kết quả chuyên viên cho biết lời khai của Hoàng Kim Loan thành thật.

* 4)- Một Nhân viên ngườì Việt Nam (Xin được miễn nêu danh tánh)

làm tại phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ tại Huế là tình báo viên của Cục Tình Báo Chiến Lược Việt Cộng. Khi HK Loan khai báo về người này, tôi được Văn Phòng Cố Vấn CSĐB yêu cầu giữ kín nội vụ.

III- Đối tượng Chính quyền.

* 1)- Cựu Trưởng Ty Nội An Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế. (Đương sự hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ, xin được miễn nêu danh tánh)

Tham gia kháng chiến, 1953 được bố trí ra đầu thú để hoạt động nằm vùng. Cán bộ điều khiển người này là Hoàng Kim Loan. Trước ngày ra đầu thú chính Hoàng Kim Loan đã tặng người này chiếc áo lạnh màu lục vì khi đó thời tiết quá lạnh vào tháng 2/1953. Trong hệ thống chính quyền Tỉnh, về phương diện an ninh, Trưởng Ty Nội an Tỉnh được xếp vào hàng thứ 2, giữ nhiệm vụ quan trọng sau Trưởng ty Cảnh Sát.

Ngoài việc tiếp nhận tin tức về vấn đề an ninh do Cơ quan Cảnh sát, phòng 2 Tiểu khu, Ty An Ninh Quân đội, Ty Chiêu Hồi gởi đến trình vị Tỉnh Trưởng sở tại. Trưởng ty Nội An là tổng thư ký Hội đồng An ninh tỉnh, có nhiệm vụ nghiên cứu và đề nghị biện pháp trừng phạt, chế tài những tù nhân Cộng Sản được ty Cảnh Sát đệ nạp đưa ra Hội đồng An ninh tỉnh xét xử. Thường thì đề nghị 6 tháng, 1 năm giam giữ, hoặc vì tình hình an ninh có thể giữ đến 2 năm và tái xét. Trong Hội đồng An ninh tỉnh, Trưởng ty Nội an có thể dùng quyền hạn giảm án tối đa cho những thành phần đó. Hoàng Kim Loan dùng y trong nhiệm vụ này, và ngoài ra chuyển những tin tức quan trọng mà các cơ quan an ninh, tình báo gởi trình vị Tỉnh trưởng.

**[Hội đồng An Ninh Tỉnh gồm có: Chủ Tịch: Tỉnh Trưởng, Trưởng ty Cảnh Sát: phó chủ tịch, Trưởng ty nội an: Tổng Thư ký. Hôị viên: Trưởng ty An Ninh Quân Đội, Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu, Trưởng Ty Chiêu Hồi]

Tôi ký lệnh bắt y. Khi thẩm vấn, y chối quanh không nhận, nhưng khi nhắc lại chiếc áo lạnh màu lục của nguời bạn tặng trong tháng 2-1953, khi hắn ra đầu thú, và sau đó tôi còn cho hắn nhìn thấy Hoàng Kin Loan bằng xương bằng thịt, người bạn năm xưa, và hiện tại là cán bộ điều khiển hắn. Hắn hết chối cãi.

* 2)- Viên tùy phái của Đại Tá Tỉnh Trưởng.

Công việc thường nhật của y là đi sớm về muộn, đóng mở cửa văn phòng Tỉnh trưởng, lau bàn quét bụi, trà nuớc cho khách, sắp xếp hồ sơ tại văn phòng Tỉnh trưởng. Y phục vụ đến 3 đời Tỉnh trưởng: Đaị Tá Phan Văn Khoa, Đại Tá Lê văn Thân, Đại tá Tôn Thất Khiên. Đến đời Đại Tá Tôn Thất Khiên thì hắn mới bị phát giác và bị bắt. Nhiệm vụ mà Hoàng kim Loan giao cho y là nghe lén tin tức và đánh cắp một số tài liệu quan trọng trong văn phòng Tỉnh truởng.

* 3)- Lê Quang Nguyện. Nghị viên Hội Đồng Tỉnh Thưà Thiên.

Lê quang Nguyện là cơ sở lâu đời mà Hoàng Kim Loan gài nằm vùng trong Phật Giáo. Bị bắt cùng một lần với HK Loan.

* 4)- Nguyễn khoa Phẩm,Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh Thưà Thiên.

Nguyễn Khoa Phẩm có người chị ruột là Nguyễn Khoa Diệu Hồng, Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Việt Nam tại Hà Nội. Nguyễn khoa Diệu Hồng là thành phần tín cẩn của Hồ chí Minh, được Hồ Chí Minh nhận làm… em nuôi… (…!!!) . Nguyễn khoa Phẩm là cơ sở nội thành của Hoàng Kim Loan, nằm trong tổ trí thức vận

IV- Cơ sở Trí Thức Vận và Lực Luợng “Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng”.

Cơ sở Trí vận và lực lượng “Học sinh, Sinh viên Giải Phóng” của HK Loan mà hắn kê khai tôi có thể viết đến cả trăm trang giấy cũng không hết. Hầu hết những thành phần giáo sư, học sinh , sinh viên chủ chốt trong trong vụ Phật Giáo tranh đấu Miền Trung vào năm 1966 đều là cơ sở trí vận và lực lượng học sinh sinh viên Giảỉ Phóng của Hoàng Kim Loan. Những người này tôi đã đề cập đến trong bài Biến Động Miền Trung đăng trong các số báo trước, tưởng không cần nhắc lại. Ngoài số cơ sở cũ đó.

Hoàng Kim Loan bổ túc thêm những nhân vật sau đây:

* 1)- Giáo Sư Châu Trọng Ngô.

Ông là giáo sư toán lâu đời tại trường Quốc Học. Những thế hệ học trò Đệ nhất B (ban toán), từ những năm 57- 61, hầu như tất cả đều là học trò của thầy Châu Trọng Ngô. Tôi cũng nằm trong số đó. Ông là giáo sư toán lâu đời tại trường Quốc Học mà cũng là cơ sở trí vận nằm vùng lâu đời của Hoàng Kim Loan. Ông có người em ruột bạn cùng lớp với tôi tại trường Quốc Học. Tôi nhớ không lầm thì vào năm đệ nhị hay đệ nhất, tôi không còn gặp người bạn đó trong lớp nữa. Năm 1997 Đại sứ nuớc Cộng Hoà Xã hôi chủ Nghiã Việt Nam tại Thái Lan là đại Sứ Lê Mai. Đại Sứ Lê Mai chính là người bạn học đã vắng bóng mà tôi vừa đề cập, chính là em ruột của Giáo Sư Châu Trọng Ngô. Có lẽ khi vào bưng anh ta đã thay tên đổi họ để khỏi liên lụy đến gia đình. Tôi và Đại Úy Ân đều tránh không gặp ông tại Trung tâm Thẩm vấn, vì cả hai chúng tôi đều là học trò ông. Trung úy Nguyễn thế Thông, Trung tâm trưởng trung tâm thẩm vấn đảm trách chuyện đó. Chỉ 2 tuần sau kể từ ngày bị bắt, tôi ký giấy trả tự do cho ông theo lệnh BTL/ CSQG tại Saìgòn vì Bộ Quốc gia Giáo Dục can thiệp với BTL Cảnh Sát. Tôi có thể viện nhiều lý do để không thả ông trong lúc đó, nhưng thôi, tình nghĩa thầy trò.

* 2)- Giáo Sư Lý Kiều.

Ông ta là cơ sở trí vận của Hoàng Kim Loan, nằm vùng lâu đời nhất từ năm 1954, mãi đến tháng 5-1972 mới bị bắt. Ông ta là bạn thân nhóm trí vận Tôn thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, cùng ở chung và sinh hoạt với nhau tại Liên Khu IV, tức vùng Nghệ An, Thanh Hóa, trước hiệp định Geneva. Sau năm 1954 vào Huế, sống nghề dạy học. Truớc ngày bị bắt ông là giáo sư tại trường Trung học Nguyễn Du, Huế.

Sau 1975, ông ra tranh cử chủ tịch Phường Thành Nội, nhưng thua phiếu một phu đạp xích lô. Đây là nỗi đau cuả người trí thức đi lầm đường. Có lẽ ông quên câu nói của Mao Trạch Đông: ‘Giá trị của đám trí thức còn thua giá trị một bãi phân?.

* 3)- Lý Văn Bút.

Con trai Lý Kiều, cơ sở tình báo của cơ quan an ninh Tỉnh,Thị ủy Thừa Thiên-Huế. Cán bộ điều khiển là Nguyễn Mậu Huyên, tức Bảy Lanh thường được gọi là anh Bảy. Bảy Lanh là con nuôi chủ tiệm thuốc Bắc Thiên Tường ở đường Duy Tân cạnh chợ An Cựu. Bảy Lanh là Trưởng ban An Ninh Tỉnh Thị ủy Thừa Thiên Huế. Bảy Lanh và cha nuôi hắn Thiên Tường là hung thủ bắn, giết và chôn sống hàng trăm đồng bào vô tội trong Quận 3 (Hữu Ngạn) vào Mậu thân 1968.

Lý văn Bút nguyên giáo sư bị gọi động viên, cấp bậc cuối cùng Trung úy QLVNCH, được biệt phái trở lại đi dạy tại trường Trung học Hàm Nghi- Huế. Một câu chuyện liên quan đến hoạt động của Lý Văn Bút đã trải qua gần 37 năm, quá đủ thời gian tính để giải mật và cũng để giải tỏa nghi vấn cho đám giặc cỏ Việt Cộng, bọn chúng tìm tòi mà vẫn không có đáp số đúng. Vào đầu tháng 4-1970 cơ quan Tỉnh ủy Thừa Thiên phái một nữ cán bộ từ cơ quan ở vùng gần Tà Bạt, A Lưới thuộc quận miền núi Nam Hoà về Huế công tác và mua một ít vật dụng cho cơ quan, trong đó cần mua một máy đánh chữ. Người nữ Cán bộ nầy tên là Nguyễn Thị Gái. Sau nhiều ngày Nguyễn thị Gái đến được làng Đình Môn, mặt tiền lăng Vua Gia Long, vượt nguồn tả sông Hương, qua làng Vỹ Dạ thuộc Nam Hoà, điểm hẹn là làng Gia Lê Thượng, thuộc quạân Huơng Thủy, sẽ có giao liên nội thành đón vào thành phố.

Giao liên nội thành đến điểm hẹn đúng giờ và chở Nguyễn thị Gái bằng xe Honda vào thành phố. Người giao liên nội thành đó chính là Lý văn Bút, giáo sư trường Trung Học Hàm Nghi và cũng là Trung úy QLVNCH biệt phái. Từ Dạ Lê Thượng vào thành phố Huế chỉ là một đoạn đường ngắn, nhưng trước khi vào thành phố lại có một trạm kiểm soát rất chặt chẽ của lực lượng CSQG/Thừa Thiên Huế, được tăng cường và phối hợp một số Quân Cảnh để kiểm soát cả dân sự và quân nhân, đó là trở ngại và là mối lo lớn của Lý văn Bút. Nhưng Lý văn Bút không biết rằng có hai người còn lo hơn hắn, đó là tôi, và Đại úy Trương Công Ân, Trưởng phòng CSĐB, mặc thường phục, cũng chở nhau bằng xe Honda chạy sau Lý Văn Bút để hộ tống cho Nguyễn Thị Gái, vì Nguyễn Thị Gái là cơ sở nằm vùng của chúng tôi. Cũng may, Lý văn Bút và Nguyễn thị Gái qua lọt trạm kiểm soát, nếu bị chận hỏi lôi thôi, thì một trong hai chúng tôi phải can thiệp ngầm để Nguyễn thị Gái khỏi bị bắt, như vậy có thể bại lộ công tác. Sau mười ngày, Nguyễn thị Gái trở lên cơ quan với nhiều vật dụng trong đó có chiếc máy đánh chữ. Khoảng 2 tuần sau đó, những trận mưa bom liên tục trút xuống khu vực cơ quan Tỉnh ủy Thừa Thiên. Những đợt oanh tạc này đã gây thiệt hại nặng nề nhân mạng, và cơ sở cho Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhưng ngược lại chúng tôi cũng bị thiệt hại: Nguyễn thị Gái cơ sở nằm vùng của chúng tôi đã hy sinh.

Địa điểm trú đóng của Tinh Ủy Thừa Thiên bị phát giác và và các phi cơ không lực HK oanh tạc rất chính xác, tại sao? Câu hỏi bao nhiêu năm mà bọn giặc cỏ Việt Cộng vẫn thắc mắc, tìm hiểu, mà không bao giờ có giải đáp đúng, thì giờ đây là câu trả lời: – Chiếc maý đánh chữ do chúng tôi cung cấp hiệu Oliver, một máy phát làn sóng lên thẳng được chuyên viên kỹ thuật ngoại quốc khéo léo đặt trong máy đánh chữ. Máy phát làn sóng lên thẳng này vận hành trên căn bản cũng giống như máy của các đơn vị biệt kích nhảy toán, hoặc các phi công thường dùng để định vị trí khi cấp cứu, chi tiết hơn thì tôi không rõ. Khi tôi giao máy đánh chữ cho Nguyễn thị Gái và bí mật hộ tống Nguyễn thị Gái vào vùng Dạ Lê để trở lại mật khu, là lúc máy bay không thám của HK bắt đầu bao vùng theo dõi và ghi nhận làn sóng, sau đó là cuộc oanh kích dữ đội của không lực HK vào cơ quan Tỉnh Ủy Việt Cộng.

V- Đối tượng Học Sinh, Sinh Viên.

Chủ trương của Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội, do Hoàng Kim Loan thực hiện, là dùng lực lượng Học Sinh, Sinh viên làm… “Ngòi nổ” cho mọi cuộc dấy loạn, gây rối, bất ổn, xáo trộn chính trị tại miền Nam Việt Nam, và tạo những suy sụp, đổ vỡ cho nhiều chính phủ VNCH. Học sinh, Sinh viên là một trong những lực lượng chủ lực của mọi cuộc xách động biểu tình, lên đường xuống đường triền miên, xảy ra từ khi manh nha lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đến khi giựt xập nền Đệ I Cộng Hoà vào năm 1963, kéo dài cho đến cuộc nổi loạn miền Trung năm 1966 của Thích Trí Quang/Hoàng Kim Loan, và tiếp tục gây rối đến thời Đệ II Cộng Hoà, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, mà Huế là trung tâm điểm xuất phát. Từ sau năm 1963, hằng tháng, hằng năm, hằng loạt các cuộc biểu tình lên đường, xuống đường, đình công bãi thị chống đối chính phủ, cái gì cũng chống, từ chống tàn dư “Mật vụ Nhu Diệm, dư đảng Cần lao”, “Đạo pháp lâm nguy”, chống chiến tranh, đuổi Mỹ về nước, chống Quân sự học đường, chống bầu cử độc diễn, và cuối cùng chống luôn cả 17 triệu dân miền Nam vì họ không chấp nhận chế độ Cộng Sản.

Mọi cuộc biến động chính trị tại Huế trong thời gian này đều xuất phát từ Trung Tâm gây rối Từ Đàm, từ tiểu thương chợ Đông Ba, và từ đám cơ sở nội thành Học sinh, Sinh viên Giải Phóng, nằm trong Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế. Tổng Hội Sinh viên Đại học Huế biến thành đấu trường Gián điệp giữa Quốc gia và Cộng sản, giữa Chính phủ và các phe nhóm đối lập, kẻ nào cầm nắm được Tổng hội SV kẻ đó có thể hướng dẫn một phần nào Tổng Hội SV đi theo con đường mình muốn. Hai lực lượng chính đối đầu nhau trong mục tiêu Tổng hội SV Đại học Huế:

1- Lực lượng địch gồm có:

Tổng Cục 2 Quân Báo Cộng Sản Hà Nội .

Cục Tình Báo Chiến Lược Cộng Sản Hà Nội.

Ban An ninh Quân khu Trị Thiên .

Ban An ninh Tỉnh, Thị Ủy Huế, Điệp viên VC Trung Tá Hoàng Kim Loan, và Thích Trí Quang.

2- Lực lượng ta gồm có:

Phủ Đặc ủy Trung ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hoà

Cảnh Sát Quốc gia Thưà Thiên-Huế.

An Ninh Quân Đội .

Đơn vị 101 Quân báo tại Huế.

Tình báo Dân sự Hoa Kỳ.

Mọi cơ quan tình báo của địch và ta đều có sách lược riêng để xâm nhập, cài người vào. Mục tiêu của cả hai phe Quốc, Cộng tại Đại Học Huế là Ban chấp Hành Tổng Hội Sinh viên, từ Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên đến phó chủ tịch, Tổng thứ ký và hội viên trong ban chấp hành. Bên nào nắm được Ban chấp hành Tổng Hội Sinh viên, bên đó ở thế thượng phong. Từ 1963 đến 1966, Hoàng Kim Loan và Thích Trí Quang chủ động mọi hoạt động của Tổng hội Sinh Viên Đại Học Huế. Từ chủ tịch Sinh Viên đến toàn bộ ban chấp hành Tổng hội Sinh Viên hầu hết là cơ sở nội thành Việt Cộng và là người của Trí Quang, bọn họ chỉ huy đám sinh viên nòng cốt này để phát động mọi cuộc gây rối loạn tại Huế.

Điển hình là những sinh viên dưới đây:

Nguyễn Đắc Xuân, SV Sư phạm.

Hoàng Phủ Ngọc Phan, SV Y khoa.

Nguyễn Thiết tức Hoàng Dung, SV Luật Khoa.

Phạm Thị Xuân Quế, SV Y khoa.

Tôn Thất Kỳ, SV.

Hoàng Văn Giàu, SV.

Phan Chánh Dinh tức Phan Duy Nhân, SV.

Bửu Chỉ, SV.

Nguyễn Hữu Châu Phan, SV.

Hoàng Thị Thọ, Nữ sinh Đồng Khánh.

Trần Quang Long , SV Sư Phạm.

Võ Khuê, SV Văn Khoa.

Phạm Cần , SV Y khoa.

Trần văn Hoà, SV Cao Đẳng Mỹ Thuật.

Trần Minh Thảo, SV Sư phạm.

Trần Hoài, SV Sư phạm.

Hồ Cư, Sinh viên ban Sử địa.

Và quá nhiều…

Biến động miền Trung 6-1966, một số trong đám này bị lực lượng CSQG/Thừa Thiên- Huế bắt giữ, một số khác chạy thoát lên mật khu, để rồi Mậu Thân 1968, bọn chúng trở vào Huế, trả mối hận xưa, bắn giết không nương tay hàng ngàn người dân Huế. Một số khác trong đám này bị bắt trong chiến dịch Bình Minh 5/1972, và đưa ra tạm giữ tại Côn Sơn.

Từ sau 1968 đến 1970, ban chấp hành Tổng Hội sinh viên Đại Học Huế có một số sinh viên của chúng tôi lọt vào được ban chấp hành Tổng hội, trong đó có 2 sinh viên là Sĩ Quan Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ là 2 trong 8 Sĩ Quan Cảnh Sát vừa mới ra trường từ Học viện Cảnh Sát Quốc Gia, được thuyên chuyển ra Huế, bổ sung cho phòng CSĐB. Tôi chọn 2 sĩ quan này, dáng dấp thư sinh, một nguời đã có một chứng chỉ Đại học và người kia cũng đã học Đaị học được một năm. Từ sau buổi trình diện tại BCH, không còn ai biết họ là Sĩ quan CSĐB, ngoại trừ tôi và Đại Úy Ân. Họ thường gặp chúng tôi tại “nhà an toàn”, để trình báo công tác và nhận chỉ thị. Họ đã trở thành sinh viên Đại Học Huế, hàng ngày chăm chỉ đến giảng đường Đại Học như mọi sinh viên khác. Với khả năng chuyên môn được đào tạo kỹ lưỡng từ Học viện CSQG, lần hồi họ đã lọt vào được ban chấp hành tổng hội Sinh viên và giữ chức vụ quan trọng. Vì thế chúng tôi nắm rất vững mọi hoạt động của đám sinh viên cơ sở nội thành, dưới quyền lãnh đạo của Trung tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan ???..

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung09.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment

Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) – Tác Giả: Liên Thành 8/_

Biến Động Miền Trung

(trích từ website Biệt Động Quân)

Tác Giả: Liên Thành

Phần 8

L.T.S : Cuộc “cách mạng” 1-11-63 thành công, làm xáo trộn tình hình chính trị, đồng thời đưa đến những hệ lụy không hay cho nhân dân miền Nam, mà khởi đầu là biến động miền Trung – Sự kiện này đã làm lộ rõ những tham vọng, những mưu đồ bất chính của những con người đội lốt nhà tu, những tướng lãnh, chính trị gia hoạt đầu – Những người này đã cố ý hoặc vô tình bị cán bộ cộng sản nằm vùng sai khiến, làm tay sai cho chúng phá hoại, để rồi sau đó chúng cưỡng chiếm miền Nam

Có những sự thật mà chưa được ai nói đến, các nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này mỗi lúc một già, mỗi ngày một qua đi, đem theo những bí mật về bên kia thế giới, mai đây các thế hệ sau lấy đâu tra cứu .

Chúng tôi được tác giả Liên Thành, một người sinh ra và lớn lên rồi phục vụ ở cố đô Huế, ông là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, đã nắm vững tình hình từ sau ngày 1-11-63 vì khi đó ông đã phục vụ, đã tham dự vào những sự kiện lịch sử này, nay kể lại cho mọi người cùng nghe.

Ban Biên Tập cũng minh xác: chúng tôi không hề có ý đả phá bất cứ tôn giáo nào, cụ thể là Phật Giáo. Xin đừng hiểu lầm vì nhiều nhân sự trong loạt bài này là những đảng viên cộng sản, trà trộn vào hàng ngũ chư tăng, đội lốt nhà tu để hoạt động cho mục đích riêng của họ. Hơn nữa ông Liên Thành là một Phật tử thuần thành. Gia đình ông có truyền thống đạo đức lâu đời, chú và anh ruột của ông là hai vị thượng Toạ, đức cao, vọng trọng tại Huế, nên ông cũng rất cẩn trọng về việc này và không muốn bị đánh giá không đúng về những điều ông công bố.

TS/BĐQ

***

9 giờ 30 sáng ngày 10-5-72 sau đợt pháo kích lần thứ 2, Trung úy Uyên, phụ tá trưởng phòng Tư Pháp đang đứng nói chuyện với tôi ngoài sân cờ BCH ông ta bỗng nóí với tôi:

– Đại úy, ông cho phép tôi về thăm nhà một tí, mấy ngày nay cấm trại không về nhà.

– Được, ông đi đi, chiều tối về, không cần gấp.

Tôi cười nhìn ông tiếp:

– Mấy ngày cấm trại, nhớ vợ rồi phải không?

– Không đâu Đại uý, thăm nhà một chút tôi về ngay.

15 phút sau, Việt Cộng pháo đợt thứ 3. Lần này nặng hơn, 30 quả 130 ly rớt vào vùng BTL tiền phương Quân Đoàn I và vùng hồ Tịnh Tâm. Tôi chạy vào TTHQ Cảnh Lực để theo dõi tình hình và nghe báo cáo thiệt hại. Trên hệ thống máy tuần tiễu tôi nghe giọng của Đại Uý Đoàn Đích la lớn hốt hoảng:

– Trình thẩm quyền. . . . Trung úy Uyên chết rồi, một quả pháo 130 nổ gần ông taị hồ Tịnh Tâm.

Tôi bóp chặt ống liên hợp máy Motorola trả lời:

– Tôi nhận rõ.

Tôi buông ống liên hợp đứng im lặng sững sờ, tự nhiên thấy cay mắt và mặn ở môi, thì ra tôi chảy nước mắt. Chỉ 15 phút trước, phải chi tôi không cho ông đi, hoặc nói chuyện với ông thêm vài phút nữa thì ông đâu đến nỗi tử vong.

Ngày 11-5-72 Đại úy Ân trình tôi một loạt lời khai của Hoàng Kim Loan, đọc xong tôi trả laị cho Ân và cùng có nhận xét như Ân:

-Thằng nầy rất khôn, hắn khai toàn những cơ sở của hắn trong thời gian tranh đấu Phật Giáo tại Miền Trung và Mậu Thân 68. Tất cả các cơ sở đó một số lớn đã bị bắt, số còn lại đã lên mật khu hoặc đi ra Bắc. * [Số cơ sở này tôi đã đề cập trong bài Biến động Miền Trung 1966].

Chúng tôi cùng đồng ý với nhau thời gian ngoại giao đã qua, bây giờ là lúc phải tăng áp lực thật mạnh với Hoàng Kim Loan để buộc hắn phải hợp tác. Tôi thay Ân thẩm vấn Hoàng Kim Loan, lên xe đến nhà an toàn. Xe vừa rời BCH nhìn lại phía băng ghế sau thiếu mất tên đệ tử phụ trách máy truyền tin, tôi hỏi Thêm, người tài xế lái xe:

– Ông thần Ánh đâu rồi, hồi đêm lại nhậu say rồi phải không?

Cả hai tên đệ tử không trả lời tôi mà chỉ khúc khích cười.

– Ông thần Ánh làm chuyện gì nữa đây, sao hai đứa không trả lời mà lại cười.

Người lính tên Minh ngồi sau trả lời:

– Không phải hắn nhậu đâu ông ơi. Hồi đêm hắn xuống vạn đò, đò Mụ Lừ. Hắn uống càfe đen, sáng nay hắn đái ra café sữa. Hắn sợ quá đi tìm Bác Sĩ Đaị đội phó CSDC xin thuốc. Hắn sợ ông la, dặn tuị tui dấu ông. –

– Uống café có chi quan trọng mà phải dấu, tại sao uống café đen mà lại đái ra cafésữa, bọn bây nói chuyện gì ta không hiểu chi cả.

– Ông thiệt không hiểu?

– Hiểu thì hỏi tụi bây làm chi.

– Hồi đêm hắn xuống đò Mụ Lừ chơi bời. Gặp em gái hậu phương bị lậu, hắn dính vào, sáng ni bị đái ra mủ, hắn bị lây bệnh lậu.

– Chết cha, bệnh lậu đó có lây không? Nói hắn nghỉ 1 tuần chữa bệnh cho lành rồi hãy đi làm.

– Bệnh đó không lây. Chỉ đàn ông, đàn bà làm chuyện đó với nhau thì mới lây. Nhưng bị thì sợ và mất tinh thần lắm, đái vừa ra mủ, vừa rát vừa đau, khủng khiếp lắm.

– Mi cũng rành quá hả, tụi bây bị rồi phải không?

– Tụi em thằng nào cũng qua đoạn đường chiến binh đó rồi. Không qua đoạn đường chiến binh làm sao trở thành lính chiến được. [Tất cả đám cận vệ của tôi đều là quân nhân biệt phái, họ là lính tác chiến bị thương, biệt phái sang Cảnh sát]. Hắn cười.

Xe gần đến nhà an toan, bỗng tôi nói với người đệ tử:

– Thêm, quay xe trở về BCH.

Nhiều khi chỉ là một câu chuyện vu vơ, như chuyện tên đệ tử đi chơi bời bị bệnh lậu mà lại giúp được việc lớn.

Một ý tưởng đến thật nhanh trong đầu tôi, thật tồi bại, hạ cấp, nhưng biết làm sao hơn, khi tôi đã đối xử với Hoàng Kim Loan bằng luật giang hồ của Chánh phái, nhưng không có kết quả, bây giờ tôi phải dùng luật giang hồ của Tà phái. Tự cổ chí kim đã có biết bao nhiêu nguời quyền cao chức trọng bị rơi vào bẫy ‘Mỹ nhân kế’ cuả của đối thủ mà thân bại danh liệt, trong giới tình báo cũng thuờng dùng loại này, nhưng tôi sẽ dùng, không phải là ‘Mỹ nhân kế’ mà là ‘Tình dục kế’ với tên Việt Cộng Hoàng Kim Loan.

Tôi quay điện thoại gọi Trung úy Tuất, Biệt đội trưởng Biệt đội Hình Cảnh qua BCH gặp tôi, nhưng tình cờ lại gặp ngay Nguyễn văn Quan, Trưởng ban Bài trừ Mãi dâm, đúng là người tôi muốn gặp.

– Anh sang BCH gặp tôi, tôi có chuyện cần nhờ anh.

Nguyễn văn Quan, tay này tuổi trẻ, 23 tuổi dáng dấp thư sinh, trắng trẻo đẹp trai hơn tài tử phim Hồng Kông nhiều. Con nhà thế gia. Nguyễn văn Quan là tay chơi thứ thiệt, năm học Đệ I, Quốc Học, tôi làm thầy dạy kèm cho hắn, học thì nhác nhưng chơi thì không ai địch hắn nổi. Tôi và hắn thân tình như anh em ruột, lớn lên hắn vào Cảnh Sát lại gặp tôi, thật là oan gia. Tôi đặt hắn vào Trưởng ban Bài trừ Mãi Dâm thật là đúng chỗ. Hắn gặp tôi tại văn phòng, tôi hỏi hắn:

– Trong đám các chị em ta bị anh bắt, có người nào dáng dấp coi được, tuổi chừng 25 – 26?

Hắn trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên:

– Có 5 ngưòi, trong đám đó có một em trông ngộ lắm, khoảng 25 tuổi, người Nam, mới từ Saigòn ra Huế mấy tuần thì bị bắt. Đang làm phiếu trình chờ anh ký lệnh tống xuất khỏi Huế, nhưng em này bị bệnh, nhẹ thôi.

– Sao anh biết?

– Mấy thằng đệ tử của tôi dính rồi.

– Tôi muốn em này, anh đem sang đây gặp tôi được không?

Hắn nói lớn trong phòng:

– Thiên hạ ơi! Thầy tu phá giới.

– Nói nhỏ thôi, đám tà lọt ngoài cửa nghe hết bây giờ, anh suy nghĩ bậy bạ rồi phải không? Vụ nầy là ‘Điệp Vụ’ thứ thiệt đấy !!!

Một giờ sau, Nguyễn văn Quan đem cô gái đến văn phòng tôi. Thoạt nhìn, không thể tưởng tượng nổi đây là một cô gái làm nghề mãi dâm. Cô ta còn rất trẻ, dáng dấp hiền lành, điểm đặc biệt là người Nam mà lại có mái tóc thề. Vừa bước vào trông thấy tôi, cô ta sợ sệt đứng sát vào người Nguyễn văn Quan.

– Không có chi phải sợ, cô ngồi xuống đi. Cô tên gì, mấy tuổi?

– Dạ thưa quan Đại Tá, em 25 tuổi, tên Thu Cúc. Em ở Cần Thơ mới ra Huế có mấy tuần thì bị bắt.

– Tôi không phải là Quan Đại Tá, mà Đại Úy, Trưởng Ty Cảnh Sát. Tôi có tí việc cần nhờ cô gíúp, nếu cô hoàn tất được công việc này, tôi sẽ tha cô, cho cô vé máy bay và một ít tiền về lại Cần Thơ, chịu không?

– Dạ được. . . dạ chiụ.

– Cô nấu ăn được không?

– Dạ được, đàn bà con gái ai mà chẳng biết nấu ăn, em nấu theo kiểu người Nam.

– Nam, Bắc, Trung gì cũng được, không phải là chuyện chính. Chúng tôi có một người bạn trên 50 tuổi, nhiều năm rồi chỉ ăn chay chứ không chịu ăn mặn, anh em chúng tôi cá với nhau ai làm cho hắn chịu ăn mặn thì người đó thắng cuộc, cô giúp chúng tôi được không?

– Dạ dễ, em làm được. Như vậy ông nầy tu tại gia, ông ăn chay sao lại bắt ăn mặn làm gì, tội ông ta.

– Sao cô biết tu tại gia?

– Dạ em có người anh cả, tu tại gia, đạo Cao Đài. Ông ăn trường chay.

Nguyễn văn Quan, thằng cha đại ba trợn, hắn chen ngay vào:

– Không phải đâu em gái ơi! Không phải ăn chay, ăn mặn thứ thiệt như em nghĩ đâu, mà ăn mặn là thứ em thường nằm sấp, nằm ngửa với khách hàng đó, hiểu chưa em.

Cô gái thẹn thùng, có một tí mắc cở hiện trên khuôn mặt. Thì ra trong tận cùng đáy lòng của một cô gái giang hồ còn giữ được bản chất của một nguời phụ nữ.

– Dạ, tưởng gì chứ chuyện đó em làm được, nghề của em mà.

Nguyễn văn Quan lại chen vào:

– Thì đúng rồi, tên em là Thu Cúc, nói lái đi một tí, đúng là nghề của em.

– Dễ mà khó, cái khó là làm sao cô dụ được ông ta.

– Dạ được, em bảo đảm.

– Vậy tốt. Tôi cho cô thời hạn 1 tuần. Trong thời gian này, cô sẽ ở với ông ta, nấu ăn cho ông, và ban đêm ngủ lại. Cô thành công, chỉ một lần với ông ta cũng được, tuần sau cô sẽ nhận được vé máy bay và một ít tiền để về lại Cần Thơ. Có một điều quan trọng là cô không được nói cô là ai, không được nói đã gặp tôi, nếu ông ta có hỏi cô, cô chỉ nói ngưòi trong nhà thuê cô đến giúp việc mà thôi. Nếu cô nói ra, sẽ không đựợc về lại Cần Thơ mà còn bị giữ lại lâu lắm. Cô lặp lại đi, lời tôi vừa dặn cô.

Cô gái lặp lại gọn gàng và rõ ràng. Cô gái ngập ngừng, bẽn lẽn nhìn tôi:

– Thưa Đại Úy có điều này em muốn thưa với Đại úy.

– Cô nói đi.

– Em bị bệnh, đang uống thuốc, gần lành rồi.

– Tôi biết rồi, xong việc, tôi cho bác sĩ khám bệnh chữa cho cô. Yên tâm đi !

Chiều ngày 11-5-72 Hoàng Kim Loan được nhân viên an ninh thông báo:

– Kể từ nay sẽ có ngươì nữ đến giúp việc, lo cơm nước cho ông, khỏi cần bới xách bất tiện. Ông muốn ăn gì cứ việc nói với người giúp việc.

Lẽ đương nhiên, đây là một trò ấu trĩ, hạ cấp, người binh thường còn đặt nghi vấn, huống gì hắn là một tay cáo già lão luyện trong nghề tình báo, hắn nghĩ đây là « Mỹ nhân kế » mà tôi sắp đặt, chắc hẳn trong lòng hắn nghĩ thằng ‘Đại úy Công An Ngụy’ quá trẻ con chơi trò này, đời nào hắn có thể bị vướng vào bẫy. Nhưng hắn không ngờ, đây không là mỹ nhân kế mà là ‘Tình dục kế’ do tôi sáng chế. Tuy hạ cấp, tồi bại, và bẩn thỉu, nhưng hắn không đỡ nổi, vì hắn là người trần tục, cũng tham sân si, hỉ nộ ái ố, và cũng đã từ lâu lắm không gần đàn bà, lại gặp phải ‘chị em ta’, đã biết cách khiêu khích mà còn được cố vấn và sắp đặt, thì hắn phải vào bẫy là cái chắc. Sau này, khi nghe kể lại câu chuyện, thấy tôi tỏ ý áy náy vì đã áp dụng kế sách này, bạn bè thường nói với tôi:

– Suy cho cùng, thì «Mỹ nhân kế» cũng chỉ là khởi đầu để đưa đến ‘tình dục kế’ chứ có gì «thơm tho» hơn đâu mà Thành cứ phải nghĩ ngợi?!

Trong những ngày này chúng tôi giảm giờ thẩm vấn Hoàng Kim Loan, để tạo điều kiện cho Thu Cúc ngoài giờ cơm nuớc, có cơ hội tiếp cận khiêu khích Hoàng Kim Loan. Hắn bị dồn nén từ bao nhiêu năm, nay hằng ngày được nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp, mặc áo cánh không nịt ngực, nhìn xa nhìn gần đều thấy rõ, thử hỏi Hoàng Kim Loan hắn đang nghĩ gì?

Căn nhà an toàn Hoàng Kim Loan đang trú ngụ chúng tôi đặt 3 vòng đai an ninh:

– Vòng đai an ninh tiếp cận. [trong phòng] – An ninh gần [chung quanh nhà] – An ninh xa. [cách nhà khoảng 200m]

Kể từ ngày 11-5-72. Vào mỗi buổi tối sau 9 giờ, nhóm an ninh tiếp cận có 4 nhân viên theo kế hoạch rút ra ngoài phòng, để lại bên trong chỉ còn lại Hoàng kim Loan ngủ ở chiếc giường gỗ, và em gái hậu phương Thu Cúc ngủ ở chiếc giường bố. Thời gian khiêu chiến, dụ địch đã quá ba ngày, tôi cho lệnh em gái hậu phương Thu Cúc đêm nay 14-5-72 tấn công, dứt điểm mục tiêu. Sáng ngày hôm sau 15-5-72, xem như mọi chuyện bình thường, Thu Cúc viện cớ đi chợ, gặp chúng tôi trình bày tường tận trận đánh quyết liệt hồi đêm, vì chữ nghĩa không được phép trình bày ở đây, mà chỉ có thể tóm lược kết quả trận đánh như sau: Ta và địch đánh cận chiến. Ta tấn công, địch phản công thô bạo, nhưng chỉ được hai lần rưởi thì địch đuối sức. Trận chiến kết thúc, Trung tá Việt Cộng Hoàng Kim Loan, Ủy viên Thành Ủy Huế và em gái Nam bộ, Thu Cúc, ký nghị định thư đình chiến, cùng ca bài: ‘Như có Hồ râu trong ngày vui đại thắng’. Giữ đúng lời hứa, sau khi Bác Sĩ Đaị đội phó CSDC khám bệnh, chích thuốc và cho cô ta một số thuốc trụ sinh chữa bệnh, tôi cám ơn cô ta và cho cô ta số tiền hai mươi ngàn (do văn phòng Cố vấn CSĐB yểm trợ), trưởng ban Bài trừ mãi dâm đưa cô ta ra phi trường Phú Bài đi chuyến bay sớm nhất về Saigon.

Thu Cúc ra đi không một lời từ biệt Trung Tá Loan, nhưng cô em đã gởi lại cho Trung Tá Loan một kỷ niệm khó quên, đó là bệnh… Trong hai ngày kế tiếp, Đại úy Ân cho gia tăng số giờ thẩm vấn, các thẩm vấn viên luân phiên hỏi Hoàng kim Loan bất cứ chuyện gì, chuyện trên trời, dưới đất, không đâu vào đâu, mục đích làm cho hắn rối loạn, đuối dần, cộng thêm Ân cho hắn xem những tấm hình đã chụp lén hắn vớí đám cơ sở của hắn từ trước khi hắn bị bắt, và những tấm ảnh chụp các cơ sở quan trọng của hắn hiện đã bị bắt và đang bị thẩm vấn.

Cũng trong 2 ngày này, chúng tôi sắp xếp để một vài người bạn cũ của hắn, từng hoạt động với hắn trong Cục Quân Báo và Cục TBCL, đã rời bỏ hàng ngũ, hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của chính quyền VNCH đến thăm hắn. Hoàng Kim Loan bị giao động mạnh, tình thần sa sút. Đến ngày 18-5-72 thì hắn gục ngã, mất hết bản năng tự vệ, đối kháng. Hắn nói với nhân viên an ninh, xin phép cho hắn gặp Bác sĩ khám bệnh, vì không hiểu sao đã gần 2 ngày nay, ‘cái đó’… của hắn bị sưng, đi tiểu rát và đau lắm, chẳng biết bệnh gì.

Đại úy Ân, trưỏng phòng CSĐB đến gặp hắn và đưa điều kiện:

– Trung tá Loan, trong hơn tuần nay, tôi và ông Trưởng ty đã đã đối xử với ông rất đàng hoàng, nhưng ngược lại ông vẫn dẫn chúng tôi đi vòng quanh, những tin tức của ông cung cấp hoàn toàn vô giá trị, nếu không nói là quá cũ, đã mất thời gian tính. Đã đến lúc phải đặt điều kiện trao đổi với nhau – Bác sĩ sẽ đến khám bệnh và chữa trị cho ông, ngược lại chúng tôi phải nhận được những tin tức có giá trị, đứng đắn và không mất thời gian tính.

Trong khi đó Bác Sĩ Hồ, Đại đội phó CSDC/102 gặp tôi:

– Bác sĩ, tôi cần anh chữa bệnh cho một người, hắn bị bệnh nhưng chưa cần chữa dứt hẳn, chỉ cầm chừng.

– Ông Ty lại chơi trò gì nữa đây, sao lại không chữa cho lành luôn?

– Thằng này Việt Cộng thứ hạng nặng đã bị mình bắt, hắn bị em gái hậu phương Thu Cúc cấy ‘Sinh tử phù’ vào người hắn, hắn bị rồi. Anh chữa cầm chừng, mình cần làm áp lực với hắn.

– Tôi hiểu rồi, chuyện dễ, tôi chỉ cho chích và uống thuốc nhẹ thôi, thì bệnh hắn sẽ kéo dài, không nặng, không nhẹ, đến khi nào có lệnh của ông, tôi chữa lành ngay. Bệnh này thường lắm, nếu chỉ nóng sốt, đau nhức ở chỗ đó, khó tiểu và có tí mủ.

– Đúng là bệnh của hắn. Tôi sẽ gọi anh bất cứ khi nào, nhanh nhất là ngày mai để cùng đi gặp hắn. Đúng như dự tính, ngày hôm sau 19-5- 72, Hoàng Kim Loan xin gặp tôi, tôi gọi Bác Sĩ Hồ cùng đi, gặp bệnh nhân. Trung tá Loan có vẻ dè dặt khi thấy một người mặc sắc phục rằn ri CSDC mang cấp Đại úy, tôi giới thiệu với Hoàng Kim Loan:

– Bác sĩ Hồ, Đại úy Cảnh Sát, Đại đội phó đại đội CSDC của tôi. Ông là Bác sĩ thứ thiệt, tốt nghiệp Đại Học y khoa Huế, hành nghề đã hơn 1 năm, Bác sĩ đến để khám bệnh cho ông. Tôi ra ngoài để Bác sĩ Hồ khám bệnh cho hắn, nửa giờ sau Bác sĩ Hồ trở ra nói với tôi:

– Tôi khám cho hắn rồi, bị sốt nhẹ, tôi chích cho hắn 1 mũi và cho hắn uống thuốc rồi, khi nào ông muốn hắn lành bệnh tôi chỉ chữa vài ngày là xong. Tôi phịa chuyện vì hắn ở dơ lâu ngày nên bộ phận đó hiện đang bị nhiễm trùng nặng, hơi nguy hiểm, phải chữa trị liên tục một vài tuần thì mới khỏi. Tôi trực ở Đaị đội, ông gọi là có ngay, tôi về trước.

Tôi và Ân vào phòng gặp Hoàng Kim Loan, hắn ở trong tình trạng bệ rạc, xuống dốc cả về thể xác lẫn tinh thần, một phần vì bị thẩm vấn liên tục, bị rúng động mạnh khi xem hình ảnh của hắn, của đám cơ sở nòng cốt đã bị bắt, vì lời khuyên của những đồng chí cũ đã đến thăm hắn, vì bệnh… đang hành hạ hắn. Quan trọng nhất là sự chờ đợi quân Giải phóng vào thành phố Huế, đã 7 ngày qua mà chẳng thấy đâu, và cuối cùng là cuộc Tổng nổi dậy tại Huế do hắn cầm đầu đã bị lực lượng CSQG Thưà Thiên- Huế đập nát từng mảnh vụn, bẻ gãy kế hoạch của hắn ngay từ trong trứng nước, hắn và đám người của hắn giờ đây mang thân cá chậu chim lồng. Nỗi thất vọng hiện rõ trên khuôn mặt hắn. Ân nhắc tôi:

– Anh đừng bắt tay hắn, hắn đang bị bệnh… đó.

Tôi không bắt tay hắn, nhưng hỏi ngay:

– Sao rồi Trung Tá Loan, ông muốn gặp tôi? Những gì ông yêu cầu tôi đã làm cho ông, bây giờ đến phiên ông.

– Tôi đã suy nghĩ nhiều, và quyết định ngày hôm nay muốn gặp ông Trưởng ty để cung cấp một vài tin tức, tôi nghĩ ông Trưởng ty đang cần. Ngược lại tôi có những điều kiện sau đây:

1- Tôi xin được bảo vệ an ninh tối đa, tôi nghĩ cơ quan chúng tôi đã biết tôi bị bắt, vì thời gian ấn định cuộc Tổng nổi dậy do tôi lãnh đạo đã trôi qua, tôi không liên lạc được với cơ quan. Mặt khác, bên ngoài các cơ sở nội ngoại thành của chúng tôi đang bị lùng bắt, tất nhiên họ nghĩ tôi đang bị khai thác và tiết lộ những tin tức quan trọng, hậu quả họ sẽ tung lực luợng trinh sát tìm kiếm tôi để thủ tiêu bịt miệng. Trước đây vào khoảng ngày 2-5-72 đã có 3 toán Trinh sát đột nhập vào thành phố Huế rồi, những toán trinh sát này họ có cơ sở riêng, có thể tìm ra tôi bất cứ khi nào. Nơi này hoàn toàn không an ninh, ngày hôm qua khi ông Trưởng ty cho tôi gặp những người bạn cũ của tôi, tôi không tin tưởng ở họ. Nơi này đã bị lộ, tốt hơn ông Ty nên dời tôi qua một địa điểm khác ngay, càng sớm, càng tốt.

2- Xin đừng bắt giữ vợ con tôi, họ là những người vô tội, không dính dấp gì đến những hoạt động của tôi, và cũng xin ông Ty bảo vệ cho họ. Tôi sợ cơ quan tôi sẽ có hành động đối với họ.

3- Bây giờ còn quá sớm, nhưng tôi xin nói trước, tôi muốn đổi sang quy chế Hồi chánh viên.

Tôi trả lời ngay cho hắn:

– Cả 3 yêu cầu của ông đều nằm trong quyền hạn của tôi, không có gì trở ngại. Điều kiện thứ 2 về vợ con ông, ông yêu cầu hơi thừa, tôi nhắc lại cho ông rõ và sẽ chẳng bao giờ đề cập nữa: Vợ con ông vô tội, họ an toàn, liên hệ gia đình với người Cộng sản không là tội, ngay tôi muốn làm khó dễ họ cũng không được. Luật pháp VNCH bảo vệ, che chở họ. Chúng tôi là nhân viên công lực, là lực lượng CSQG, những người thừa hành luật pháp quốc gia, bổn phận của chúng tôi là phải bảo vệ họ, huống gì tôi không hề có ý nghĩ làm khó họ. Ông yên tâm đi, ông muốn gặp họ khi nào cũng được cả. Tôi diễn giải thêm cho hắn yên tâm

– Tôi cũng đồng ý với ông, căn nhà này không còn an toàn nữa, chúng tôi đã nghĩ đến điều đó. Tối nay, Đại úy Ân sẽ đổi nhà cho ông. Ông có nhận xét rất đúng và kịp thời, chuyện ông bị bắt đã lộ, vì quá thời gian tính, cơ quan ông, họ đã biết ông bị bắt, đương nhiên họ đang tìm kiếm ông. Đường về của ông đã bị bọn họ khóa chặt, ông đã bị họ loại, vì sau khi ông bị bắt, hầu hết các cơ sở quan trọng của ông, của ban an ninh Quân Khu Trị thiên, của 2 ban an ninh Tỉnh Ủy và Thị Ủy Thừa Thiên Huế đều bị bắt giữ. Thử hỏi tại sao? Họ nghĩ ông đã tiết lộ, và ông là kẻ phản bội. Đối với một cơ quan Tình báo, nhất là cơ quan Tình báo Việt Cộng của ông, kẻ phản bội sẽ lãnh hậu quả tàn khốc như thế nào, ông hiểu rõ hơn tôi nhiều – Đường về đã bị bít kín, không còn nữa, tại sao không ở lại với chúng tôi?

Nghề nghiệp của ông và tôi đều tạo cho mình đa đoan, mưu lược và quỷ quyệt, đương nhiên ông chưa hẳn đã tin tôi, và tôi cũng vậy, vì thế tôi nói trước để ông hiểu: Mọi tin tức của ông sẽ được thâu băng, và cũng do ông viết trên giấy trắng mực đen. Sau đó chúng tôi sẽ phối kiểm qua các nhân viên của chúng tôi hiện đang nằm trong hàng ngũ các ông, và cuối cùng qua hệ thống máy đo sự thật (Test Polygrap) mà chúng tôi sẽ đo trên người ông, tôi mong ông hiểu đuợc điều đó.

Hoàng Kim Loan trả lời tôi:

– Tôi hiểu rõ điều đó ông trưởng Ty.

– Mọi chuyện đã thông suốt, rõ ràng, và minh bạch. Bây giờ những điều gì ông muốn cho tôi biết, ông có thể bắt đầu.

– Tôi sẽ nói những gì trong phạm vi cuả tôi và những gì ngoài phạm vi của tôi mà tôi biết được qua nhiều đối tượng khác nhau.

http://www.chinhnghia.com/biendongmientrung08.htm

May 28, 2009 Posted by | Biến Động Miền Trung (trích từ website Biệt Động Quân) - Tác Giả: Liên Thành, biendongmientrung | | Leave a comment